CHƯƠNG 3KẾ TOÁN CƠ SỞ DỒN TÍCH CÓ ĐIỀU CHỈNH: BAO HÀM VAI TRÒ CỦA SỐ DƯ QUỸ VÀ ỦY QUYỀN NGÂN SÁCHKhi người dân trở nên quan tâm đến chính phủ của họ thì chính phủ sẽ trở nên có trách nhiệm giải trình hơn, xã hội chúng ta trở nên mạnh hơn, nhiều chế độ hơn và được tổ chức tốt hơn trước những thách thức trong tương lai. Arnold Schwarznegger, thống đốc thứ 38 của CaliforniaChắc chắn là có những người không đáng tin cậy trong chính quyền địa phương, nhưng trong chính quyền quốc gia cũng sẽ có. Richard M. Nixon, tổng thống thứ 37 của Mỹ và là tổng thống duy nhất từ chức.Mục tiêu nghiên cứu:• Mô tả các tài khoản cơ bản được sử dụng trong các quỹ chính phủ.• Xác định các điều kiện ghi nhận các khoản doanh thu và chi tiêu theo cơ sở dồn tích có điều chỉnh.• Phân loại các quỹ đối với các quỹ của chính phủ.• Lập các bút toán ghi sổ cho chu kỳ chi tiêu sử dụng cho cả tài khoản ngân sách và tài khoản hoạt động.Nét đặc biệt dễ phân biệt nhất của kế toán công đó chính là việc sử dụng cơ sở dồn tích có điều chỉnh (và đo lường các nguồn lực tài chính). (1) Mặc dù việc sử dụng cơ sở dồn tích có điều chỉnh bị giới hạn trong một loại quỹ (là các quỹ chính phủ) và duy nhất các báo cáo quỹ, nhưng không có nghĩa là nó không quan trọng. Chúng ta nên chú ý rằng mỗi mục đích chung của chính phủ sẽ có ít nhất một quỹ chung (General fund) và nguồn quỹ chung thì thường là lớn nhất khi tính các khoản mục chi tiêu của chính phủ. Hơn nữa, do hầu hết thuế doanh thu thì được ghi nhận vào nguồn kinh phí chung và nguồn kinh phí khác của chính phủ, do đó các nguồn kinh phí này được quan tâm đặc biệt bởi những người nộp thuế.(1)Dồn tích có điều chỉnh được sử dụng xuyên suốt cả chương này để trình bày cho cả đo lường các nguồn lực tài chính và cơ sở dồn tích có điều chỉnh của kế toánTrước khi mô tả chính xác cơ sở dồn tích có điều chỉnh là gì, có thể hữu ích để mô tả cái gì không phải cơ sở dồn tích có điều chỉnh. Cơ sở dồn tích có điều chỉnh không giống cơ sở tiền. Các quỹ chính phủ ghi nhận các khoản phải thu (ví dụ như thuế phải thu) và doanh thu trước khi thu tiền, điều đó không đúng với cơ sở tiền. Tương tự chính phủ ghi nhận các khoản nợ phải trả (ví dụ lương phải trả) và chi phí phát sinh khi phải trả chứ không đợi đến khi thanh toán thực sự diễn ra.Cơ sở dồn tích có điều chỉnh cũng không đơn thuần là phiên bản của cơ sở dồn tích, Sự khác nhau duy nhất của chúng đó là việc ghi nhận tài sản dài hạn và nợ phải trả.Cơ sở dồn tích có điều chỉnh là hệ thống riêng biệt của kế toán công, chứa đựng các yếu tố của báo cáo tài chính mà không xuất hiện ở kế toán khác. Trong số đó là các khoản chi tiêu và số dư quỹ. Đồng thời, cơ sở dồn tích có điều chỉnh chứa đựng các yếu tố khác cũng sử dụng cơ sở dồn tích, như tài sản và nợ phải trả. Mặc dù doanh thu xuất hiện trên báo cáo tài chính của các quỹ dồn tích và các quỹ dồn tích có điều chỉnh, doanh thu theo các điều kiện ghi nhận khác nhau giữa hai cơ sở. Cuối cùng, không có khoản chi phí (expenses) trong quỹ dồn tích có điều chỉnh. Các phần dưới đây sẽ mô tả cấu trúc tài khoản và các tiêu chuẩn ghi nhận cho quỹ chính phủ. Cơ sở dồn tích có điều chỉnh phát triển từ yêu cầu về trách nhiệm giải trình các nguồn lực công và do đó bị ràng buộc với chức năng ngân sách. Kế toán ngân sách được minh họa trong phục lục của chương này.CÁC TÀI KHOẢN DỒN TÍCH CÓ ĐIỀU CHỈNHCác tài khoản Bảng cân đối kế toánMinh họa 31 cung cấp cấu trúc điển hình cho một quỹ công đang sử dụng kế toán dồn tích có điều chỉnh. Bảng 1 trình bày các tài khoản bảng cân đối kế toán. Bởi vì các quỹ công được báo cáo theo mục tiêu đo lường các nguồn lực tài chính ngắn hạn, tài sản dài hạn không được trình bày. Nói chung, tài sản đại diện cho tiền mặt và tài sản có thể được dự kiến sẽ được chuyển đổi thành tiền trong quá trình hoạt động thông thường. Tương tự như vậy, những quỹ này chỉ báo cáo duy nhất nợ phải trả sẽ được thanh toán bởi các nguồn lực tài chính ngắn hạn. Do đó, các khoản nợ dài hạn không được báo cáo trong các quỹ công. Các loại tài khoản, chênh lệch chưa xử lý (fund balance), là duy nhất cho các quỹ công. Không phải chủ sở hữu cũng không phải cử tri có yêu cầu pháp lý về bất kỳ phần vượt nào của tài sản quỹ so với nợ phải trả. Do đó, chênh lệch chưa xử lý (Fund balance) không giống như vốn đầu tư chủ sở hữu trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, chênh lệch chưa xử lý (Fund balance) cũng tương tự như lợi nhuận giữ lại, trong đó tất cả số dư của các tài khoản hoạt động sẽ được kết chuyển vào tài khoản này vào cuối kỳ kế toán. Về mặt số học thì chênh lệch chưa xử lý khá giống với lợi nhuận giữ lợi, nhưng về diễn giải thì rất khác. MINH HỌA 31 CẤU TRÚC TÀI KHOẢN CỦA CÁC QUỸ CÔNGBảng 1: Các tài khoản chưa được khóa sổ ở cuối năm (bảng cân đối)Tài sản Nợ phải trảTiền và tương đương tiền Các tài khoản phải trảĐầu tư Các khoản nợ dồn tíchCác khoản phải thu: Thu nhập hoãn lạiThuế được khấu trừCác khoản phải thu Chênh lệch chưa xử lýCác khoản thu từ cơ quan khác Khoản không được chi (spendable) (Due from other governments)Hàng tồn kho Các khoản bị hạn chế (Restricted)Các khoản cam kết(Committed)Tài sản hạn chế (thường là tiền) Các khoản được giao (Assigned) Các khoản chưa được giao (Unassigned)Bảng 2: Các tài khoản đã được khóa sổ vào cuối nămBáo cáo tài chỉnhCác tài khoản ngân sách Các tài khoản họat độngDoanh thu dự toán Doanh thu Thuế Phí dịch vụCác khoản phân bổ Chi tiêu Ngắn hạn Kinh phí vốn (Capital outlay) Dịch vụ nợ Nguồn tài chính dự toán khác Nguồn tài chính khác (Other financing sources ) Các khoản chuyển vào (Transfers in) Nợ tồn đọng (Debt proceeds)Nguồn chi dự toán khác Các khoản chi khác Các khỏan chuyển nhượng ra ngoài (transfer in)Nghĩa vụ nợ (encumbrances)
Trang 15 Nguyễn Thị Thùy Phương
6 Nguyễn Thị Xuân Linh
GV hướng dẫn: Ths Phạm Quang Huy
Trang 2
Trang 3
CHƯƠNG 3
VAI TRÒ CỦA SỐ DƯ QUỸ VÀ ỦY QUYỀN NGÂN SÁCH
Khi người dân trở nên quan tâm đến chính phủ của họ thì chính phủ sẽ trở nên có trách nhiệm giải trình hơn, xã hội chúng ta trở nên mạnh hơn, nhiều chế
độ hơn và được tổ chức tốt hơn trước những thách thức trong tương lai ArnoldSchwarznegger, thống đốc thứ 38 của California
Chắc chắn là có những người không đáng tin cậy trong chính quyền địa phương, nhưng trong chính quyền quốc gia cũng sẽ có Richard M Nixon, tổng
thống thứ 37 của Mỹ và là tổng thống duy nhất từ chức
Mục tiêu nghiên cứu:
• Mô tả các tài khoản cơ bản được sử dụng trong các quỹ chính phủ
• Xác định các điều kiện ghi nhận các khoản doanh thu và chi tiêu theo cơ sở dồn tích có điều chỉnh
• Phân loại các quỹ đối với các quỹ của chính phủ
• Lập các bút toán ghi sổ cho chu kỳ chi tiêu sử dụng cho cả tài khoản ngân sách và tài khoản hoạt động
Nét đặc biệt dễ phân biệt nhất của kế toán công đó chính là việc sử dụng cơ sởdồn tích có điều chỉnh (và đo lường các nguồn lực tài chính) (1) Mặc dù việc sửdụng cơ sở dồn tích có điều chỉnh bị giới hạn trong một loại quỹ (là các quỹ chínhphủ) và duy nhất các báo cáo quỹ, nhưng không có nghĩa là nó không quan trọng.Chúng ta nên chú ý rằng mỗi mục đích chung của chính phủ sẽ có ít nhất một quỹchung (General fund) và nguồn quỹ chung thì thường là lớn nhất khi tính cáckhoản mục chi tiêu của chính phủ Hơn nữa, do hầu hết thuế doanh thu thì đượcghi nhận vào nguồn kinh phí chung và nguồn kinh phí khác của chính phủ, do đócác nguồn kinh phí này được quan tâm đặc biệt bởi những người nộp thuế
Trang 4(1) Dồn tích có điều chỉnh được sử dụng xuyên suốt cả chương này để trình bày cho cả đo lường các nguồn lực tài chính và cơ sở dồn tích có điều chỉnh của kế toán
Trước khi mô tả chính xác cơ sở dồn tích có điều chỉnh là gì, có thể hữu ích để
mô tả cái gì không phải cơ sở dồn tích có điều chỉnh Cơ sở dồn tích có điều chỉnhkhông giống cơ sở tiền Các quỹ chính phủ ghi nhận các khoản phải thu (ví dụnhư thuế phải thu) và doanh thu trước khi thu tiền, điều đó không đúng với cơ sởtiền Tương tự chính phủ ghi nhận các khoản nợ phải trả (ví dụ lương phải trả) vàchi phí phát sinh khi phải trả chứ không đợi đến khi thanh toán thực sự diễn ra.Cơ
sở dồn tích có điều chỉnh cũng không đơn thuần là phiên bản của cơ sở dồn tích,
Sự khác nhau duy nhất của chúng đó là việc ghi nhận tài sản dài hạn và nợ phảitrả
Cơ sở dồn tích có điều chỉnh là hệ thống riêng biệt của kế toán công, chứađựng các yếu tố của báo cáo tài chính mà không xuất hiện ở kế toán khác Trong
số đó là các khoản chi tiêu và số dư quỹ Đồng thời, cơ sở dồn tích có điều chỉnhchứa đựng các yếu tố khác cũng sử dụng cơ sở dồn tích, như tài sản và nợ phải trả.Mặc dù doanh thu xuất hiện trên báo cáo tài chính của các quỹ dồn tích và các quỹdồn tích có điều chỉnh, doanh thu theo các điều kiện ghi nhận khác nhau giữa hai
cơ sở Cuối cùng, không có khoản chi phí (expenses) trong quỹ dồn tích có điều
chỉnh Các phần dưới đây sẽ mô tả cấu trúc tài khoản và các tiêu chuẩn ghi nhậncho quỹ chính phủ Cơ sở dồn tích có điều chỉnh phát triển từ yêu cầu về tráchnhiệm giải trình các nguồn lực công và do đó bị ràng buộc với chức năng ngânsách Kế toán ngân sách được minh họa trong phục lục của chương này
CÁC TÀI KHOẢN DỒN TÍCH CÓ ĐIỀU CHỈNH
Các tài khoản Bảng cân đối kế toán
Trang 5Minh họa 3-1 cung cấp cấu trúc điển hình cho một quỹ công đang sử dụng kếtoán dồn tích có điều chỉnh Bảng 1 trình bày các tài khoản bảng cân đối kế toán.Bởi vì các quỹ công được báo cáo theo mục tiêu đo lường các nguồn lực tài chínhngắn hạn, tài sản dài hạn không được trình bày Nói chung, tài sản đại diện chotiền mặt và tài sản có thể được dự kiến sẽ được chuyển đổi thành tiền trong quátrình hoạt động thông thường Tương tự như vậy, những quỹ này chỉ báo cáo duynhất nợ phải trả sẽ được thanh toán bởi các nguồn lực tài chính ngắn hạn Do đó,các khoản nợ dài hạn không được báo cáo trong các quỹ công
Các loại tài khoản, chênh lệch chưa xử lý (fund balance), là duy nhất cho cácquỹ công Không phải chủ sở hữu cũng không phải cử tri có yêu cầu pháp lý vềbất kỳ phần vượt nào của tài sản quỹ so với nợ phải trả Do đó, chênh lệch chưa
xử lý (Fund balance) không giống như vốn đầu tư chủ sở hữu trong doanh nghiệp.Tuy nhiên, chênh lệch chưa xử lý (Fund balance) cũng tương tự như lợi nhuận giữlại, trong đó tất cả số dư của các tài khoản hoạt động sẽ được kết chuyển vào tàikhoản này vào cuối kỳ kế toán Về mặt số học thì chênh lệch chưa xử lý khá giốngvới lợi nhuận giữ lợi, nhưng về diễn giải thì rất khác
Trang 6MINH HỌA 3-1 CẤU TRÚC TÀI KHOẢN CỦA CÁC QUỸ CÔNG
Bảng 1: Các tài khoản chưa được khóa sổ ở cuối năm (bảng cân đối)
Tài sản Nợ phải trả
Tiền và tương đương tiền Các tài khoản phải trả
Đầu tư Các khoản nợ dồn tích
Các khoản phải thu: Thu nhập hoãn lại
Thuế được khấu trừ
Các khoản phải thu Chênh lệch chưa xử lý
Các khoản thu từ cơ quan khác Khoản không được chi (spendable)
(Due from other governments)
Hàng tồn kho Các khoản bị hạn chế (Restricted)
Các khoản cam kết(Committed)Tài sản hạn chế (thường là tiền) Các khoản được giao (Assigned)
Các khoản chưa được giao (Unassigned)
Bảng 2: Các tài khoản đã được khóa sổ vào cuối năm
Báo cáo tài chỉnh Các tài khoản ngân sách Các tài khoản họat động
Doanh thu dự toán Doanh thu
Nợ tồn đọng (Debt proceeds)
Nguồn chi dự toán khác Các khoản chi khác
Các khỏan chuyển nhượng ra ngoài (transfer in)
Nghĩa vụ nợ (encumbrances)
Bởi vì chỉ các nguồn tài chính ngắn hạn được ghi nhận trong các quỹ này,chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả (fund balance) đại diện cho giá trị ròng củacác quỹ hiện tại sẵn sàng cho các khoản chi tiêu trong tương lai Tuy nhiên, cácnguồn tài chính ngắn hạn khác nhau về mức độ mà các nhà quản lý có quyền
Trang 7quyết định sử dụng trong tương lai và điều này được phản ánh bởi việc phân bổ số
dư của năm loại quỹ (khoản không được chi, các khoản bị hạn chế, khoản camkết, các khoản được giao, các khoản chưa giao)
Một công bố gần đây của GASB (GASB 54, báo cáo số dư quỹ và xác địnhcác loại quỹ) thiết lập các yêu cầu báo cáo cho khoản chênh lệch chưa xử lý Báocáo GASB 54 thiết lập 5 loại mới của chênh lệch chưa xử lý loại bỏ các loại dựtoán và không dự toán trước đó (Báo Cáo GASB 54 được yêu cầu cho kết thúcnăm tài chính vào tháng 6/2011 và sau này) Các tiêu chuẩn chỉ ảnh hưởng duynhất tới nguồn vốn của bảng cân đối của quỹ công Nó không thay đổi báo cáo tàisản ròng của các quỹ ủy quyền và ủy thác hoặc báo cáo tài chính toàn chính phủcủa tài sản ròng
Chuẩn mực mới là phản hổi của GASB đến những người tham gia thị trườngtín dụng đã tìm nhiều thông tin hơn về số dư sẵn có của các quỹ Đặc biệt các nhàđầu tư trái phiếu cũng muốn hiểu rõ phạm vi của nguồn tài chính ròng của các quỹcông bị hạn chế và bằng cách nào Ví dụ, các nguồn quỹ có thể bị giới hạn bởi cácchủ nợ, các nhà tài trợ hoặc các cấp cơ quan Nguồn lực có thể là những cam kếtthông thường bởi các đại biểu cho các hoạt động cụ thể Ngoài ra, khó khăn khôngchỉ đơn thuần là những chỉ dẫn không bắt buộc của mục đích quản trị để sử dụngcho một mục đích cụ thể Báo cáo 54 thiết lập phân loại quỹ mới để phản ánhnhững mức độ khác nhau của các giới hạn này
Nonspendable Fund Balances Minh hoạ 3-2 tóm tắt các yêu cầu báo cáo
cho khoản chênh lệch chưa xử lý theo báo cáo 54 Bước đầu tiên áp dụng cho báocáo 54 là xác định các nguồn quỹ nonspendable (bước 1 trong hình minh hoạ).Hàng tồn kho và các khoản mục trả trước xuất hiện trong các quỹ công bởi vìchúng là những tài sản hiện hữu Tuy nhiên, các khoản này là không có khả năng
Trang 8chi bởi vì chúng được sử dụng trong hoạt động chứ không chuyển đổi thành tiềnmặt Nguyên tắc của quỹ cố định có thể không được chi tiêu nhưng bắt buộc phảiduy trì thì cũng có thể xem là nonspendable Các ví dụ khác, bao gồm các tài sảngiữ để bán và các khoản phải thu dài hạn đôi khi được báo cáo trong các quỹcông
Các phần còn lại của quỹ (nợ phải trả) bao gồm tiền và các khoản có thểchuyển đổi thành tiền trong kỳ tới Các khoản không chuyển đổi thành tiền đượcphân loại dựa trên tính chất của các hạn chế mà họ sử dụng bằng cách sử dụng hệthống cấp bậc Hệ thống cấp bậc từ “restricted” cho đến “unassigned”
Restricted fund balances (item mục 2 trong phần minh hoạ) đại diện cho các
nguồn lực ròng của quỹ công bị hạn chế bởi các yếu tố bên ngoài hoặc luật
Hạn chế bởi các yếu tố bên ngoài bao gồm: điều khoản nợ (như là yêu cầucho một khoản quỹ chìm) hoặc các hạn chế áp đặt bởi pháp luật hoặc các cơ quanliên bang và tiểu bang về việc sử dụng các khoản thu liên chính phủ Hạn chếcũng có thể do thực thi các yêu cầu về mặt pháp lý rằng các nguồn tài nguyen chỉđược sử dụng cho các mục đích cụ thể Ví dụ, một số tiểu bang cho phép cácthành phố và các quận đề xuất các loại thuế đánh vào việc bán chế biến thực phẩm
và đồ uống Nếu được chấp thuận bởi các cử tri, cuộc trưng cầu ý dân thường hạnchế việc sử dụng số tiền thuế đã thu (thường với các dự án vốn) Các khoản khôngdùng hết từ thuế sẽ được hiển thị như là các khoản chênh lệch chưa xử lý bị hạnchế
Những khoản mục ròng (ví dụ như vốn chủ sở hữu) trong báo cáo tài sảnròng của quốc gia phân tài sản ròng thành 3 loại Với một ngoại lệ, những khoảnđược phân loại như tài sản ròng bị hạn chế trong báo cáo của chính phủ cũng đượcphân loại như chênh lệch chưa xử lý bị hạn chế trong báo cáo quỹ cơ bản Trường
Trang 9hợp ngoại lệ này là nguyên tắc của quỹ cố định Những khoản được phân loại làtài sản bị hạn chế theo GASB 34 và chênh lệch chưa xử lý không chuyển đổi theoGASB 54
Trang 10MINH HỌA 3-2 Biểu đồ của GASB statement 54
Báo cáo như
“Nonspendable Fund Balance”
Đây có phải là những tài sản (hàng tồn kho hoặc trả trước) không trong khoản mục có khả năng chi tiêu? Hoặc CP được yêu cầu phải duy trì nguồn kinh phí thường xuyên?
Đây có phải là số dư còn lại của các nguồn kinh phí trong nguồn kinh phí chung hay không?
Nguồn kinh phí ròng trong nguồn kinh phí chung có được chỉ định cho mục đích cụ thể hay chưa?
Số dư
âm hay dương?
Số dư
âm hay dương?
Báo cáo như
“Committed Fund Balance”
Số dư
âm hay dương?
Báo cáo như “Assigned Fund Balance”
Đây có phải là những nguồn kinh phí ròng bị hạn chế bởi luật hay
là kết quả của các yêu cầu của chủ nợ bên ngoài, đối tác, hoặc các cơ quan?
Cơ quan quản lý đã cam kết nguồn kinh phí ròng cho các hoạt động cụ thể? Có nghĩa vụ theo hợp đồng nào đang treo?
Số dư còn lại trong nguồn kinh phí
+ -
Trang 11Committed fund balance (mục 2b trong hình minh họa) đại diện cho các
nguồn lực ròng của quỹ công đã được chỉ định cho từng khoản sử dụng cụ thể Đểphân loại, các nguồn quỹ nên được chỉ định thông qua các sắc lệnh hoặc quy địnhđược ban hành bởi cơ quan có quyền lực cao nhất (ví dụ, cơ quan lập pháp, hộiđồng thành phố, hoặc hội đồng giám sát) GASB cũng đã chỉ ra rằng sự khác nhau
từ bị hạn chế cho đến bắt buộc thì phải do chính phủ áp đặt GASB 54 cũng chỉ rarằng số lượng đại diện cho các nghĩa vụ bắt buộc của chính phủ cũng nên phânloại như committed fund balance, các nguồn quỹ hiện có cũng được sử dụng chocác nghĩa vụ bắt buộc đó Các báo cáo thường không công bố các nghĩa vụ bắtbuộc nhưng nó vẫn hợp lý vì chúng là những thẩm quyền quan trọng cho nhữnghoạt động chính của chính phủ Ví dụ, chính phủ chấp thuận các hợp đồng xâydựng lớn là ví dụ tiêu biểu cho committed of the funds
Assigned fund balance (khoản 2c trong hình minh họa) đại diện cho các
nguồn quỹ ròng mà chính phủ dự định cho các mục đích cụ thể Các nguồn kinhphí được giao khác với nguồn kinh phí cam kết là nguồn kinh phí cam kết sử dụngcho các hoạt động chính của chính phủ Điểm hạn chế của nguồn kinh phí đượcgiao đó là nó có thể dễ dàng bị sửa đổi hoặc gỡ bỏ Quỹ chung so với các quỹcông, thì đây là một loại trong các loại quỹ có dư Lý do là việc chép nguồn kinhphí trong doanh thu đặc biệt, dự án vốn, nợ, hoặc các quỹ cố định là minh chứngcho việc chính phủ sử dụng các nguổn kinh phí cho mục đích cụ thể Nguồn kinhphí trong quỹ chung cũng có thể được giao cho các mục đích cụ thể nếu đó là chủ
ý của chính phủ Chủ ý này có thể được thể hiện thông qua các cơ quan quản lýbằng các phương tiện khác chứ không phải pháp lệnh, nghị quyết hoặc bởi ủy banhoặc cá nhân có thẩm quyền giao nguồn kinh phí cho các hoạt động cụ thể Cấp
Trang 12kinh phí trong quỹ chung thể hiện rõ mục đích sử dụng nhiều giới hạn hơn là hỗtrợ mục đích chung của chính phủ.
Unassigned fund balance (mục 2d trong hình minh họa) là thể loại còn lại
của quỹ chung Trong quỹ chung có thể chính phủ sẽ không báo cáo tổng số dưcủa nguồn kinh phí được giao nếu số dư cho mục đích cụ thể này nằm trong trong
số dư âm của nguồn kinh phí không được giao Số dư âm có thể xảy ra nếu chi phíchi ra cho các mục đích cụ thể lớn hơn nguồn kinh phí được giao Tuy nhiên, báocáo 54 không cho phép báo cáo âm các số dư của nguồn kinh phí restricted,committed hoặc assigned Nếu việc đó xảy ra, chính phủ nên giảm số dư củanguồn kinh phí được giao (trong nguồn kinh phí này) bằng tổng số âm Nếu thâmhụt vẫn còn khi toàn bộ nguồn kinh phí được giao đã cấn trừ hết, thì số âm còn lại
sẽ được báo cáo trong nguồn kinh phí không được giao Báo cáo 54 cũng cungcấp các hướng dẫn về phân loại quỹ cố định và quỹ không cố định Quỹ không cốđịnh là tổng số tiền dành cho kỳ kinh tế suy thoái trong tương lai Tổng số quỹ cốđịnh đáp ứng 1 số tiêu chí nhất định được phân loại như committed hoặcrestricted, nếu bị áp đặt bởi yếu tố bên ngoài hoặc luật pháp Quỹ không cố địnhthì chỉ phân được phân loại duy nhất như committed khi có pháp lệnh cụ thể quyđịnh chúng là nguồn kinh phí có thể chi tiêu Quỹ không cố định được để sẵn chotrường hợp khẩn cấp hoặc trong gian đoạn thiếu hụt thu sẽ không được phân loạinhư committed trừ trường hợp khẩn cấp hoặc điều kiện thiếu hụt cụ thể và cường
độ xảy ra thường xuyên Quỹ không cố định không đáp ứng các điều kiện trên thìđược báo cáo như nguồn kinh phí không được giao trong kinh phí chung
Minh họa 3-3 cung cấp 1 ví dụ về báo cáo số dư quỹ của thành phố Salem đãđược ví dụ trong chương 2 Lưu ý rằng bảng cân đối kế toán các quỹ chính phủ
chỉ là bảng báo cáo tài chính chịu tác động bởi statement 54.
Trang 13Các tài khoản hoạt động trên báo cáo tài chính (Financial Statement Activity Accounts)
Bảng 2 của mình họa 3-1 trình bày tài khoản hoạt động và tài khoản ngânsách cho các quỹ chính phủ Tài khoản hoạt động phản ánh nguồn quỹ và việc sửdụng quỹ; các ví dụ được đưa ra chi tiết ở chương 4 và 5 Các khoản doanh thu
và các nguồn thu khác là nguồn (hay là dòng vào) của nguồn tài chính trong khicác khoản chi tiêu và sử dụng tài chính khác thể hiện việc sử dụng (hay là dòngra) của nguồn tài chính Các nguồn doanh thu khác (Other Financing sourcesRevenues) được xác định như là tất cả các dòng thu vào khác và bao gồm thuế,phí dịch vụ và các khoản được cung cấp bởi các cơ quan như là chính quyền bang
và liên bang Do thuế và nhiều khoản doanh thu khác không liên quan đến cácgiao dịch bồi hoàn, chính phủ không thể xác định thời điểm mà tại đó các khoảndoanh thu này được tạo ra Vì thế, sự ghi nhận doanh thu xảy ra khi các nguồn lựckết quả được cho là phải vừa đo lường được vừa sẵn có cho chi tiêu của kỳ hiệnhành Sự ghi nhận doanh thu cho các dạng riêng biệt của giao dịch không bồihoàn được mô tả tiếp theo trong chương này
Chi tiêu (Expenditure) là một khoản thay thế cho cả khoản giá phí (costs) và
khoản chi phí (expenses) sử dụng trong kế toán doanh nghiệp thương mại Chi
tiêu được ghi nhận khi một khoản nợ đã xảy ra sẽ được trả bằng nguồn tài chính
hiện tại trong quỹ Các khoản chi tiêu có thể chi cho lương (ngắn hạn), mua đất,xây nhà, hoặc trang thiết bị (tài sản vốn) hay cho các khoản chi trả lãi và gốc của
nợ (dịch vụ nợ - debt service) Các khoản chuyển đi từ một quỹ sang quỹ khác
được phân loại là Chi khác (Other Financing Uses) Một ví dụ của công dụng
của tài khoản chuyển giao xảy ra khi một phần của thuế đã ghi nhận như là doanhthu của quỹ chung (General Fund) được chuyển sang một quỹ dịch vụ nợ (debtservice fund) rồi sẽ ghi các khoản thanh toán lãi và nợ gốc của nợ vay chung Quỹ
chung (General Fund) sẽ ghi các khoản thuế như là doanh thu thuế (Tax Revenue)
Trang 14và các khoản được chuyển sang quỹ dịch vụ nợ như là các khoản chi khác –
chuyển ra (Other financing Uses – transfer out) Quỹ dịch vụ nợ sẽ ghi nhận việc
nhận được khoản chuyển nhượng này như là nguồn thu khác - chuyển vào (Other
Financing Sources – Transfer in) và các khoản chi trả theo sau đó về lãi và nợ gốc
là chi tiêu dịch vụ nợ (Debt Service Expenditure) Do vậy, việc sử dụng các tài
khoản chuyển nhượng đạt được mục tiêu mong muốn rằng các khoản doanh thu
được ghi nhận trong quỹ là thu các khoản thuế (tức là Quỹ chung – General Fund)
và các khoản chi tiêu được ghi nhận trong quỹ là tiêu dùng tiền (tức là quỹ dịch vụ
nợ)
Tài khoản ngân sách (Budgetary Accounts)
Chuẩn mực GASB yêu cầu chính phủ phải trình bày một sự so sánh kết quả
dự toán và thực hiện cho quỹ General Fund và các quỹ doanh thu đặc biệt (special
Khoản này bằng số dư của hàng tồn kho trong phần tài sản của bảng CDKT
Các khoản này thể hiện nguồn lực bị hạn chế bởi các bên bên ngoài thông qua tài trợ và các thỏa thuận vay trái phiếu
Các khoản này thể hiện sự giới hạn nguồn lực bởi hội đồng thành phố như dự trữ thâm hụt doanh thu (General Fund) và các nghĩa vụ theo hợp đồng (Capital Projects fund) Khoản này bao gồm phần dư của special revenue & capital projects funds Cũng bao gồm các khoản được phân bổ trong General fund với mục đích được chỉ định (ví dụ bởi đơn đặt hàng)
Là phần dư ra của General fund
Trang 15revenue funds) với kế hoạch ngân sách đã được duyệt mang tính pháp lý Dùchuẩn mực GASB hướng dẫn định dạng của sự so sánh này, GASB không quyđịnh những thực hành kế toán ngân sách và không đòi hỏi chính phủ duy trì cáctài khoản ngân sách Các tài khoản ngân sách không xuất hiện trong báo cáo tàichính cho mục đích chung 3 Tuy nhiên, chính phủ thường ghi theo ngân sách, và
hệ thống kế toán chính phủ được thiết kế để đảm bảo tuân thủ ngân sách
3 GASB 54 loại ra khỏi báo cáo số dư quỹ ngân sách - Dự trữ cho nghĩa vụ nợ trong phần số dư quỹ của bảng cân đối kế toán quỹ của chính phủ, bỏ đi chỉ trường hợp các tài khoản ngân sách xuất hiện trong báo cáo tài chính cho mục đích chung.
Các tài khoản xuất hiện bên trái của minh họa 3-1, bảng 2 phục vụ cho chứcnăng ngân sách này của chính phủ (hơn là cho báo cáo ra bê ngoài) Một chínhphủ có thể tăng doanh thu chỉ trên các nguồn được cho phép theo luật Các điềuluật thông thường thiết lập mức tối đa của một loại thuế hoặc áp mức thuế suấtcao nhât Các khoản thu được tăng tuân theo luật trong kỳ ngân sách thì được
công bố trong một dự toán ngân sách là doanh thu dự toán (Estimated
Revenues) Nguồn tăng lên bởi chính phủ chỉ có thể chi tiêu cho những mục đích
và trong mức được duyệt bởi các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan lậppháp Điều này được biết như là qui trình phân bổ ngân sách Một dự toán cácphân bổ ngân sách, khi đưa vào luật, là sự ủy quyền pháp lý cho chính phủ để đảmnhận trách nhiệm cho các mục đích được xác định trong trong quy chế hay quiđịnh phân bổ Số tiền chi tiêu có thể không vượt số được phân bổ cho mỗi mụcđích Trong cách thức này, một ngân sách chính phủ có tác động bởi luật bằng
cách giới hạn việc chi tiêu đến các mức được duyệt Dự toán nguồn thu khác và
dự toán các khoản chi khác là các tài khoản ngân sách phản ánh dòng tài chính
vào và ra được tiên liệu trước từ các nguồn hơn là các khoản doanh thu và cáckhoản chi trả Khi một đơn mua hàng hoặc hợp đồng được phát hành đúng như ủy
Trang 16quyền của một phân bổ ngân sách, chính phủ công nhận sự cam kết này như là
một nghĩa vụ nợ (encumbrance) Một encumbrance không là một khoản nợ vì
hàng hóa hay dịch vụ hầu như chỉ mới được đặt hàng, chưa nhận được Qui trìnhmột chính phủ di chuyển từ ủy quyền ngân sách sang chi tiêu nguồn quỹ được mô
tả trong phần tiếp theo
Chu trình chi tiêu (Expenditure Cycle)
Thuyết minh 3-4 vẽ ra chu trình chi tiêu và các bút toán nhật ký tương ứngcho quỹ General Fund hay một quỹ doanh thu đặc biệt với một dự toán đượcduyệt mang tính pháp lý Để giữ mạch lạc, chúng ta giải thích các bút toán nhật ký
sử dụng các tài khoản kiểm soát cho hoạt động (doanh thu và chi tiêu) và các tàikhoản ngân sách (doanh thu dự toán, phân bổ ngân sách và các nghĩa vụ nợ -estimated revenues, appropriations, and encumbrances) Các bút toán cho tàikhoản kiểm soát sẽ được hổ trợ với các bút toán chi tiết trong tài khoản con Cáckhoản kết chuyển tổng hợp đủ để giải thích các quan điểm kế toán được chỉ dẫn.Với sự phát triển của kỹ thuật danh mục sổ xuống (drop-down) và sự phát triển kỹthuật khác, nhiều hệ thống thông tin đã ngưng việc sử dụng các tài khoản kiểmsoát Bạn có thể muốn sử dụng các tài khoản chi tiết (ví dụ doanh thu theo nguồn)khi làm các bài tập kết thúc chương
Trang 17Quy trình bắt đầu với việc hội đồng chính phủ hay cơ quan chức năng duyệtngân sách Nhìn tổng quan đầu tiên, tài khoản ngân sách có thể xuất hiện để có sự
cân đối đối ứng với những số liệu dự toán – doanh thu dự toán (Estimated Revenue) có số dư nợ và phân bổ ngân sách có số dư có Tuy nhiên bút toán được
thiết kế để phản ánh tác động được tiên đoán trước đến nguồn quỹ ròng (số dư
quỹ ngân sách - Budgetary Fund Balance) nếu mọi thứ diễn ra theo đúng kỳ
vọng Vì dự toán doanh thu và thu nhập khác vượt các khoản dự toán chi tiêu vàchi khác, số dư quỹ được kỳ vọng là tăng (credit)
Tuy nhiên nếu dự toán chi tiêu và chi khác được dự đoán vượt dự toándoanh thu và thu khác, số dư quỹ ngân sách sẽ ghi nhận nợ trong bút toán này
Nhận HH và DV
và hóa đơn được xuất trình để t/toán đểt.toán
Các BP của thành phố đặt đơn đặt hàng hóa, dịch vụ
Hội đồng thành phố
duyệt ngân sách năm
cho quỹ chính phủ
Trang 18Phụ lục cho chương này trình bày chi tiết hơn các bút toán ngân sách, bao gồmcác điều chỉnh ngân sách.
Một bộ phận của chính phủ (chẳng hạn là cảnh sát hoặc là cơ quan y tế)không thể giao chính phủ chi các nguồn đến khi nó là một ủy quyền ngân sáchđược duyệt thông qua các phân bổ ngân sách của nó Một khi sự ủy quyền đó tồntại, các bộ phận có thể bắt đầu giao các nguồn lực này bằng cách đặt các đơn muahàng hoặc là ký hợp đồng Những giao kết này được phản ánh trong các tài khoảnngân sách thông qua việc ghi nhận những nghĩa vụ nợ và số dư quỹ ngân sách
tương ứng – dự phòng nghĩa vụ nợ GASB 54 yêu cầu rằng những nghĩa vụ nợ
được công bố trong các thông báo cùng với những công bố được yêu cầu về cáccam kết khác Tuy nhiên không có báo cáo riêng các khoản nghĩa vụ nợ trongphần số dư quỹ của Bảng cấn đối quỹ chính phủ Hơn nữa, những nguồn lực đảmnhận sẽ được báo cáo trong những khoản mục giới hạn, cam kết, hoặc phân bổtheo một cách thưc phù hợp với tiêu chuẩn cho sự phân loại đó
GASB54 không cung cấp ví dụ làm hướng dẫn cho việc làm sao phân loạicác nghĩa vụ nợ Ở mức độ rất nhỏ, sự tồn tại của một nghĩa vụ nợ kiến nghị rằngchính phủ có mục tiêu được chú trọng để sử dụng những nguồn lực cho các mụcđích đặc biệt và do đó những nguồn lực này sẽ không được phân loại là không
phân bổ (unassigned) Kế toán nghĩa vụ nợ cũng có thể được sử dụng trong những
trường hợp những nghĩa vụ hợp đồng, như là hợp đồng xây dựng GASB54 yêucầu rằng những nguồn lực có nghĩa vụ theo nghĩa vụ hợp đồng được phân loại là
cam kết (commited) Chúng ta sẽ kiểm tra sự liên hệ của các khoản nghĩa vụ nợ
đến việc phân loại các số dư quỹ chi tiết hơn trong chương 4 & 5
Một khi hàng hóa và dịch vụ được nhận, chính phủ có một khoản nợ Vềđiểm này có hai bút toán nhật ký cần thiết Bút toán đầu tiên dự phòng nghĩa vụ
Trang 19nợ theo giá trị gốc Vì chính phủ có một khoản nợ thật, không còn cần phản ánhmột khoản cam kết cho đơn hàng hay hợp đồng nào còn treo Bút toán số 2 ghi
nhận nợ (Accounts Payable) và một khoản chi tiêu theo giá trị hóa đơn Nhắc lại
rằng những khoản chi tiêu đó có thể là cho những hoạt động hiện tại, tài sản vốn,hoặc là dịch vụ nợ, bao gồm chi trả lãi và nợ gốc dài hạn
Chính phủ có thể chọn không ghi nhận tất cả nghĩa vụ nợ, đặc biệt là nhữngkhoản mà có thể tương đối tiên đoán được giá trị Ví dụ: các khoản lương có thểđược ghi nhận ban đầu như là những khoản chi tiêu khi đến hạn mà không cónghĩa vụ nợ nào một cách chính thức Vào cuối kỳ ngân sách không có nghĩa vụ
nợ, phân bổ ngân sách chưa chi hết thì hết hiệu lực, nghĩa là, người quản lý khôngcòn ủy quyền gánh những món nợ dưới những phân bổ ngân sách quá hạn Tronghầu hết tất cả trường hợp, người quản lý tiếp tục có quyền chi tiêu tiền trong việcthanh toán những nghĩa vụ nợ gánh chịu về mặt pháp lý (và được ghi nhận nhưnhững khoản chi tiêu) trong một kỳ trước Tuy nhiên, những phân bổ ngân sáchgánh nghĩa vụ nợ có thể hoặc không thể tiếp tục thực hiện trong kỳ kế toán tiếp,phụ thuộc vào chính sách của chính phủ Nếu chúng không diễn ra tiếp tục và phảiđược phân bổ ngân sách lại trong năm tiếp theo, những nghĩa vụ nợ được cho là
hết hiệu lực (lapse) Bút toán ghi nhận một nghĩa vụ nợ hết hiệu lực giống như bút
toán đảo khi một hàng hóa hay dịch vụ được nhận (ghi nợ số dư quỹ ngân sách
-dự phòng nghĩa vụ nợ và ghi có nghĩa vụ nợ - kiểm soát - debit Budgetary Fund Balance—Reserve for Encumbrances and credit Encumbrances—Control)
SỰ GHI NHẬN DOANH THU CHO GIAO DỊCH KHÔNG BỒI HOÀN
Theo như kế toán dồn tích điều chỉnh, doanh thu được ghi nhận khi nó thỏamãn cả 2 điều kiện đó là có thể đo lường và có thể tài trợ cho chi tiêu của thời kì
Trang 20hiện tại Rất nhiều khoản doanh thu của chính phủ thu được từ những giao dịchkhông bồi hoàn (không hoàn lại)
Những giao dịch không hoàn lại là giao dịch trong đó chính phủ nhận đượctài sản có giá trị mà không trực tiếp đưa ra giá trị ngang bằng trong trao đổi Đây
là những trái ngược so với giao dịch bồi hoàn, chẳng hạn như mua hàng hoá hoặcdịch vụ Các hình thức phổ biến nhất của giao dịch không hoàn lại là khoản thuthuế và các khoản trợ cấp liên chính phủ Hầu hết các hoạt động của các quỹ củachính phủ được hỗ trợ bởi doanh thu được tạo ra thông qua giao dịch không hoànlại Trước khi một chính phủ có thể ghi nhận doanh thu từ các giao dịch khônghoàn lại, nó phải đáp ứng một số điều kiện đòi hỏi Các yêu cầu đó như sau:
1 Đặc điểm yêu cầu của người nhận: Người nhận phải có các đặc điểmđược chỉ định bởi người cung cấp Ví dụ, một nhà nước có thể cung cấp kinh phítrên cơ sở học sinh một trường công lập Để ghi nhận doanh thu này, đơn vị phải
là một trường công lập theo quy định của pháp luật của Nhà nước
2 Yêu cầu về thời gian: Nếu yêu cầu về thời gian (đối với chi tiêu) đượcquy định bởi nhà cung cấp nguồn lực hoặc pháp luật, phải được đáp ứng nhữngyêu cầu thời gian Ví dụ, một nhà nước có thể cung cấp kinh phí để hỗ trợ cácđiểm đỗ xe (công viên) ở các huyện cho tài chính năm tiếp theo Trong trườnghợp đó, doanh thu sẽ không được công nhận bởi các huyện cho đến khi tài chínhnăm đó Nếu bên cung cấp nguồn lực không xác định yêu cầu thời gian, thì không
có điều kiện tồn tại và doanh thu sẽ được công nhận ngay sau khi các điều kiệnđòi hỏi khác được đáp ứng
3 Sự hoàn trả Đối với những khoản tài trợ và quà tặng là có thể trả chỉ khidựa trên các khoản chi tiêu đã đủ điều kiện, doanh thu sẽ được ghi nhận khi cácchi tiêu này phát sinh
Trang 214 Sự kiện ngẫu nhiên: những nguồn lực được hứa hẹn có một sự khôngchắc chắn kèm theo không được công nhận như là khoản doanh thu cho đến khi
sự không chắc chắn này đã xảy ra Ví dụ, nếu một nhà tài trợ chỉ định rằng $100.000 sẽ được tặng để xây dựng thêm một thư viện cho thành phố khi các quỹ
có được số tiền bằng như vậy được cam kết bởi những người khác, doanh thu sẽđược công nhận chỉ sau khi $ 100.000 đã được huy động từ các nhà tài trợ khác
Minh họa 3-5 xác định bốn loại giao dịch không hoàn lại và mô tả khidoanh thu từ các nghiệp vụ này được ghi nhận theo cơ sở của kế toán dồn tích sửađổi Cột cuối cùng của minh họa 3-5 cung cấp cho đại diện các bút toán, minh họaviệc áp dụng các tiêu chuẩn công nhận và có thể đo lường được Trong một sốtrường hợp, doanh thu từ các giao dịch không hoàn lại được công nhận trong cácgiai đoạn khác nhau trong báo cáo tài chính chính phủ Vì lý do này, chúng tôi sẽxem xét lại điều này minh hoạ trong Chương 8, trong đó giải quyết việc lập báocáo chính phủ
Giao dịch không hoàn lại bắt buộc là thuế và các khoản ấn định khác áp đặtbởi các chính phủ nó không bắt nguồn từ các giao dịch cơ bản Ví dụ như thuế tàisản, các khoản ấn định đặc biệt, tiền phạt và bồi thường Một quy tắc đặc biệtđược áp dụng đối với thuế tài sản Thuế tài sản thu được trong vòng 60 ngày saukhi kết thúc năm tài chính có thể được coi là có sẵn và ghi nhận là doanh thu trongnăm ấn định, chứ không phải là năm thu Số tiền dự kiến thu được hơn 60 ngàysau khi kết thúc năm không được công nhận là doanh thu khi ấn định, nhưng đượccoi như một khoản doanh thu chậm (một khoản nợ)
Doanh thu có nguồn gốc thuế thu từ thuế dựa trên giao dịch bồi hoàn Các
ví dụ bao gồm thuế trên doanh thu bán lẻ, thu nhập, và xăng Số tiền phải trả đượcghi nhận trong khoảng thời gian giao dịch cơ bản đã diễn ra Ví dụ, doanh thu từ
Trang 22các khoản thuế do bán xăng dầu nên được ghi nhận cùng với các khoản phải thu(từ các nhà bán lẻ) trong tháng mà xăng đã được bán Doanh thu được ghi nhận tạithời điểm giao dịch bồi hoàn cung cấp tiền mặt được dự kiến sẽ được thu ngay saukhi năm tài chính hiện tại Nếu khoản thu dự kiến diễn ra sau khoảng thời gianđược coi khả thi để thanh toán nợ đến hạn (ví dụ, 60 ngày), điều này cần được ghinhận vào doanh thu chậm của kỳ hiện hành.
Trang 23Minh họa 3 -5 Phân loại và xác nhận thời gian ghi nhận doanh thu từ giao dịch không hoàn lại
Loại Mô tả và ví dụ Cơ sở dồn tích điều chỉnh
(Cơ sở của các quỹ chính phủ) Giao dịch tiêu biểu (Governmental Fund Basis Bút toán nhật ký ví dụ
Ví dụ bao gồm thuế tài sản, những khoản ấn định đặc biệt thu chủ sở hữu tài sản bao gồm phạt và bồi thường
Ghi nhận khỏan phải thu (và dự phòng cho khoản không thu được) khi tồn tại khung pháp lý.
Doanh thu được ghi nhận trong kỳ mà các khoản thuế được thu (tức là được dự toán) , nhưng cũng dựa theo quy tắc sẵn có Doanh thu từ thuế tài sản được ho là thu > 60 ngày sau kết thức năm thì đựợc hoãn lại.
1 Thuế tài sản được thu
2 Hoãn lại một phần được cho là sẽ thu được sau 60 ngày sau khi kết thúc năm
1 Thuế phải thu… Dr
Dự tính thuế không thu đựơc Cr
Kiểm sóat doanh thu … Cr
2 Kiểm soát doanh thu… Dr Doanh thu hoãn lại – thuế tài sản Cr
- Ghi chép nợ phải thu khi các giao dịch cơ bản của người nộp thuế diễn ra
Doanh thu sẽ được ghi nhận khi sẵn có và đo lường được Doanh thu không mong đợi là thu đúng thời hạn để thanh toán nợ ngắn hạn thì hoãn lại (tức là điều kiện đã xảy ra và đo lường được)
1 Thuế thu nhập hoãn lại được thu
2 Công thêm thuế thu nhập kỳ vọng được nhận sau khi hết năm
Một phần của thuế này
sẽ không được nhận đúng thời gian để sẵn
có giải quyết các khoản phải trả hiện tại
1 Tiền mặt …Dr.
Revenues Control Cr
2 Tax Receivable … Dr Revenues Control … Cr Deferred Revenues - Income Taxes …Cr
Những nguyên tắc ghi nhận thì giống nhau giữa được ủy quyền và tự nguyện Ghi nhận doanh thu khi tất cả điều kiện thích hợp theo yêu cầu trong trường hợp hoàn trả lại khoản tài trợ, doanh thu được ghi nhận chỉ khi chi tiêu đã xảy ra.
Kiểu hoàn trả lại khoản trợ cấp :
1 Xảy khoản chi tiêu đúng tính chất.
2 Ghi nhận doanh thu
1 Expenditures Control Dr Accounts Payable/Cash Cr
2 Due from grantor Dr Revenues Control Cr
3 Cash Dr Deferred Revenues—Grants Cr 4a Expenditures Control …Dr Accounts Payable/Cash Cr 4b Deferred Revenues—
Grants Dr Revenues Control Cr
ý để tham gia
Trong trường hợp tạm ứng trợ cấp từ ngân sách, ghi nhận doanh thu đủ điều kiện khi chi tiêu đã xảy ra
Tạm ứng trợ cấp từ ngân sách:
3 Nhận tạm ứng trợ cấp
4 Xảy ra chi tiêu và ghi nhận doanh thu với giá trị tương
Trang 24đương
Trang 25không bồi hoàn tự nguyện được ghi nhận là doanh thu khi đã đáp ứng các yêu cầu
và điều kiện Nói chung khi chính phủ nhận được khoản chi đủ điều kiện theo cácthỏa thuận tài trợ Một khi chi phí hội đủ điều kiện đã được thực hiện, Chính phủghi nhận doanh thu tài trợ Hai loại tài trợ khác nhau là chính phủ có khả năng từchối tham gia hay không Ví dụ, các khoản trợ cấp của chính phủ thông thường là
từ các cấp cao hơn của chính phủ (liên bang hoặc tiểu bang) được đưa ra để hỗ trợmột chương trình cần thiết Bởi vì chương trình là cần thiết, chính quyền cấp thấphơn không có sự lựa chọn để chấp nhận Ví dụ, một nhà nước có thể yêu cầu hệthống trường học để dạy cho một số sinh viên nhất định trong trường và cung cấptài chính để thực hiện nhiệm vụ này
TÓM TẮT
Trọng tâm đo lường nguồn lực tài chính ngắn hạn và cơ sở của kế toán dồntích có điều chỉnh là điểm riêng biệt đối với các quỹ chính phủ Trọng tâm là tậptrung vào dòng tài chính hơn là đo lường thu nhập Các yếu tố chính bao gồm:
- Doanh thu: Dòng tài chính vào thuần từ các nguồn khác với chuyển nhượngcác khoàn quỹ và thu tiền nợ Doanh thu được ghi nhận khi vừa có thể đo lường vàvừa có sẵn để tài trợ cho chi tiêu hiện tại
- Chi tiêu: Dòng tiền ra thuần từ các nguồn khác với chuyển nhượng cáckhoàn quỹ, được ghi nhận khi một quỹ của chính phủ phải gánh chịu một tráchnhiệm pháp lý phù hợp theo ủy quyền ngân sách được cung cấp bởi phân bổ ngânsách
- Số dư quỹ: Số dư ròng (Tài sản ít hơn nợ) của quỹ chính phủ có thể đượcphân loại là không thể chi tiêu, hạn chế, cam kết, được phân bổ, hoặc không đượcphân bổ
Trang 26kế toán được thiết kế để đảm bảo tuân thủ kế hoạch ngân sách Kế toán ngân sáchđược minh họa tại phụ lục của chương này Bây giờ bạn đã hoàn thành Chương 3,hoàn thành các câu hỏi nhiều lựa chọn được cung cấp trên trang web của văn bản(www.mhhe.com/copley10e) để kiểm tra hiểu biết của bạn về nội dung chương.
PHỤ LỤC: KẾ TOÁN NGÂN SÁCH ĐƯỢC GIẢI THÍCH
Ngân sách và các tài khoản ngân sách
Thực tế cho thấy ngân sách là dựa trên phương diện pháp lý ràng buộc từ cácnhà quản lý được thể hiện qua nhiều báo cáo tài trợ chung và đặc biệt là nguồn quỹthu nhập được bù vào hàng năm
Như đã được chỉ định trước, chính phủ được yêu cầu báo cáo sự so sánh ngânsách thực tế như là liệt kê kế hoạch trong thông tin bổ sung được yêu cầu Chínhphủ có thể quyết định cung cấp những báo cáo so sánh này như là các báo cáo cơbản hơn là một bảng kê kế hoạch Bảng kê kế hoạch cung cấp ngân sách ban đầu;ngân sách còn lại; và số lượng thực tế doanh thu, chi tiêu; và các nguồn thu và sửdụng tài chính khác Một cột chênh lệch giữa ngân sách cuối cùng và số lượngngân sách thực tế được khuyên khích nhưng không bắt buộc Định dạng của bảng
kế hoạch (hoặc báo cáo) có thể là tài liệu ngân sách, hoặc dưới dạng sử dụng trongbáo cáo doanh thu, chi tiêu và thay đổi số dư các quỹ (xem minh họa 2-16)
Bất cứ phương pháp nào được sử dụng, các khoản trong cột thực tế được báocáo trên cơ sở được yêu cầu bởi luật ngân sách, ngay cả nếu cơ sở đó khác với cơ
sở được quy định bở các chuẩn mực của GASB Ví dụ, trong vài trường hợp doanhthu phải được dự thảo dựa trên cơ sở là tiền mặt Nếu cột so sánh của dự toán vàthực tế của bảng kê so sánh kế hoạch ngân sách thực tế khác với tiêu chuẩn GASB,thì tiêu đề của báo cáo nên hiển thị Những tiêu chuẩn này dùng để so sánh ngânsách ban đầu so với lộ trình kế hoạch đề ra có chặt chẽ hay là nó tách rời nhau,