Giải pháp thẩm định tín dung
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ.Chúng ta đặt mục tiêu rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế xã hội với cácnước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đến năm 2020 trở thành nướccông nghiệp Đầu tư vào các dự án kinh tế hiệu quả được coi là chiếc chìa khoá
để mở ra thành công Hệ thống ngân hàng tài chính với chức năng là kênh dẫnvốn quan trọng bậc nhất của nền kinh tế đã tham gia đầu tư ngày càng tích cựcvào các dự án Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNTVN) cũng khôngđứng ngoài xu thế đó Nếu như trước đây, Ngân hàng Ngoại thương Việt Namthường được biết đến là một ngân hàng chuyên doanh hoạt động trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu và thường chỉ quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước lớn, thìnay với chiến dịch chuyển dịch cơ cấu, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đãnổi lên như một ngân hàng đa năng, cung cấp các dịch vụ tín dụng có chất lượngcao, tương xứng với tiềm năng của ngân hàng Cho vay theo dự án được coi là
ưu tiên trong chiến lược cho vay của ngân hàng Nhưng đây là hình thức tíndụng có độ rủi ro cao vì những đặc thù nhất định Mở rộng, nâng cao chất lượngtín dụng trung dài hạn, hạn chế rủi ro là một bài toán khó và tương đối phức tạpđối với hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung cũng nhưNgân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng
Một trong hai hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng Hoạtđộng tín dụng có chất lượng tốt hay xấu đều ảnh hưởng tới kết quả kinh doanhcủa ngân hàng, trong đó tín dụng trung và dài hạn là các khoản ngân hàng chovay với số vốn lớn, thời hạn dài và thời gian thu hồi vốn chậm, do đó, rủi ro từhoạt động tín dụng trung và dài hạn là rất lớn, nhưng làm tốt thì lợi nhuận thuđược từ tín dụng trung và dài hạn rất cao
Qua một thời gian thực tập tại Ngân hàng Ngoại thương, nhận thấy đây làmột vấn đề cấp thiết ngân hàng quan tâm và được sự giúp đỡ tận tình, em quyết
Trang 2định chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình Nội dung của chuyên đề được chia
thành ba phần chính:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng trung và dài hạn
tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân
hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương ViệtNam
CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI
HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 31.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế nóichung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các loại hìnhNgân hàng
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nềnkinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹcho toàn xã hội Thu nhập từ Ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều
hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cánhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước (thành phố, tỉnh…) Đối vớicác doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụcho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị
kỹ thuật Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoảnmua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụnghay tài khoản điện tử…Và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tàichính, họ thường đến ngân hàng để nhận lời tư vấn Các khoản tín dụng củangân hàng cho Chính phủ (thông qua mua chứng khoán Chính phủ) là nguồn tàichính quan trọng để đầu tư phát triển
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọngnhất Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ,
vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ ổn địnhkinh tế
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai
Trang 4trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Nhưng cách tiếp cận thận trọng nhất
là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà
chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ghi: “Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, ngân hàng thương mại trung gian tài chính thực hiện kinh
doanh tiền tệ Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tài chính với hoạt động chủyếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và
tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tàm thời thâm hụt chi tiêu,tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là nhữngngười bổ sung vốn; (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thunhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy
họ có tiền để tiết kiệm
Do tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngânhàng Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cảhai cùng có lợi Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tàichính giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lạivới một lượng vốn lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan
hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Đây là quan hệtài chính trực tiếp
Tuy nhiên, quan hệ tài chính trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phùhợp về qui mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát
Trang 5triển và là điều kiện nảy nở trung gian tài chính Trung gian tài chính đã làmtăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảmphí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) Trung giantài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư Cơ chế hoạt động trung gian
sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế,phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch
Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khilại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền Thực tế, các ngânhàng tham gia vào kinh doanh rủi ro Ngân hàng cũng thỏa mãn nhu cầu thanhkhoản của nhiều khách hàng
Ngân hàng là một trung gian thanh toán Ngân hàng thay mặt khách hàngthực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ với nhiều hình thức thanh toánnhư bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanhtoán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Cácngân hàng cũng thực hiện bù trừ lẫn nhau thông qua Ngân hàng Trung ươnghoặc thông qua trung tâm thanh toán Hiện nay, ngân hàng trở thành trung gianthanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia
Một lý do để ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm địnhthông tin Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin đượcgọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thịtrường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn
và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn nhữngcông cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất
Thứ hai, ngân hàng là tổ chức kinh doanh phải có điều kiện Ngân hàng
chịu sự điều hành chặt chẽ của Chính phủ hơn bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh
kế, bởi ngân hàng là thủ quỹ của cả nền kinh tế Ngân hàng muốn được cấp giấyphép hoạt động phải có một lượng vốn nhất định, cam kết thực hiện một sốchính sách nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay một khoản chi tiêu
Trang 6nào đó, đồng thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽcủa Nhà nước Muốn hoạt động tốt, ngân hàng không ngừng gia tăng nguồn vốncủa mình, tuyển nhân sự có đủ số lượng và chất lượng, có mạng lưới chi nhánhrộng khắp để đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng và thực hiện nhiềuhoạt động khác, nhằm thu được lợi nhuận lớn, hạn chế rủi ro cho cả người gửitiền và ngân hàng.
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Huy động vốn
♦ Huy động vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thường bao
gồm: vốn tự có (vốn góp), thặng dư vốn và lợi nhuận tích lũy Để bắt đầu hoạtđộng ngân hàng (được pháp luật cho phép), chủ ngân hàng phải có một lượngvốn nhất định Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành vốnban đầu khác nhau: ngân hàng nhà nước do ngân sách nhà nước cấp; Ngân hàng
cổ phần do cổ đông đóng góp; Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanhđóng góp; ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu của tư nhân Trong quá trìnhhoạt động, ngân hàng phải không ngừng gia tăng vốn chủ sở hữu của mìnhbằng: nguồn tích lũy từ lợi nhuận (chuyển một phần thu nhập ròng thành vốnđầu tư); nguồn thặng dư vốn cổ phần, nguồn bổ sung từ góp thêm, cấpthêm hoặc từ các quỹ và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần (cáckhoản cho vay trung và dài hạn)
♦ Nhận tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan
trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn tiền của ngân hàngthương mại Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có đượcnguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiệnnhiều hình thức huy động khác nhau như:
Tiền gửi thanh toán: là tiền gửi của cá nhân hoặc doanh nghiệp gửi và
nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ trong phạm vi số dư cho phép với lãisuất rất thấp hoặc có thể bằng không;
Trang 7 Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: là khoản
tiền của doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội gửi vào ngân hàng với kìhạn nhất định (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm ) với lãisuất kì hạn tương ứng Kì hạn càng cao thì lãi suất tiền gửi càng lớn.Người gửi có thể đến ngân hàng rút tiền nếu có cần một khoản tiền chitiêu, tuy nhiên chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn do không rút đúng hạn
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là khoản tiền tiết kiệm của dân cư gửi vào
ngân hàng với kì hạn nhất định Ngân hàng đưa ra nhiều hình thức huyđộng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì hạnkhác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc bằng vàng )
Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích thanh toán hộ và một
số mục đích khác ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàngkhác Tuy nhiên, nguồn này thường không lớn
♦ Đi vay từ các tổ chức khác: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêmvới các phương thức đi vay đa dạng:
Vay ngân hàng Nhà Nước: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại Trong trường hợp thiếuhụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ thanh toán), ngân hàngthương mại thường vay ngân hàng Nhà nước Hình thức cho vay chủ yếu
là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn
Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau giữa
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngânhàng Nguồn này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách vàtrong nhiều trường hợp nó bổ sụng và thay thế cho nguồn vay mượn từngân hàng Nhà nước
Trang 8 Vay trên thị trường vốn: đây là nguồn vay nợ nhằm bù đắp thiếu hụt tiền
cho vay trung và dài hạn Các ngân hàng vay bằng cách phát hành cácgiấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
♦ Huy động bằng các nguồn khác: như nguồn ủy thác, nguồn trong
thanh toán và nguồn khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả
1.1.2.2 Sử dụng vốn
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản vốn(huy động vốn) để sử dụng nhằm thu lợi nhuận
♦ Hoạt động ngân quỹ: Ngân hàng phải để một lượng tiền mặt trong két
nhất định nhằm để chỉ trả nhanh chóng khi có với các nhu cầu của khách hàng.Tiền mặt không phát sinh, do vậy, để vừa đáp ứng thực hiện mục tiêu thanhkhoản vừa tạo ra một khoản thu nhập cho ngân hàng, ngân hàng thường có mộtkhoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước, tại các ngân hàng và các tổ chức tíndụng khác
♦ Hoạt động đầu tư chứng khoán: ngân hàng thương mại nắm giữ
chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hóa tài sản Các chứng khoánngân hàng nắm giữ thường là: chứng khoán chính phủ; chứng khoán của cácngân hàng khác, các công ty tài chính và chứng khoán của các công ty khác.Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng(lớn hơn so với tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng) và cóthể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết Nhưng phải hiểu rằng đầu tưchứng khoán ở đây là đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu chứ không phải là đầu tưvào cổ phiếu Đầu tư vào cổ phiếu thuộc hoạt động hùn vốn của ngân hàng
♦ Hoạt động tín dụng: là hoạt động đặc trưng của ngân hàng thương
mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.Thường được phân chia thành theo thời gian (tín dụng ngắn, trung và dài hạn),theo hình thức tài trợ chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê, chiết khấu , chiatheo tài sản đảm bảo, theo rủi ro (các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình
Trang 9và thấp) hay theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp ) hay theo đối tượng tài trợ(hàng hóa, hoặc bất động sản ) hoặc theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng ).
♦ Các hoạt động khác: Các hoạt động khác là các hoạt động như hoạt
động thanh toán, hoạt động ủy thác, hoạt động hùn vốn (ngân hàng tham giagóp vốn với các tổ chức khác dưới hình thức nắm giữ cổ phiếu, góp vốn liêndoanh, liên kết ), các hoạt động sử dụng vốn khác như mua sắm, nhà cửa trangthiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh của khác hàng và cho thuê
1.1.2.3 Hoạt động khác
Bên cạnh các hoạt động mang tính truyền thống và đặc trưng, ngân hàngthương mại cũng tiến hành các hoạt động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận như:cung cấp dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán,dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý
1.2 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm của tín dụng
Tín dụng xuất phát từ chữ Latinh Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín
nhiệm Tiếng anh là Credit Theo Kmarx, tín dụng là quá trình chuyển nhượng
tạm thời một một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng sau một khoảng thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn dựa trên
sự tin tưởng
Theo quan hệ tài chính, tín dụng được hiểu theo nghĩa sau đây:
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng được coi là phươngpháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người cho vay; hay tín dụng
là sự chuyển dịch từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thâm hụt tiếtkiệm
Trong mối quan hệ tài chính cụ thể: Tín dụng là một giao dịch về tài sảntrên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể
Trang 10 Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền vay mà các định chế tài chính cungcấp cho khách hàng.
Như vậy có thể hiểu: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền vay hàng
hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho vay khi đến hạn thanh toán.
Như vậy, khái niệm tín dụng gồm ba mặt cơ bản và một quan hệ được gọi làtín dụng khi có đầy đủ cả ba mặt dưới đây:
Có sự chuyển giao quyền sử dụng một tài sản từ người này sang ngườikhác
Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời
Khi hoàn lại tài sản đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm thêm mộtlượng giá trị dôi thêm – gọi là lãi hay lợi tức
Tín dụng có các hình thức chủ yếu là tín dụng Nhà nước, tín dụng thươngmại, và tín dụng Ngân hàng Tín dụng thương mại là việc mua bán chịu (hay
mua bán trả chậm) hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể trong nền kinh tế Tín
dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồnvốn quan trọng nhất không chỉ với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp
mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Không một doanh nghiệp nào cóthể tồn tại vững chắc trên thương trường mà không vay vốn của ngân hàng.Việc vay vốn từ ngân hàng đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất –kinh doanh, đặc biệt là các dự án mở rộng sản xuất hay đầu tư chiều sâu củadoanh nghiệp
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng trung và dài hạn
Khái niệm của tín dụng trung và dài hạn
Trang 11Ở Việt Nam theo điều 8, số 1627/2001/QĐ-NHNN quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng: “Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12
tháng đến 60 tháng, các khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên là tín dụng dài hạn”.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được người đi vay sử dụng để mua tài sản cốđịnh, cải tiến đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh và xây dựng các
dự án mới có quy mô vừa và nhỏ
Tín dụng dài hạn chủ yếu để tài trợ vào việc đổi mới dây chuyền sản xuấthiện đại, xây dựng công trình có quy mô, thời gian hoạt động dài như xây dựngnhà ở, các xí nghiệp nhà mày mới, các thiết bị phương tiện vận tải có giá trịlớn
Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạnnhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển sangkinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷtrọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ ngân hàng
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn:
Vốn đầu tư lớn, thời hạn dài, thu hồi vốn chậm: Đối tượng tài trợ của
tín dụng trung và dài hạn là tài sản cố định và các công trình xây dựng.Đặc điểm của đối tượng này là có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài
Do đó, khoản cho vay để tài trợ cho các đối tượng này đòi hỏi một sốvốn đầu tư lớn Mặt khác, nguồn để trả nợ là các quỹ khấu hao cơ bản vàlợi nhuận thu được từ dự án Vì vậy, thời hạn trả nợ thường kéo dài đếnkhi dự án kết thúc
Rủi ro cao: Do lượng vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên độ
rủi ro của các khoản tín dụng trung và dài hạn là cao
Lợi nhuận từ các khoản tín dụng trung và dài hạn lớn: do lợi nhuận
càng cao thì rủi ro càng lớn, nên các khoản cho vay trung và dài hạnthường có mức lãi suất cao Thêm vào đó, do khoản cho vay thường có
Trang 12số vốn lớn nên thu nhập mà khoản tín dụng này đem lại cho ngân hàng làlớn.
Vai trò của tín dụng trung và dài hạn
♦ Đối với doanh nghiệp: là một chủ thể trong nền kinh tế thị trường,
doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh từ phía các đối thủ Để tồntại, phải triển và thắng thế trong cạnh tranh, điều cần thiết là các doanh nghiệpphải chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, mua sắm trang thiết bị hiện đại, đổimới công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm và giảm chi phíđến mức thấp nhất có thể Muốn thực hiện được điều này đòi hỏi doanh nghiệpphải có một lượng vốn đầu tư rất lớn Nguồn tài trợ mà doanh nghiệp có thể lấy
từ các nguồn: tự tích lũy lợi nhuận không chia (đây là nguồn quan trọng, tuynhiên phương thức tài trợ này đòi hỏi một thời gian dài, có thể khiến các doanhnghiệp bỏ lỡ cơ hội kinh doanh); phát hành cổ phiếu, trái phiếu (nguồn này có
ưu điểm là tập trung được lượng vốn lớn trong thời gian ngắn song doanhnghiệp phải đối mặt với sự phân quyền kiểm soát trong công ty, và không phảidoanh nghiệp nào cũng được phép và sự tín nhiệm để phát hành trái phiếu, cổphiếu ra công chúng, trái phiếu cũng không tạo ra sự linh hoạt về kỳ hạn trả nợ)
và sử dụng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng Tín dụng trung và dài hạn
của ngân hàng, có ưu thế hơn so với các nguồn trên, thể hiện ở chỗ: Thứ nhất,
nó giúp doanh nghiệp chớp lấy thời cơ kinh doanh nhờ rút ngắn thời gian tìmkiếm vốn Thủ tục vay ngân hàng tuy chặt chẽ nhưng nếu tuân thủ đúng thì thờigian doanh nghiệp nhận được khoản tín dụng này của ngân hàng là ngắn hơn
nhiều so với tự tích lũy hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu Thứ hai, không dẫn
đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty với bên ngoài so với việc phát hành
cổ phiếu Thứ ba, tín dụng trung và dài hạn ngân hàng tạo ra sự linh hoạt về kì
hạn: doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầukinh doanh và chu kỳ thu nhập Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ của các khoản tíndụng trung và dài hạn của ngân hàng là dễ dàng: khi doanh nghiệp làm ăn thuận
Trang 13lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và làm ăn có lãi, có thể trả nợ ngân hàngtrước hạn Ngược lại, khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất – kinhdoanh, có thể xin ngân hàng gia hạn nợ Mặt khác, việc trả nợ trung và dài hạnđược chia thành các kỳ hạn hợp lý và ổn định, giúp cho doanh nghiệp chủ độngtrong việc tìm kiếm nguồn trả nợ.
♦ Đối với ngân hàng: Tín dụng trung và dài hạn với đặc điểm là vốn đầu
tư lớn, thời gian cho vay dài, rủi ro cao nên có lãi suất cao, là nguồn mang lạilợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng
Thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng không ngừng
mở rộng quy mô khách hàng, bằng việc: thu hút thêm các khách hàng mới, tạo
ra mối liên hệ chặt chẽ và lâu bền với các khách hàng truyền thống Nhờ đó,ngân hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng khảng định vịthế và vai trò của mình trong nền kinh tế
Tín dụng trung và dài hạn góp phần vào việc làm cho vốn huy độngkhông bị nhàn rỗi, mà được sử dụng hiệu quả để đem lại lợi nhuận cho ngânhàng Do ngân hàng không thể ngừng nhận tiền gửi từ dân cư, và vẫn phải trảlãi cho tiền gửi nên nếu để khoản tiền nhàn rỗi trong “ket”, làm tăng chi phíngân hàng và giảm lợi nhuận Tín dụng trung và dài hạn là một trong các cơ sở
để ngân hàng mở rộng huy động vốn, sử dụng vốn một cách khả thi, tăng sứccạnh tranh của bản thân ngân hàng
♦ Đối với nền kinh tế: Ở mọi quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn là
rất lớn để đầu tư phát triển cơ sở hạn tầng Nhu cầu này có thể được đáp ứngbằng nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, viện trợ phát triển, vay nợ nướcngoài nhưng nguồn quan trọng nhất vẫn là tín dụng trung và dài hạn của cácngân hàng thương mại Do đó, tín dụng trung và dài hạn rất quan trọng trong sựphát triển kinh tế - xã hội
Trang 141.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm của chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong điều kiệnnền kinh tế thị trường đều phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm,đưa ra mức giá phù hợp, Ngân hàng thương mại – một doanh nhiệp đặc biệt –cũng không nằm ngoài quy luật đó Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập chủyếu cho ngân hàng Nâng cao chất lượng tín dụng là điều kiện hàng đầu để ngânhàng không ngừng phát triển
Xuất phát từ mối quan hệ tín dụng, xem xét chất lượng tín dụng trên bagiác độ: ngân hàng thương mại, khách hàng và nền kinh tế
♦ Trên giác độ ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phảiphù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng vàphải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trảđúng hạn và có lãi Chất lượng tín dụng phải đảm đảm chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý
và gia tăng, dư nợ ngày càng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo và giảm thiểu,đảm bảo cân đối giữa nguồn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong nền kinh tế
♦ Trên giác độ khách hàng
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu về khách hàng sẽlàm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của Ngân hàng, đảm bảo thỏa mãnnhu cầu về vốn cho họ Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, chất lượng làyêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý củakhách hàng: lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, không phiền hà, thu hút đượckhách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng
♦ Trên giác độ nền kinh tế
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,tăng thêm sản phẩm cho xã hội, thu hút tối đã nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
Trang 15góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các mục tiêu kinh tế của Nhà nước vàchính phủ đặt ra
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp được đánh giá trênquan điểm của: ngân hàng, khách hàng và của nền kinh tế Chất lượng tín dụngtrung và dài hạn là một bộ phận của chất lượng tín dụng cũng không nằm ngoài
sự đánh giá này Tóm lại, tín dụng trung và dài hạn được đánh giá là có chất
lượng khi: khoản tín dụng đó đạt được mục đích vay vốn đã đề ra; hoàn trả vốn vay đầy đủ, đúng hạn, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho cả người vay và người đi vay.
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạnnói riêng là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tín trừutượng Do đó, để đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn cần thiết lập hainhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng:
1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính
Chỉ tiêu này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: thủ tục đơn giản,nhanh chóng, thuận tiện, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp vớichu kỳ kinh doanh và chu kỳ thu nhập của khách hàng
Ngân hàng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cấp tín dụng nói chung
và tín dụng trung và dài hạn nói riêng, cở sở vật chất được trang bị tốt vàđầy đủ Hình thức huy động vốn, hình thức cho vay và đầu tư đa dạng.Ngân hàng không ngừng cung cấp các dịch vụ mới
Đối tượng khách hàng đa dạng, lượng khách hàng vay trung và dài hạnđông đảo, không ngừng được mở rộng
Cách đánh giá chỉ tiêu định tính:
Trang 16Để đánh giá chỉ tiêu định tính, các cách thường dùng là các cách dùngtrong thống kê học như điều tra, phỏng vấn và phương pháp chuyên gia Trong
đó, điều tra là phương pháp hay sử dụng nhất Thông qua điều tra, quan sát cóthể biết được thủ tục cho vay đối với khách hàng như thế nào, rút ra nhận xét.Cũng có thể thấy được cơ sở vật chất của ngân hàng Thông qua điều tra cũngcho thấy được đối tượng khách hàng là ai, số lượng là bao nhiêu, đang kinhdoanh ngành nghề gì, cần vay sử dụng vào mục đích nào Hình thức huy độngvốn, đầu tư, cho vay của ngân hàng đa dạng hay không, sử dụng phương phápnày cũng cho kết quả tương đối chính xác Ngoài ra, có thể dùng phương phápphỏng vấn để thấy được khách hàng có hài lòng với ngân hàng hay không, cácchuyên gia đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng ra sao Đểđánh giá chất lượng tín dụng của mình thông qua chỉ tiêu định tính, Ngân hàngthường thuê các công ty kiểm toán uy tín
1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng
♦ Dư nợ tín dụng trung và dài hạn (TDH)
Tổng dư nợ của ngân hàng bao gồm: dư nợ vốn ngắn hạn, dư nợ vốntrung dài hạn, vốn góp đồng tài trợ Chỉ tiêu dư nợ phản ánh số còn cho vay củangân hàng trong một thời kì nhất định – thường là một năm Chỉ tiêu này phảnánh một phần uy tín, khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng Tổng dư nợcao, chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, có hút được nhiều khách hàng, uytín của ngân hàng tương tối tốt Ngược lại, tổng dư nợ thấp cho thấy ngân hàngkhả năng thu hút khách hàng là thấp, uy tín chưa cao, khả năng mở rộng kháchhàng còn hạn chế
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung và dài hạn =
Tổng dư nợ tín dụng
Trang 17Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của tín dụng trung và dài hạn trong tổng
dư nợ
Nếu đem so sánh với các chỉ tiêu khác của ngân hàng như tỷ lệ dư nợ tíndụng ngắn hạn trên tổng dư nợ tín dụng, thì chỉ tiêu này cho thấy quy môcủa tín dụng trung và dài hạn so với tín dụng ngắn hạn Chỉ tiêu này càngcao chứng tỏ ngân hàng có quy mô tín dụng trung và dài hạn lớn, đồngthời đem lại thu nhập cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn cho hoạt động tíndụng của ngân hàng
Có thể đem so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu trung bình ngành Nếu tỷ lệtín dụng trung và dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng cao hơntrung bình ngành, chứng tỏ, khả năng thu hút khách hàng có nhu cầu chovay trung và dài hạn là lớn, uy tín của ngân hàng tương đối tốt Ngượclại, nếu tỷ lệ này thấp hơn trung bình ngành, chứng tỏ ngân hàng chưathực sự hấp dẫn các khách hàng nhu cầu vay trung và dài hạn
Chỉ tiêu này chỉ là một phần đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạncủa ngân hàng Thông qua chỉ tiêu này, chưa thể đánh giá chất lượng tín dụngtrung và dài hạn của ngân hàng tốt hay xấu Để đánh giá toàn diện và tương đốichính xác, phải xem xét đồng thời các chỉ tiêu
♦ Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn:
Doanh số thu nợ TDH BQ trong kỳVòng quay vốn tín dụng TDH =
Dư nợ tín dụng TDH BQ trong kỳ
Vòng quay vốn trung và dài hạn phản ánh số vòng chu chuyển vốn tíndụng trung và dài hạn trong chu kỳ (thường là một năm) Vòng quay vốn tíndụng cho biết hiệu quả trong việc sử dụng vốn ngân hàng Vòng quay càng lớn
Trang 18chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn có hiệu quả, khả năng thu nợ của ngân hàngtốt Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn nhỏ chứng tỏ, khách hàng khôngthể hoàn trả nợ đúng hạn, làm phát sinh nợ quá hạn hoặc ngân hàng phải tiếnhành gia hạn nợ cho khách hàng.
♦ Nợ quá hạn và nợ khó đòi
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn TDH =
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Khi đến kỳ hạn trả nợ, nếu khách hàng không thể hoàn trả đầy đủ và đúnghạn, không được ngân hàng gia hạn nợ thì khoản nợ đó chuyển thành nợ quáhạn Các ngân hàng đều cố gắng sao cho hạ tỉ lệ này xuống càng thấp càng tốt,bởi lẽ tỷ lệ này cao thì chứng tỏ ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro Tuy nhiên,trên thực tế, do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi nên cácngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định coi như giới hạn antoàn Theo ý kiến của một chuyên gia thì tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ở mứcdưới 3% là có thể chấp nhận được Tuy nhiên chỉ tiêu này đôi khi cũng chưaphản ánh đầy đủ chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng Bởi vì,bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, còn có những ngânhàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, khôngchuyển nợ quá hạn theo đúng quy định
Nợ khó đòi trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ khó đòi trung và dài hạn 1 =
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Nợ khó đòi trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ khó đòi trung và dài hạn 2 =
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Trang 19Hai chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng nợ khó đòi trung và dài hạn trong tổng
nợ quá hạn trung và dài hạn và trong tổng dư nợ tín dung trung và dài hạn Chỉtiêu này càng thấp càng tốt, chứng tỏ các khoản nợ có khả năng không đòi đượccàng giảm, phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngânhàng
Các chỉ tiêu về nợ quá hạn và nợ khó đòi vẫn là những chỉ tiêu phản ánh
rõ nét nhất chất lượng tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu này cho thấy không phảilúc nào dư nợ tín dụng cao cũng tốt vì nếu ngân hàng không có chiến lược quản
lý nợ tốt thì sẽ dẫn đến phát sinh nhiều nợ quá hạn, nợ khó đòi
♦ Hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn
Dư nợ tín dụng trung và dài hạnHiệu suất sử dụng vốn trung và dài hạn =
Tổng nguồn vốn trung, dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng vốn trung và dài hạn đề đầu tư chotín dụng trung và dài hạn Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn hoặc bằng một, chứng tỏ,nguồn vốn trung và dài hạn để để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn, tín dụngtrung và dài hạn có sự phù hợp về kỳ hạn nên độ an toàn sẽ được đảm bảo.Ngược lại, nếu tỷ lệ này lớn hơn một, chứng tỏ nguồn vốn huy động trung vàdài hạn không đủ để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn ngân hàng Tuy nhiên,phải so sánh một cách tương đối Chẳng hạn như nếu tỷ lệ này nhỏ hơn nhiều sovới một, chứng tỏ ngân hàng sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn đề tài trợcho tín dụng trung và dài hạn Điều này là không an toàn cho ngân hàng, tiềm
ẩn rủi ro cao, nếu khách hàng ồ ạt đến rút tiền Nhưng nếu tỷ lệ này gần bằngmột, có nghĩa rằng chỉ có một phần nguồn vốn ngắn hạn dùng để tài trợ cho tíndụng trung và dài hạn, điều này làm giảm rủi ro, vừa làm giảm chi phí lãi của
Trang 20khoản tiền nhàn rỗi của các khoản tiền gửi ngắn hạn không tài trợ hết cho tíndụng ngắn hạn.
♦ Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạnChỉ tiêu lợi nhuận 1 =
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung và dài hạn,cho biết một trong một trăm phần trăm dư nợ tín dụng trung và dài hạn thì lợinhuận từ tín dụng trung và dài hạn là bao nhiêu Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏtín dụng trung và dài hạn là một nghiệp vụ sinh lời cao
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạnChỉ tiêu lợi nhuận 2 =
Tổng lợi nhuận của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn chiếm baonhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của ngân hàng Nó phản ánh tầm quantrọng của tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động ngân hàng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Việc xác định các nhân tố có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung vàdài hạn của ngân hàng là rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng caochất lượng của hoạt động tín dụng này
1.4.1 Nhân tố chủ quan
♦ Quy mô và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng khi cho vay phải cần có lượng vốn lớn Do yêu cầu đảmbảo khả năng thanh toán thường xuyên nên các khoản vay trung và dài hạn củangân hàng phải được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn trung và dài hạn Nếu mộtngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng chủ yếu là vốn ngắn hạn, không ổn định
Trang 21khì không nên mở rộng cho vay trung và dài hạn Các nguồn vốn của một ngânhàng có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn bao gồm: nguồn tự có của ngânhàng, vốn vay trung và dài hạn, vốn huy động trung và dài hạn và một bộ phậnnhất định vốn ngắn hạn Quy mô của các nguồn này là một trong những nhân tốquyết định quy mô cho vay trung và dài hạn và do đó ảnh hưởng đến chất lượngcho vay trung và dài hạn của ngân hàng Ngoài ra, một ngân hàng có nguồn vốntrung và dài hạn dồi dào cũng dễ dàng hơn trong việc tạo lập uy tín đối vớikhách hàng, nhờ đó thu hút được nhiều khách hàng hơn.
♦ Hiệu quả của công tác thẩm định của ngân hàng
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng là vốn và lãi phảiđược trả đúng hạn Điều này khó có thể có được nếu dự án được thực hiệnkhông hiệu quả như mong muốn, hoặc doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng
Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần thực hiện tốt công tác thẩm định dự án,thẩm định khách hàng Nếu thẩm định sai, đánh giá sai năng lực pháp lý, tàichính và hiệu quả của dự án sẽ dẫn đến gia tăng các khoản nợ xấu, nợ quá hạn.Chi phí trong hoạt động thu nợ, thanh lý tài sản của ngân hàng tăng, gây tổn thấtcho ngân hàng, giảm lợi nhuận Thậm chí, ngân hàng không thể thu được nợ,mất vốn ngân hàng Cũng có thể những dự án có hiệu quả nhưng không đượccấp tín dụng, ngân hàng sẽ mất đi một khoản lợi nhuận Thực hiện tốt công tácthẩm đinh giúp ngân hàng loại bỏ những dự án không khả thi, giảm rủi ro chongân hàng đồng thời tiết kiệm chi phí cho nền kinh tế, nâng cao chất lượng tíndụng trung và dài hạn
♦ Chính sách tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng, trong đó hoạtđộng tín dụng trung và dài hạn đóng vai trò rất quan trọng Hoạt động này phảiđược thực hiện theo một chính sách rõ ràng và cụ thể Chính sách này phản ánhcương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tíndụng, tạo sự thống nhất chung cán bộ tín dụng và các chuyên viên ngân hàng,
Trang 22tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chungcho hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.Chính sách tín dụng thường bao gồm các nội dung như: chính sách khách hàng,quy mô và giới hạn tín dụng, lãi suất và phí suất tín dụng, thời hạn và kỳ hạn
nợ, chính sách về đảm bảo tiền vay, chính sách đối với các khoản vay có vấn đề.Một chính sách tín dụng đúng đắn và linh hoạt phù hợp với từng thời kỳ sẽ gópphần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nóiriêng
♦ Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng luôn là yếu tổ cơ bản và cần thiết Trong hoạt động tíndụng ngân hàng, để thẩm định dự án, thẩm định khách hàng trước tiên phải cóthông tin về khách hàng đó, về dự án đó, để làm tốt công tác giám sát khi chovay cũng cần có thông tin Thông tin càng chính xác, kịp thời càng thuận lợi chongân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay, theo dõi việc sử dụng vốn vay
và tiến độ trả nợ Thông tin chính sác, kịp thời, đầy đủ còn giúp cho ngân hàngxây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chinh sách tín dụng một cáchlinh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế Tất cả những điều đó góp phần nângcao chất lượng tín dụng cho ngân hàng
♦ Công tác tổ chức ngân hàng
Việc tổ chức các hoạt động của ngân hàng theo quy trình khoa học, hợp
lý có sự phối hợp giữa các thành viên sẽ làm giảm chi phí của ngân hàng, đápứng kịp thời nhu cầu của khách hàng Hoạt động ngân hàng sẽ thống nhất vàđồng bộ Đây là cơ sở nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
♦ Công nghệ ngân hàng
Đây cũng là một nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng trung và dàihạn của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học – kỹ thuật phát triển như vũbão hiện nay Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị cácphương tiện kỹ thuật cao sẽ đem lại điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn
Trang 23thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn Đó làđiều kiện tiền đề để ngân hàng thu hút them khách hàng, mở rộng tín dụng Sự
hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập thôngtin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tíndụng cũng có hiệu quả hơn
♦ Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng
Cho dù khoa học kỹ thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa nhiều lĩnhvực song nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định Đặc biệt trong hoạtđộng tín dụng ngân hàng là hoạt động rất phức tạp, có liên quan đến nhiều vấn
đề của đời sống xã hội thì vai trò của con người càng quan trọng Các phươngtiện kỹ thuật hiện đại chỉ có thể trợ giúp chứ không thể thay thế được “sự nhạycảm” hay “kinh nghiệm” của cán bộ tín dụng Do vậy, vấn đề nhân sự là mộtvấn đề cực kỳ quan trọng đối với mỗi ngân hàng Chất lượng nhân sự ở đâykhông chỉ đề cập đến trình độ chuyên môn mà còn cả lương tâm, đạo đức, tácphong, kỷ luật lao động của người cán bộ ngân hàng Bên cạnh chất lượng nhân
sự thì công tác quản lý nhân sự cũng là nhân tố quan trọng tác động đến chấtlượng tín dụng của ngân hàng thương mại Mỗi cán bộ tín dụng đều có điểmmạnh va yếu riêng, điều quan trọng là phải biết bố trí sắp xếp công việc sao chophát huy hết thế mạnh và hạn chế những điểm yếu của từng người, đồng thời cóchế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo ra sự phối hợpthống nhất cũng hướng tới một mục tiêu chung là nâng cao chất lượng tín dụngngân hàng
1.4.2 Nhân tố khách quan
1.4.2.1 Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn của ngân hàng và tiến hàngcác hoạt động sản xuất kinh doanh Việc ngân hàng có thu hồi được gốc và lãihay không phụ thuộc vào quá trình sử dụng vốn ngân hàng của khách hàng Khả
Trang 24năng của khách hàng trong việc đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn tín dụng trung
và dài hạn là mối quan tâm lớn của ngân hàng Khả năng này được thể hiện:
♦ Năng lực thị trường của khách hàng: năng lực này thể hiện ở khối
lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong nền kinh tế, vị trí trên thịtrường trong nước hay quốc tế, vị trí và tương lai phát triển của ngành kinh tế
mà doanh nghiệp đang hoạt động Năng lực thị trường cho biết khả năng thíchứng của doanh nghiệp với thị trường, thể hiện ở mức độ chấp nhận của thịtrường đối với các sản phẩm của doanh nghiệp Doanh nghiệp có năng lực thịtrường cao thì rủi ro đối với ngân hàng càng thấp
♦ Năng lực sản xuất của khách hàng: nghiên cứu năng lực sản xuất của
doanh nghiệp cho biết quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự đáp ứng quy mô
ấy với thị trường, cơ cấu và việc làm chủ giá thành sản phẩm Biểu hiện cụ thể
và rõ nhất của năng lực sản xuất là doanh nghiệp phải sản xuất ổn định và có lãi
♦ Năng lực tài chính của khách hàng: Năng lực tài chính của khách
hàng (doanh nghiệp) thể hiện ở khối lượng và tỷ trọng vốn tự có trong tổngnguồn vốn doanh nghiệp sử dụng Điều kiện tín dụng thường quy định một tỷ lệ
cụ thể, tối thiểu của vốn tự có trong tổng nguồn vốn hoạt động hay tỷ lệ vốn đầu
tư tự có tương ứng với khối lượng vốn vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia dự án vayvốn Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng điều kiệntín dụng của ngân hàng càng lớn
♦ Năng lực quản lý của doanh nghiệp: Sự thành bại của doanh nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý của doanh nghiệp Năng lực quản lý củadoanh nghiệp tốt làm cho đồng vốn đầu tư của ngân hàng ít rủi ro hơn
♦ Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp bảo đảm:
Doanh nghiệp có tài sản đảm bảo càng giá trị, dễ phát mại thì ngân hàng càngmong muốn mở rộng tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn nói riêng
Trang 25♦ Tính khả thi của dự án: Nếu doanh nghiệp có thể thuyết trình và
chứng minh được dự án xin được vay vốn là có tính khả thi thì ngân hàng sẽ có
cơ sở mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
1.4.2.2 Các nhân tố khách quan khác
Để nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thươngmại trong nền kinh tế thị trường ngoài những nhân tố chủ quan từ phía ngânhàng, nhân tố khách quan từ phía khách hàng thì các nhân tố khách quan kháccũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàngthương mại Đó là:
♦ Môi trường kinh tế: Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động tín dụng ngân hàng Nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, sản xuất đìnhtrệ, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất thấp bởi khả năng trả nợ của doanhnghiệp là thấp Ngoài ra, những biến động về lãi suất, tỷ giá trên thị trường cũngảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất ngân hàng, dẫn đến ảnh hưởng tới mức lãi suấtròng của khoản tín dụng Và rất nhiều những biến động kinh tế khác đều ảnhhưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng
♦ Môi trường chính trị - xã hội: Sự ổn đinh của môi trường chính trị xã
hội là một căn cứ quan trọng để ra quyết định đầu tư Môi trường chính trị xãhội ổn định thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do
đó nhu cầu vốn tín dụng trung và dài hạn sẽ tăng lên Ngược lai, môi trường bất
ổn thì họ tìm cách thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn, hạn chế rủi ro, khi đó nhucầu vốn tín dụng ngân hàng cũng giảm sút theo
♦ Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống các văn
bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Các văn bản pháp lý cóvai trò hướng dẫn hoạt động tín dụng của ngân hàng tạo ra sự cạnh tranh lànhmạnh giữa các ngân hàng, giúp ngân hàng xử lý các tranh chấp trong hoạt độngtín dụng Mặt khác, môi trường pháp lý có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất,hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, nên nó tác động gián tiếp tới nhu cầu vốn
Trang 26và hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Vì vậy, mộtmôi trường pháp lý đầy đủ, đổng bộ và ổn định là cơ sở nền tảng để nâng caochất lượng tín dụng.
Như vậy, chất lượng tín dụng trung và dài hạn chịu tác động của nhiềunhân tố Việc hiểu rõ và vận dụng sáng tạo các nhân tố này sẽ giúp cho ngânhàng phát triển hoạt động tín dụng, tăng khả năng cạnh tranh cũng như uy tíncủa mình
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân hàng Ngoại Thương chính thức đượcthành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngânhàng Trung ương (nay là Ngân hàng Nhà nước) Theo Quyết định nói trên Ngânhàng Ngoại thương đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duynhất ở Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại baogồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vậntải, bảo hiểm ), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối Ngoài ra, Ngân hàngNgoại thương còn tham mưu cho Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước về cácchính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và vềquan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước và các Tổ chức tiền tệ quốc tế
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chínhphủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 vềviệc thành lập Ngân hàng Ngoại thương theo mô hình công ty 90, 91 được quy
Trang 27định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướngChính phủ.
Trải qua gần 45 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Ngoại thương
đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với 58 Chi nhánh, 1 SởGiao Dịch, 87 Phòng Giao Dịch và 4 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 2Văn phòng đại diện và 1 công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán bộ gần6.500 người Ngoài ra, Ngân hàng Ngoại thương còn tham gia góp vốn liêndoanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinhdoanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư
Quá trình phát triển của Ngân hàng Ngoại thương được chia làm các giai đoạn chủ yếu sau:
♦ Giai đoạn 1963-1975:
Trong giai đoạn này, NHNT đã thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ đối nội
và đối ngoại được Nhà nước giao phó: thực hiện chức năng ngân hàng đối ngoạiđộc quyền, tiếp nhận viện trợ nước ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh
tế ở miền Bắc và phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam
Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế đất nước trước việc bị Mỹ cấmvận, viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa giảm sút, cán cân thương mại mấtcân đối nghiêm trọng, cán cân thanh toán quốc tế luôn bội chi, NHNT đã thựchiện chủ trương mở rộng đầu tư cho xuất khẩu, kiến nghị Nhà nước ban hànhcác cơ chế khuyến khích xuất khẩu, mở rộng dịch vụ thu ngoại tệ thông qua cơ
Trang 28chế thưởng ngoại tệ, cơ chế cấp quyền sử dụng ngoại tệ góp phần tạo nguồncung ngoại tệ cho nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất, phân bón, thuốc trừ sâu
và lương thực
♦ Giai đoạn 1990-1996:
Ngày 14 tháng 11 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 403/
CT chuyển NHNT theo Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộtrưởng thành NHTM Quốc doanh, lấy tên là Ngân hàng Ngoại thương Việt Namgọi tắt là Ngân hàng Ngoại thương Cùng với việc Hội đồng Nhà nước ban hànhPháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng
và Công ty Tài chính ngày 23 tháng 05 năm 1990, NHNT được chính thứcchuyển từ một ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đốingoại sang một NHTM Quốc doanh hoạt động đa năng và tự do cạnh tranh vớicác loại hình ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác Năm 1995,NHNT đã tham gia vào hệ thống thanh toán SWIFT và trở thành đầu mối thanhtoán quốc tế quan trọng của cả nước
♦ Giai đoạn 1996-1999:
Giai đoạn này NHNT tiếp tục đầu tư, phát triển mở rộng các lĩnh vực hoạtđộng kinh doanh, đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt độngngân hàng như hoàn thành hệ thống ngân hàng trực tuyến, hệ thống ngân hànglõi - Core Banking (Vietcombank Vision 2010), trở thành thành viên của tổchức thanh toán thẻ quốc tế Visa Card, Master Card Cũng trong giai đoạn này,NHNT cũng đã tham gia đầu tư vào một loạt các dự án lớn trong các lĩnh vựctrọng yếu của đất nước như đường ống Nam Côn Sơn, Đạm Phú Mỹ, Đuôi hơiPhú Mỹ, Thuỷ điện Yaly…
♦ Giai đoạn 1999-2006:
Với bề dày kinh nghiệm về hoạt động ngân hàng đối ngoại và sau nhiều
Trang 29bước đi quá độ, NHNT đã từng bước tiếp cận, nhanh chóng thích nghi với nềnkinh tế thị trường, giữ vững vai trò chủ lực trong hệ thống NHTM Việt Nam và
là NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toánquốc tế, kinh doanh ngoại hối và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt độngngân hàng Bên cạnh đó, NHNT tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo trên thị trườngtiền tệ góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia Thương hiệu Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đếnnhư một biểu trưng của hệ thống NHTM Việt Nam
Cũng trong giai đoạn này, NHNT là một trong những thành viên đầu tiêncủa Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và là thành viên của nhiều hiệp hội tài chínhkhác như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA), tổ chức thanh toán thẻ quốc tếAmex Express năm 2002 Tính đến thời điểm hiện tại, NHNT đã có quan hệngân hàng đại lý với khoảng 1.200 ngân hàng và định chế tài chính tại 85 quốcgia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đảm bảo phục vụ tốt các yêu cầu của kháchhàng trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra, NHNT còn là NHTM duy nhất tại ViệtNam được tạp chí “The Banker” - tạp chí ngân hàng uy tín trong giới tài chínhquốc tế của Anh Quốc bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất của Việt Nam” liên tụctrong 5 năm 2000 - 2005 Để có đủ điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và chuẩn
bị cho quá trình triển khai cổ phần hóa, từ cuối năm 1999, Ban lãnh đạo NHNT
đã xây dựng chiến lược phát triển tới năm 2010 với mục tiêu trở thành một Tậpđoàn đầu tư tài chính ngân hàng hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn với bán
lẻ, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, giữ vị trí ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam
và phấn đấu trở thành ngân hàng quốc tế trong khu vực Nhằm cụ thể hóa chiếnlược phát triển nói trên, NHNT đã xây dựng Đề án Tái cơ cấu NHNT giai đoạn
2001 - 2005 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 162/2001/QĐ-TTg
ngày 23 tháng 10 năm 2001 Mục tiêu cơ bản của Đề án bao gồm: thứ nhất, nâng cao năng lực tài chính; thứ hai, mở rộng hoạt động kinh doanh; thứ ba, hiện đại hóa công nghệ và phát triển sản phẩm mới; và thứ tư, xây dựng mô
Trang 30thức quản lý hiện đại, đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro và kiểm tra, kiểmtoán nội bộ Sau 05 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu, đến nay, NHNT đã hoàn
thành thắng lợi các mục tiêu đề ra thông qua việc: thứ nhất, xử lý về cơ bản nợ xấu và từng bước nâng cao năng lực tài chính; thứ hai, đa dạng hóa các sản
phẩm dịch vụ, mở rộng hoạt động kinh doanh nhằm tiến tới xây dựng Tập đoàn
đầu tư tài chính ngân hàng đa năng; thứ ba, tạo dựng một nền tảng công nghệ
hiện đại, nâng cao trình độ quản lý toàn hệ thống, phát triển sản phẩm mới, mở
rộng tiện ích cho khách hàng; và thứ tư, từng bước áp dụng các mô thức quản lý
theo chuẩn mực quốc tế thông qua việc cơ cấu lại tổ chức, phát triển mạng lưới,ứng dụng các chuẩn mực quản lý tốt nhất
♦ Năm 2007:
NHNT được trao tặng giải thưởng Thương hiệu mạnh Việt Nam 2006 doThời báo Kinh tế và Cục xúc tiến Bộ Thương mại tổ chức Đặc biệt thương hiệuVietcombank lọt vào Top Ten (mười thương hiệu mạnh nhất) trong số 98thương hiệu đạt giải Đây là lần thứ 3 liên tiếp Vietcombank được trao tặng giảithưởng này
Cùng với giải thưởng thương hiệu mạnh Việt Nam NHNT cũng được bầuchọn là "Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối cho doanh nghiệp tốt nhất năm2007" do tạp chí Asia Money bình chọn
Tháng 12 năm 2007 NHNT tiến hành đấu giá cổ phần ra công chúng vàchính thức trở thành ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam vàtiến tới sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần hoá các công ty con trong những năm tiếptheo, đồng thời tiếp tục mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác thông quahình thức liên doanh, liên kết ở mức các công ty con nhằm đa dạng hoá hìnhthức sở hữu, tận dụng kinh nghiệm của các đối tác chiến lược, đặc biệt là cácđối tác chiến lược nước ngoài nhằm góp phần xây dựng và phát triển NHTM cổphần Ngoại thương Việt Nam năm 2008
Trang 31Có thể nói qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển, NHTMCP NTVN đãvươn lên và trở thành một trong những ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất tạiViệt Nam Với truyền thống đi đầu trong ứng dụng công nghệ ngân hàng hiệnđại, NHTMCP NTVN đã đạt được nhiều thành công trong việc cung cấp chokhách hàng trong nước và quốc tế những sản phẩm dịch vụ ngân hàng thuậntiện, an toàn, nhanh chóng nhất, chiếm lĩnh thị phần lớn trong các mảng nhưkinh doanh thẻ, thanh toán xuất nhập khẩu, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ Thúc đẩy hoạt động ngoại thương và đầu tư trong cả nước.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của mỗi phòng ban
2.1.2.1 Cơ cấu mô hình tổ chức NHTMCP NTVN sau khi cổ phần hóa
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam sau khi cổ phần hóa trở thànhNHTMCP NTVN sẽ được tổ chức và hoạt động dưới hình thức một ngân hàngthương mại cổ phần NHTMCP NTVN có các công ty trực thuộc và các công tycon là các công ty trực thuộc và các công ty con hiện tại của NHNT (đã đượcchuyển đổi theo từng trường hợp cụ thể) NHTMCP NTVN cùng với các công
ty con và các công ty trực thuộc sẽ hình thành nhóm công ty hoạt động theo môhình công ty mẹ - công ty con Và trong giai đoạn tiếp theo, NHTMCP NTVN
sẽ tiếp tục các bước chuyển đổi để trở thành Tập đoàn đầu tư tài chính ngânhàng Vietcombank (được tổ chức theo mô hình Holdings) Dưới đây là sơ đồ tổchức của công ty mẹ là NHTMCP NTVN theo mô hình công ty mẹ - công tycon (sau khi được cổ phần hóa tháng 12 năm 2007 vừa qua)
Sơ đồ 1: Tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ - NHTMCP NTVN
Trang 322.1.2.2 Bộ máy quản lý điều hành và các phòng ban giúp việc
♦ Bộ máy quản lý, điều hành
Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị (BOD)
Ban kiểm soát
Controllers committee
Ủy ban rủi ro
Risk committe
HĐ, UB khác
Other committee
Tổng giám đốc và BĐH CEO
Senior Managerment
Kiểm soát nội bộ
(hỗ trợ ban kiểm soát)
Khối ngân hàng bán lẻ Khối
quản
lý rủi ro và quản lý tài sản nợ xấu
Khối tác nghiệp chính và Khối tài
…
Trang 33● Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông gồm các cổ đông có quyền biểu quyết và là cơ quanquyết định cao nhất của NHTMCP NTVN Thông qua các định hướng phát triểncủa ngân hàng, quyết định việc chào bán cổ phần và mức cổ tức hàng năm vớimỗi loại cổ phần, quyết định bầu bãi nhiệm miễn nhiệm thành viên hội đồngquản trị, thành viên ban kiểm soát và quyết định việc sửa đổi điều lệ của côngty…
● Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của NHTMCP NTVN Hội đồng quảntrị quản lý ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam theo quyđịnh của Luật các Tổ chức tín dụng, các quy định của Chính phủ về tổ chức vàhoạt động của NHTMCP NTVN và các quy định khác có liên quan của phápluật Thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng mà không thuộc thẩmquyền của đại hội đồng cổ đông
Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị là 05 năm Các thành viên củaHội đồng quản trị có thể được bổ nhiệm lại với số lượng nhiệm kỳ không giớihạn Hội đồng quản trị có 07 thành viên chuyên trách, trong đó có Chủ tịch Hộiđồng quản trị, 1 thành viên Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc, 1 thànhviên Hội đồng quản trị kiêm Trưởng Ban kiểm soát
● Ban kiểm soát
Ban kiểm soát NHTMCP NTVN thực thi chức năng kiểm soát, kiểm toánnội bộ theo quy định hiện hành và Điều lệ ngân hàng thương mại cổ phần Ngoạithương Ban kiểm soát có 06 thành viên, trong đó có 01 Trưởng Ban, 03 thànhviên chuyên trách và 02 thành viên kiêm nhiệm (một thành viên do Bộ trưởng
Bộ Tài chính giới thiệu, một thành viên do Thống đốc NHNN giới thiệu) Sốlượng thành viên Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị quyết định
Trang 34● Tổng Giám đốc, Ban Điều hành
Tổng Giám đốc NHNT là đại diện pháp nhân của NHNT, là người chịutrách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước pháp luật về việc điều hành hoạtđộng hàng ngày theo nhiệm vụ, quyền hạn quy định Giúp việc cho Tổng Giámđốc là các Phó tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy các phòng, banchuyên môn, nghiệp vụ
♦ Nhiệm vụ chức năng bộ máy giúp việc (các phòng ban chức năng)
● Phòng tín dụng
Phòng tín dụng thực hiện việc cho vay ngắn hạn, cho vay đầu tư (trung vàdài hạn) đối với các dự án đầu tư, bảo lãnh, tín dụng tài trợ cho các doanhnghiệp, đơn vị và cá nhân theo quy định hiện hành và quy trình nghiệp vụ.Phòng tín dụng thực hiện và dịch vụ ngân hàng đối với các doanh nghiệp, đơn
vị và cá nhân theo cơ chế hiện hành Ngoài ra, phòng tín dụng có nhiệm vụ tổchức huy động vốn từ mọi nguồn của các tổ chức kinh tế như: Tiền gửi có kỳhạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi ký quĩ, cả nội tệ vàngoại tệ
Trong quá trình hoạt động của mình, phòng Tín dụng có mối quan hệ mậtthiết với tất cả các phòng ban khác trong Ngân hàng như phòng Nguồn vốn vàquản lý kinh doanh, phòng thẩm định và tư vấn đầu tư
● Phòng Nguồn vốn và quản lý kinh doanh
Phòng Nguồn vốn và quản lý kinh doanh là đơn vị thuộc tổ chức bộmáy NHTMCP NTVN Thực hiện tham mưu cho Tổng Giám đốc trong côngtác Nguồn vốn, công tác tiếp thị và chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh củaNgân hàng, trực tiếp công tác tiếp thị và huy động vốn của các tổ chức tín dụng,
tổ chức tài chính và các tổ chức xã hội
● Phòng kinh tế đối ngoại và thanh toán quốc tế
Trang 35Phòng kinh tế đối ngoại và thanh toán quốc tế là đơn vị thuộc NHTMCPNTVN có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc chỉ đạo, điều hành hoạt động quản
lý ngoại hối, các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại
● Phòng tài chính kế toán
Phòng tài chính kế toán có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc tổ chức,chỉ đạo, kiểm tra công tác hạch toán kế toán, thanh toán và quản lý thu chi tàichính toàn Ngân hàng và trực tiếp thực hiện việc hạch toán kế toán, thanh toán
và quản lý thu chi tài vụ tại hội sở phù hợp với chế độ và pháp luật hiện hành
● Phòng thẩm định kinh tế kỹ thuật và tư vấn đầu tư
Phòng thẩm định kinh tế kỹ thuật và tư vấn đầu tư có nhiệm vụ tham mưucho Giám đốc để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra công tác tín dụng, công tác thẩmđịnh kinh tế kỹ thuật và tư vấn đầu tư theo đúng các chủ trương, chính sách, chế
độ, thể lệ của Nhà nước Việt Nam
● Phòng tổ chức cán bộ
Phòng tổ chức cán bộ là bộ phận làm tham mưu cho Tổng Giám đốctrong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, chế độ, pháp luật củaNhà nước và của ngành về các mặt: tổ chức bộ máy, cán bộ, đào tạo, lao động,tiền đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
2.1.2.3 Nhân sự tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
♦ Cơ cấu lao động
Tính đến thời điểm ngày 31/12/2007, tổng số lao động của Ngân hàngNgoại thương khoảng 7.000 người – được phân loại như sau:
Trang 36 Phổ thông trung học : 626 người
● Theo loại hợp đồng lao động
Không thuộc diện ký hợp đồng lao động : 10 người
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn : 3.686 người
Hợp đồng lao động có xác định thời hạn từ 1-3 năm: 2.477 người
Hợp đồng lao động có thời hạn dưới 1 năm : 305 người
● Theo độ tuổi lao động
♦ Đánh giá nguồn nhân lực
● Chất lượng lao động
Nguồn nhân lực tại Ngân hàng Ngoại thương trong thời quan qua đã vàđang không ngừng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng để đáp ứngnhững yêu cầu về nhân sự của Ngân hàng trong quá trình cổ phần hóa và tiếntới thành lập một Tập đoàn đầu tư tài chính ngân hàng đa năng Hàng năm,Ngân hàng Ngoại thương đã tuyển dụng các cán bộ có trình độ đại học và trênđại học chuyên ngành, có trình độ ngoại ngữ tốt để chuẩn bị cho giai đoạn hộinhập sắp tới, đồng thời chú trọng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, ngoạingữ cho cán bộ, cử cán bộ tham gia học tập, tham quan khảo sát trong và ngoàinước Do đó, ngân hàng Ngoại thương đã xây dựng được đội ngũ cán bộ có tuổiđời bình quân trẻ, được đào tạo bài bản về lĩnh vực tài chính – ngân hàng, cókiến thức về kinh nghiệm thị trường tương đối toàn diện, có trình độ ngoại ngữ,
Trang 37có khả năng thích nghi nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại và mangtính hội nhập cao.
● Số lượng lao động
Với khoảng 7000 lao động trong toàn hệ thống, về cơ bản đã đảm bảođược nguồn nhân lực làm việc tại các bộ phận, các Chi nhánh và các công tytrực thuộc khác của Ngân hàng Ngoại thương Tuy nhiên, với mục đích pháttriển trong thời gian tới, nhu cầu về nguồn nhân lực không ngừng gia tăng
2.1.3 Các kết quả kinh doanh chủ yếu
2.1.3.1 Tình hình kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương
Được thừa nhận là ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu và được quản
lý tốt nhất tại Việt Nam, tuy trong những năm qua hoạt động tài chính và tiền tệ
có rất nhiều biến động cả trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tếNHNT vẫn đạt được kết quả kinh doanh hết sức khả quan Có thể thể hiện quabảng số liệu sau về tình hình hoạt động của Ngân hàng trong 3 năm gần đây từ
Trang 387 Lợi nhuận trước thuế 1.759.883 3.893.668 3.841.094
8 Thuế thu nhập doanh nghiệp (467.330) (1.016.647) (720.982)
9 Lợi nhuận sau thuế 1.292.553 2.877.021 3.120.112 10.Tỷ suất lợi nhuận/vốn csh (%) 15,36% 25,86% 24.03%
11 Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài
2.1.3.2 Tình hình huy động vốn
Bảng 2: Tình hình huy động và sử dụng vốn giai đoạn 2005-2007
Đơn vị: triệu VNĐ
Trang 39Hiện nay, thị phần huy động vốn của NHTMCP NTVN chiếm kho¶ng18,2% tổng huy động vốn toàn ngành
Vốn huy động năm 2007 đạt trên 168.000 tỷ VND, tăng 24.44% so vớinăm 2006 và 42.37% so với năm 2005 Năm 2007 cũng là năm tăng trưởngmạnh trong công tác huy động vốn từ kênh phát hành giấy tờ có giá (bao gồmcác loại kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi), góp phần làm sôi động thịtrường các công cụ nợ ngắn hạn và dài hạn vốn là một phần không tách rời củathị trường tài chính
Vốn huy động từ Tổ chức kinh tế (TCKT), tổ chức tín dụng (TCTD) và dân
cư (bao gồm tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá) năm 2005 đạt trên118.169.425 tỷ VND, trong đó:
Trang 40 Tiền gửi không kỳ hạn của TCKT và dân cư chiếm 69,03% vốn huyđộng,
Tiền gửi có kỳ hạn của TCKT và dân cư chiếm 30.20% vốn huy động,
Tiền gửi khác (bao gồm tiền gửi của KBNN và TCTD) chiếm 0.77% vốnhuy động
Năm 2006, vốn huy động từ khu vực này tăng ~17.000 tỷ VND, đạt135.000 tỷ VND, trong đó:
Tiền gửi không kỳ hạn của TCKT và dân cư chiếm 69.50% vốn huyđộng,
Tiền gửi có kỳ hạn của TCKT và dân cư chiếm 29.85% vốn huy động,
Tiền gửi khác (bao gồm tiền gửi của KBNN và TCTD) chiếm 0,65% vốnhuy động
Năm 2007, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn của TCKT và dân cư đã giảm xuốngchỉ còn 29.2% vốn huy động; trong khi tiền gửi có kỳ hạn của TCKT và dân cư tănglên 70.12% vốn huy động; tiền gửi khác (bao gồm tiền gửi của KBNN và TCTD)chiếm 0,68% vốn huy động Tiền vay của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tíndụng khác cũng tăng dần từ qua các năm 2005, 2006, 2007
2.1.3.3 Hoạt động tín dụng
♦ Chính sách tín dụng
Trong giai đoạn 2001-2007, dư nợ tín dụng tăng trưởng mạnh, đặc biệt lànăm 2002 khi có chủ trương bứt phá tín dụng Dư nợ tín dụng tăng trung bình32,7%/năm Dư nợ cho vay tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng tín dụng vẫnđược NHNT quan tâm hàng đầu Bằng việc áp dụng một số mô thức quản lýmới nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, số nợ xấu và tỷ lệ dư nợ xấu trong tổng
dư nợ cho vay đã liên tục giảm Đến 31/12/2007, tỷ lệ này còn 2,66% so với tỷ
lệ 2,44% của năm 2006 [theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày