Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là một cây trồng phổ biến trong họ bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước. Ngoài ra hiện nay dưa chuột còn được sử dụng là một vị thuốc, một loại mỹ phẩm thiên nhiên cho phái đẹp. Ở Việt Nam dưa chuột được trồng rộng rãi từ Bắc vào Nam, là một cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Dưa chuột H’mông (dưa Mèo) là giống dưa chuột đặc sản bản địa do cộng đồng dân tộc H’mông thuộc các tỉnh vùng cao Tây Bắc như Sơn La gây trồng và giữ giống từ lâu đời. Quả có đặc điểm rất to, ruột trắng, cùi dày, khả năng chịu bảo quản cao, nhiều hạt, vỏ quả trơn bóng, màu xanh sáng xen lẫn những vết sọc xanh mờ, ăn giòn, ngọt mát và có mùi rất thơm đặc trưng của dưa chuột. Đây là lợi thế của dưa Mèo so với các loại dưa chuột hiện đang được sản xuất rộng rãi. Tại Sơn La bà con nông dân thường trồng dưa này xen với nương ngô, nương lúa vào đầu mùa mưa tháng 2 – 3 để thu hoạch cùng với ngô vào tháng 6 – 7 nhằm tăng thu nhập. Tuy nhiên, do người dân tự để giống từ lâu đời, biện pháp canh tác thô sơ, trồng xen với ngô, lúa nương, không được chăm bón nên quả không đồng đều, nhiều quả dị dạng, sâu bệnh hại làm cho năng suất không cao, chất lượng bị giảm sút. Để góp phần mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất dưa chuột bản địa H’mông là điều rất cần thiết. Trong các biện pháp kỹ thuật trồng trọt thì cắt tỉa là một biện pháp quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của cây dưa chuột. Giống dưa chuột bản địa của đồng bào H’mông có tập tính phân nhánh mạnh, nên cắt tỉa giúp cho cây có số nhánh hợp lý nhằm tập trung dinh dưỡng cho cây sinh trưởng phát triển thuận lợi và nuôi quả. Không những vậy, cắt tỉa còn tạo điều kiện cho việc tăng mật độ góp phần nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích. Xuất phát từ những phân tích và nhận định trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng – phát triển và năng suất của giống dưa chuột bản địa H’mông trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Gia Lâm – Hà Nội ”. 1.2 Mục đích và yêu cầu 1.2.1 Mục đích Xác định biện pháp tỉa nhánh thích hợp cho sinh trưởng, phát triển góp phần nâng cao năng suất dưa chuột bản địa H’mông trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Gia Lâm, Hà Nội. 1.2.1 Yêu cầu Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống dưa chuột bản địa H’mông ở các biện pháp tỉa nhánh khác nhau trồng trong vụ xuân – hè tại Hà Nội. Đánh giá tình hình sâu bệnh của giống dưa chuột bản địa H’mông ở các biện pháp tỉa nhánh khác nhau trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Hà Nội. Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của giống dưa chuột bản địa H’mông ở các biện pháp tỉa nhánh khác nhau trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Hà Nội.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Người hướng dẫn : TS Trần Thị Minh Hằng
: ThS Phạm Quang Thắng
Người thức hiện : Trịnh Thị Huyền Lớp : KHCT D - Khóa 53
Hà Nội – 7/2012
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, cán bộ Bộ môn Rau Hoa Quả Khoa Nông Học đã giúp đỡ, chỉ bảo kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi chotôi được học tập và làm việc thực sự trong thời gian thực tập.
-Xin gửi lời cảm ơn chân thành của tôi tới những người bạn đã cùng tôisống, học tập và lao động tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Những ngườibạn đã sát cánh cùng tôi, giúp tôi đạt được kết quả như ngày hôm nay
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè, gia đình tôi đã giúp đỡ, khích lệ tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 17 tháng 7 năm 2012
Trịnh Thị Huyền
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt viii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.1 Yêu cầu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nguồn gốc, phân bố dưa chuột 3
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố: 3
2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột 5
2.2.1 Hệ thống rễ: 5
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân và khả năng phân nhánh: 5
2.2.3 Lá: 6
2.2.4 Đặc điểm ra hoa, đậu quả: 6
2.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của dưa chuột 7
2.3.1 Nhiệt độ: 7
2.3.2 Ánh sáng: 8
2.3.3 Độ ẩm không khí và độ ẩm đất: 9
2.3.4 Đất và chất dinh dưỡng: 10
2.4 Tình hình nghiên cứu về biện pháp tỉa nhánh dưa chuột 10
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 10
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: 12
Trang 4PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu 14
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 14
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14
3.3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 15
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 17
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các giai đoạn sinh trưởng của giống dưa chuột H’mông 20
4.1.1 Thời gian từ trồng đến khi bắt đầu phân nhánh 20
4.1.2 Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa đực và hoa cái đầu tiên 22
4.1.4 Thời gian từ trồng đến đậu quả đầu tiên 23
4.1.5 Thời gian từ trồng đến khi thu hoạch lần đầu tiên 24
4.1.6 Thời gian thu hoạch 24
4.1.7 Tổng thời gian sinh trưởng 25
4.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm sinh trưởng, phát triển chủ yếu của giống dưa chuột H’mông 26
4.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển thân của giống dưa chuột H’mông 26
4.2.2 Đặc điểm sinh trưởng bộ lá của giống dưa chuột H’Mông 31
4.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của giống dưa chuột H’mông 34
Trang 54.3.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến vị trí xuất hiện hoa đực, hoa
cái đầu tiên 34
4.3.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm ra hoa, đậu quả của giống dưa chuột H’mông 36
4.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tình hình sâu bệnh hại của giống dưa chuột H’mông 40
4.4.1 Tình hình nhiễm sâu hại của giống dưa chuột H’mông 41
4.4.2 Tình hình nhiễm bệnh hại của giống dưa chuột H’Mông 43
4.5 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dưa chuột H’mông 45
4.5.1 Số quả trên cây 48
4.5.2 Khối lượng trung bình quả 48
4.5.3 Năng suất cá thể 48
4.5.4 Năng suất thực thu 49
4.5.5 Năng suất lý thuyết 50
4.6 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến đặc điểm cấu trúc quả thương phẩm của giống dưa chuột H’Mông 51
4.6.1 Chiều dài quả 53
4.6.2 Đường kính quả 53
4.6.3 Độ dày thịt quả 54
4.6.4 Độ cứng 54
4.6.5 Độ Brix 54
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 60
Trang 6DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến thời gian qua các giai
đoạn sinh trưởng chủ yếu của giống dưa chuột H’mông 21Bảng 4.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số đặc điểm sinh
trưởng thân, cành của giống dưa chuột H’mông 26Bảng 4.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số đặc điểm sinh
trưởng bộ lá của giống dưa chuột H’mông 32Bảng 4.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến vị trí xuất hiện hoa đực,
hoa cái của giống dưa chuột H’mông 35Bảng 4.5 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm ra hoa, đậu
quả của giống dưa chuột H’mông 38Bảng 4.6 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tình hình sâu bệnh hại chủ
yếu của giống dưa chuột H’mông 42Bảng 4.7 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống dưa chuột H’mông 46Bảng 4.8 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến đặc điểm cấu trúc và chất
lượng quả thương phẩm của giống dưa chuột H’mông 51
Trang 7DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
Hình 4.1 Dưa chuột H'mông thời kỳ xuất hiện hoa cái ở các công thức
cắt tỉa khác nhau 30Hình 4.2 Triệu chứng bệnh phấn trắng ở CT6 44Hình 4.3 Triệu chứng bệnh giả sương mai ở CT1(đối chứng) 45Hình 4.4 Khối lượng quả dưa chuột H'mông ở các công thức cắt tỉa khác
nhau 47Hình 4.5 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất thực thu và
năng suất lý thuyết của giống dưa chuột H’mông 50Hình 4.6 Kích thước quả dưa chuột H'mông ở các công thức cắt tỉa khác
nhau 52Hình 4.7 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến đặc điểm cấu trúc quả của
giống dưa chuột H’mông 53
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AVRDC Asian Vegetable Research and Development Center
Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau châu ÁBVTV Bảo vệ thực vật
CS Cộng sự
CT Công thức
ĐC Đối chứng
NSTT Năng suất thực thu
NSLT Năng suất lý thuyết
TC Thân chính
TP Thân phụ
Trang 9PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Dưa chuột (Cucumis sativus L.) là một cây trồng phổ biến trong họ bầu bí
(Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đờitrên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước Ngoài ra hiệnnay dưa chuột còn được sử dụng là một vị thuốc, một loại mỹ phẩm thiên nhiêncho phái đẹp Ở Việt Nam dưa chuột được trồng rộng rãi từ Bắc vào Nam, làmột cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân
Dưa chuột H’mông (dưa Mèo) là giống dưa chuột đặc sản bản địa do cộngđồng dân tộc H’mông thuộc các tỉnh vùng cao Tây Bắc như Sơn La gây trồng vàgiữ giống từ lâu đời Quả có đặc điểm rất to, ruột trắng, cùi dày, khả năng chịubảo quản cao, nhiều hạt, vỏ quả trơn bóng, màu xanh sáng xen lẫn những vết sọcxanh mờ, ăn giòn, ngọt mát và có mùi rất thơm đặc trưng của dưa chuột Đây làlợi thế của dưa Mèo so với các loại dưa chuột hiện đang được sản xuất rộng rãi.Tại Sơn La bà con nông dân thường trồng dưa này xen với nương ngô, nươnglúa vào đầu mùa mưa tháng 2 – 3 để thu hoạch cùng với ngô vào tháng 6 – 7nhằm tăng thu nhập Tuy nhiên, do người dân tự để giống từ lâu đời, biện phápcanh tác thô sơ, trồng xen với ngô, lúa nương, không được chăm bón nên quảkhông đồng đều, nhiều quả dị dạng, sâu bệnh hại làm cho năng suất không cao,chất lượng bị giảm sút Để góp phần mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, việc nghiên cứu các biệnpháp kỹ thuật sản xuất dưa chuột bản địa H’mông là điều rất cần thiết
Trong các biện pháp kỹ thuật trồng trọt thì cắt tỉa là một biện pháp quantrọng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng cũngnhư hiệu quả kinh tế của cây dưa chuột Giống dưa chuột bản địa của đồng bàoH’mông có tập tính phân nhánh mạnh, nên cắt tỉa giúp cho cây có số nhánh hợp
lý nhằm tập trung dinh dưỡng cho cây sinh trưởng - phát triển thuận lợi và nuôi
Trang 10quả Không những vậy, cắt tỉa còn tạo điều kiện cho việc tăng mật độ góp phầnnâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích Xuất phát từ những phân tích và
nhận định trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng – phát triển và năng suất của giống dưa chuột bản địa H’mông trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Gia Lâm – Hà Nội
- Đánh giá tình hình sâu bệnh của giống dưa chuột bản địa H’mông ở cácbiện pháp tỉa nhánh khác nhau trồng trong vụ xuân – hè 2012 tại Hà Nội
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng củagiống dưa chuột bản địa H’mông ở các biện pháp tỉa nhánh khác nhau trồngtrong vụ xuân – hè 2012 tại Hà Nội
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc, phân bố dưa chuột
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố:
Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại rau ăn quả thương mại truyền
thống, có nguồn gốc từ miền Tây Ấn Độ và được trồng trọt khoảng 3000 nămtrước, sau đó được lan truyền theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và miền NamChâu Âu Cho đến nay cây dưa chuột đã được gieo trồng rộng khắp trên thế giới
từ vĩ độ 16 đến 630 Bắc [16] Tuy nhiên cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khácnhau về nguồn gốc xuất xứ của loại cây này, hiện chưa có một tài liệu nào xácminh chính xác
Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất với ý kiến đầu tiên của De Candolle(1912) [24] rằng dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Bắc Ấn Độ, nơi mà thường tìmthấy họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể là 2n = 14 Loài hoang dại
Cucumis hardiwickii Royle là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả
cứng và được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya (De Candolle,
1984) [24] Khi lai tự do giữa loài này với loài trồng (Cucumis sativus L.),
Dekin và cộng sự (1971) đã phát hiện thấy độ hữu thụ của thế hệ F2 không bị
giảm đi và ông cho rằng Cucumis hardiwickii R rất có thể là tổ tiên của loài dưa
chuột trồng [2] Theo De Candolle (1912) thì vùng xuất xứ dưa chuột là Tây Bắc
Ấn Độ, từ đây nó được phát triển lên phía Tây (Trung Đông) và sau đó sangphía Đông Nam Á [24]
Vavilop (1926), G Taracanov (1968) lại cho rằng khu vực miền núi phíaBắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột vì ở đây còn tồn tại dạngdưa chuột hoang dại (dẫn theo Nguyễn Văn Hiển [5])
Do các giống dưa chuột địa phương của Trung Quốc mang nhiều tính trạnglặn có giá trị như: quả dài, hình thành quả không cần qua thụ phấn
(parthernocarpic), gai quả màu trắng, quả không chứa chất đắng (cucurbitaxin),
Trang 12từ kết quả nghiên cứu qua các chuyến thám hiểm thực địa, nhà thực vật Vavilop
N (1926) [33] đã cho rằng Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ hai củaloài dưa này Các tài liệu cổ khác của Trung Quốc cho rằng ngay từ thế kỷ thứ
IV ở đây đã có trồng cây dưa chuột Từ việc phát hiện ra dạng cây dưa chuộthoàn toàn hoa cái trong tập đoàn giống từ Trung Quốc, giống như các dạng câynày của Nhật Bản được phát hiện trước đó, Merezhko A.F (1984) [30] cho rằngdưa chuột Trung Quốc được trồng từ lâu ở những vùng có điều kiện khí hậu mát
mẻ của Nhật Bản Tác giả cũng khẳng định rằng dưa chuột Nhật và Trung Quốc
có cùng một nguồn gốc
Ở nước ta, việc phát hiện ra các dạng cây dưa chuột dại, quả rất nhỏ mọc tựnhiên ở các vùng Đồng bằng Bắc bộ và các dạng dưa chuột quả to, đang mọchoang dại ở các vùng núi cao phía bắc Việt Nam đã khẳng định nguồn gốc phátsinh khác của loại cây này (Phan Đình Phụng, 1975; Taracanov, Dgiôn, TrầnKhắc Thi, 1977; Trần Khắc Thi, Vũ Tuyên Hoàng, 1979) [17] Lịch sử nước tacũng đã ghi nhận sự tồn tại lâu đời của dưa chuột như một trong số những câytrồng đầu tiên của tổ tiên ta: “… Trước thời đại Hùng Vương, chủ nhân của cácnền văn hóa Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn đã biết trồng cây ăn quả, cây có củ,rau, đậu, dưa các loại,…” Tuy nhiên dưa chuột được trồng bao giờ đến nay vẫnchưa được rõ Tài liệu sớm nhất có nhắc đến dưa chuột là sách “Nam phươngthảo mộc trạng” của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 (285) giới thiệu: “…cây dưa leo hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hè” Mô tả rõ hơn cả
là cuốn “Phủ biên tạp lục” (1775) Lê Quý Đôn đã ghi rõ tên dưa chuột và vùngtrồng là Đàng Trong (từ Quảng Bình đến Hà Tiên) và Bắc Bộ [7]
Theo tài liệu về khảo cổ học của Lưu Trấn Tiêu (1974), qua việc phân tíchbào tử phấn hoa ở di chỉ Tràng Kênh từ thời Hùng Vương, ngoài lúa nước, cònphát hiện thấy phấn hoa dưa chuột Như vậy có thể nói dưa chuột xuất hiện ởViệt Nam cách đây 4000 năm (Trần Khắc Thi và cs., 2008) [16]
Cho đến nay dưa chuột đã trở thành loại rau ăn quả quen thuộc đối với
Trang 13người dân Việt Nam được trồng rộng khắp từ Bắc chí Nam với diện tích năm
2003 là 18,409 ha [16].Trong những năm gần đây diện tích dưa chuột tăng lên
và trở thành một cây trồng chính mang lại thu nhập cao cho người trồng rau vàđáp ứng được nhu cầu rau xanh cho thị trường
2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột
2.2.1 Hệ thống rễ:
Dưa chuột có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm nên so với các cây khác trong họbầu bí, dưa chuột có bộ rễ yếu hơn Hệ rễ ưa ẩm không chịu khô hạn, không chịungập úng [2] Khả năng sinh trưởng và phát triển của bộ rễ dưa chuột phụ thuộc vàogiống, điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện bảo quản hạt
Sau mọc 5 - 6 ngày rễ phát triển mạnh, thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu[10] Khi cây trưởng thành, hệ rễ dưa chuột có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m, rễnhánh và rễ phụ phát triển tùy theo điều kiện đất đai Rễ phân bố ở tầng đất mặt
0 - 30 cm, hầu hết tập trung ở phần đất 15-20cm [1]
Khối lượng rễ dưa chuột xấp xỉ 1,5% trọng lượng toàn bộ cây, phân bốrộng khoảng 60 – 90cm Do vậy mức độ phát triển bộ rễ ban đầu là tiền đề chonăng suất sau này [1]
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân và khả năng phân nhánh:
Thân dưa chuột thuộc loại thân leo bò, có nhiều tua cuốn để bám khi leo.Chiều cao và đường kính thân phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh cũng như kỹthuật chăm sóc Thân phân thành các đốt, mỗi đốt mang một lá đặc biệt có thểmang 2 lá Dưa chuột là một cây có tập tính phân nhánh mạnh có thể có từ 3 - 8nhánh trên thân tuỳ vào giống và điều kiện canh tác trong đó giống là yếu tốquyết định Trên thân có cạnh, có lông cứng và ngắn, ngoài ra đường kính thân
là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình sinh trưởng của cây, đường kínhthân quá lớn hoặc quá nhỏ đều không có lợi Đối với những giống trung bình vàgiống chín muộn đường kính đạt gần 1cm là cây sinh trưởng tốt
Trang 14Căn cứ vào chiều cao cõy cú thể phõn chia thành 3 nhúm:
- Loại lựn: chiều cao cõy 0,6 - 1m
- Loại trung bỡnh: chiều cao cõy > 1 – 1,5m
- Loại cao: chiều cao cõy > 1,5 đến 2 - 3m, cú loại tới 4 - 5m
Đặc điểm sinh trưởng cú thể vụ hạn, bỏn hữu hạn, hữu hạn và dạng bụigọn Nhóm vô hạn thân có thể sinh trởng mãi cho đến khi cây chết với độ dài t-
ơng đối cố định Nhóm sinh trởng hữu hạn cũng cú chiều dài đốt tương tự như ởnhúm vụ hạn nhưng chiều dài của thõn được kết thỳc bởi chựm hoa Nhúm cúdạng thõn bụi cú chiều dài đốt ngắn hơn ở 2 nhúm kia (Swiader J.M., 1997)[31]
2.2.3 Lỏ:
Lỏ dưa chuột cú lỏ mầm và lỏ thật Độ lớn, sự cõn đối và thời gian duy trỡ của
lỏ mầm phụ thuộc vào chất lượng giống, khối lượng hạt giống, chất dinh dưỡngtrong đất, độ ẩm đất, nhiệt độ đất Lỏ thật cú 5 cỏnh, chia thuỳ nhọn hoặc cú dạngchõn vịt; cú dạng lỏ trũn, trờn lỏ cú lụng cứng, ngắn Màu sắc lỏ thay đổi theo giống
cú thể màu xanh vàng hoặc xanh thẫm Hỡnh dạng và kớch thước lỏ biến đổi ngaytrờn cựng một cõy Độ dày mỏng của lụng trờn lỏ và diện tớch thay đổi tựy giống,tựy giai đoạn sinh trưởng, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm súc [2]
2.2.4 Đặc điểm ra hoa, đậu quả:
Hoa dưa chuột chủ yếu là đơn tớnh cựng gốc Hoa dưa chuột cú 4 – 5 đài,
4 – 5 cỏnh hợp, đường kớnh 2 – 3 cm, màu sắc hoa tựy giống nhưng thường gặp
là màu vàng Hoa đực thường mọc thành chựm hoặc đơn ở nỏch lỏ, mỗi hoa cú 4– 5 nhị đực hợp nhau (hoặc 3 nhị đực hợp nhau) Hoa cỏi bầu thường cú 3 – 4noón, nỳm nhụy phõn nhỏnh hoặc hợp [16]
Nhỡn chung hoa đực ra sớm hơn hoa cỏi, hoa cỏi xuất hiện sau và thụngthường một nỏch lỏ chỉ cú một hoa Tuy nhiờn sự ra hoa cỏi và hoa đựcphụ thuộc vào nhiều yếu tố gồm giống, mật độ, nhiệt độ, cường độ ỏnh sỏng,thời gian chiếu sỏng, chất điều tiết sinh trưởng, phõn bún (kali, đạm)
Trang 15Theo Swiader J M., (1997) [31] thì cây dưa chuột đơn tính cùng gốcthường phát triển qua 3 giai đoạn thể hiện giới tính :
l) Giai đoạn đầu chỉ có hoa đực
2) Giai đoạn phát triển song song cả hai loại hoa - đây là giai đoạn dài nhất 3) Giai đoạn cuối rất ngắn là giai đoạn hầu như chỉ có hoa cái
Hoa dưa chuột bắt đầu nở từ 5 - 10 giờ sáng Hoa đực nở trước hoa cái trêncùng cây khoảng 2 - 3 ngày, tuổi thọ của hoa đực ngắn từ 1 - 2 ngày Hạt phấn
có sức sống tốt nhất 4 - 5 giờ sau khi hoa nở Hoa dưa chuột thụ phấn nhờ côntrùng (ong mật) trừ những hoa lưỡng tính [2]
Khi hoa cái xuất hiện thông thường sau 2 ngày, quá trình thụ phấn thụ tinhđược diễn ra thì sẽ thấy cánh hoa héo đi, bầu hoa phát triển, đó được tính là thờiđiểm quả đậu
2.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của dưa chuột
2.3.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ là một trong yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn đến quátrình sinh trưởng, phát triển của các cây trong họ bầu bí cũng như cây dưachuột
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, rất mẫn cảm với sương giá Theo sốliệu của nhiều nhà nghiên cứu, nhiệt độ bắt đầu cho cây sinh trưởng ở khoảng 12
- 150C, nhiệt độ tối thích 25 - 300C Vượt khỏi ngưỡng nhiệt độ này, các hoạtđộng sống của cây bị dừng lại, còn nếu hiện tượng này kéo dài cây sẽ bị chết ởnhiệt độ 35 - 400C (Alexanyan S.M 1994) [20] Theo Benett P.J et al 2001 [22]nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển là 18,3 - 23,90C; nhiệt
độ tối thấp là 15,60C và tối cao là 32,20C Theo Mai Thị Phương Anh và cs(1996) [1] thì nhiệt độ thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng phát triển là 25 -
300C, nhiệt độ cao từ 35 - 400C kéo dài cây sẽ chết Nhiệt độ dưới 150C cây sẽ bịrối loạn đồng hóa và dị hóa, các giống sinh trưởng khó khăn, đốt ngắn, lá nhỏ,
Trang 16hoa đực màu vàng nhạt (Tạ Thu Cúc, 2007) [2].
Tổng số nhiệt độ không khí trung bình ngày đêm cần thiết cho sinh trưởng,phát triển dưa chuột vào khoảng 1.500 - 2.5000C, còn để cho quá trình tạo quảthương phẩm là 800 - 10000C (Kulturnaya, Tykvennye (Oguretz, dynya) (1994)[26]
Nhiệt độ ảnh hưởng khác nhau tới các quá trình sinh trưởng, phát triển khácnhau của dưa chuột Hạt dưa chuột có sức sống cao, có thể nảy mầm ở nhiệt độthấp từ 12 – 130C Nhiệt độ đất tối thiểu phải đạt được 160C Ở nhiệt độ này hạtnảy mầm sau 9 – 16 ngày, nếu nhiệt độ đất khoảng 210C thì hạt sẽ nảy mầm sau
5 – 6 ngày Do vậy mà các nhà khoa học đã nghiên cứu để rút ngắn thời giannảy mầm, tỷ lệ nảy mầm cao cũng như nảy mầm đều để đảm bảo thời gian chothu hoạch ( Tatlioglu, 1993) [32]
Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của cây Ở nhiệt độthích hợp cây ra hoa cái ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm Nhiệt độ càng thấp,thời gian này càng kéo dài [12]
Sự nở hoa cùng với quá tŕnh thụ phấn thụ tinh cũng chịu tác động bởi nhiệt
độ Theo Yoshihari Ono (Takya Ama seed Co Ltd Kyoto, Nhật Bản) hoa bắtđầu nở ở nhiệt độ 150C (sáng sớm) và bao phấn mở ở nhiệt độ 170C Nhiệt độthích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn là 17 - 200C, nhiệt dộ quá cao hay quáthấp so với ngưỡng nhiệt độ này đều làm giảm sức sống hạt phấn, dẫn đến giảmnăng suất của giống
2.3.2 Ánh sáng:
Cũng như các cây trồng khác có nguồn gốc từ phía Nam, dưa chuột thuộcnhóm cây ưa ánh sáng ngày ngắn Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinhtrưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ ngày Nắng chiếu có tác dụng tốt đến hiệusuất quang hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn củaquả
Cường độ và số giờ chiếu sáng có tương quan thuận với quá trình lớn của
Trang 17quả Theo Lin W.C Jollife P.A (1997) [28] thì hiệu quả của việc tỉa thưa cành
và che bóng cho quả đã cải thiện được tốc độ tăng trưởng quả, màu sắc quả vàdiệp lục của vỏ quả Không những thời gian chiếu sáng mà cường độ cũng ảnhhưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây dưa chuột Nhiều tác giả đã chứngminh rằng nếu giảm cường độ chiếu sáng cây sẽ sinh trưởng kém, do đó giảmlượng chất khô, năng suất và chất lượng quả dưa chuột đều giảm Cường độ ánhsáng 15.000 - 17.000 Klux thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát triển giúpcho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắnthời gian lớn của quả (Mai Thị Phương Anh và cs 1996 [1], Trần Khắc Thi
2003 [14]) Trong điều kiện cường độ ánh sáng thấp cây sinh trưởng yếu, thậmchí rất khó hồi phục mặc dù sau đó được cung cấp đầy đủ ánh sáng (Lin W.C et
al 2000) [29]
Ngoài ra chất lượng ánh sáng có tác dụng làm tăng hoặc giảm màu sắc quả
và ảnh hưởng tới thời gian bảo quản quả sau thu hoạch Theo nghiên cứu củaLin W C Jolliffe P.A (1996) [27] với giống dưa chuột quả dài trồng trong nhàkính cho thấy: vào mùa hè dùng lớp lọc để giảm cường độ ánh sáng hoặc là biếnđổi quang phổ ánh sáng ảnh hưởng đến thời gian bảo quản quả dưa chuột Quảđược bọc bằng giấy lọc màu đỏ thì lại có màu xanh hơn quả được bọc bằng giấylọc tia cực tím
2.3.3 Độ ẩm không khí và độ ẩm đất:
Do có nguồn gốc nơi ẩm ướt ven rừng, đất đai nơi nguyên sản màu mỡnên bộ rễ của dưa chuột kém phát triển, khả năng chịu hạn và chịu úng kémhơn các cây khác trong họ (cây bí ngô, dưa hấu, dưa thơm) Hai yếu tố ngoạicảnh lượng mưa và độ ẩm cùng với nhiệt độ cao là những nguyên nhân chủyếu dẫn đến nhiều cây trong họ bầu bí nhiễm bệnh ở lá và thân cành (Tạ ThuCúc, 2007) [2]
Dưa chuột rất mẫn cảm với hạn đất và không khí Chủ yếu do bộ rễ kémphát triển và có bộ lá lớn Nhìn chung độ ẩm đất thích hợp cho dưa chuột 85 – 95
Trang 18%, không khí 90 – 95 % [13] Mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển dưa chuột lạiyêu cầu khác nhau về độ ẩm Hạt nảy mầm cần lượng nước bằng 50% khối lượnghạt Độ ẩm đất thích hợp cho dưa chuột từ thời kỳ thân lá phát triển mạnh đến rahoa cái đầu là 70-80%, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển là 80-90% [19].
Khi đất khô hạn, hạt mọc chậm, sinh trưởng thân, lá kém, đồng thời trongcây có sự tích lũy chất Cucurbitacina gây đắng quả [18] Nhưng nếu trong điềukiện ngập nước lâu, rễ cây dưa chuột bị thiếu oxi dẫn đến cây héo rũ, chảy gômthân, có thể chết cả ruộng [3]
2.3.4 Đất và chất dinh dưỡng:
Dưa chuột là cây ưa thích đất đai màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, độ
pH từ 5,5 – 6,8 và tốt nhất từ 6,0 – 6,5 Đất trồng thích hợp là đất có thành phần
cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ sẽ cho năng suất và chất lượng quả tốt
Về hiệu suất sử dụng phân khoáng, ở dưa chuột sử dụng kali với hiệu suấtcao nhất tiếp đến là đạm rồi đến lân Khi bón 60 N : 60 P2O5 : 60 K2O thì dưachuột sử dụng khoảng 92% đạm, 33% lân và 100% kali Dưa chuột không chịuđược nồng độ phân cao nhưng lại phản ứng rõ rệt với hiện tượng thiếu dinhdưỡng Phân hữu cơ, đặc biệt là phân chuồng làm tăng năng suất dưa chuột [2].Bên cạnh đạm, lân, kali các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn, Mn, Cu, Mo có vaitrò hết sức quan trọng, làm thay đổi tỷ lệ hoa đực, cái
2.4 Tình hình nghiên cứu về biện pháp tỉa nhánh dưa chuột
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Cây dưa chuột là cây có tập tính phân nhánh mạnh, thân cành phát triển tốtbởi vậy cắt tỉa để tạo ra cây có ít thân giúp tập trung dinh dưỡng nuôi quả là cầnthiết Nhờ đó, quả to hơn vì các chất dinh dưỡng của cây không được chuyểnđến cho các nhánh khác
Khi sản xuất dưa chuột trong điều kiện nhà lưới, việc cắt tỉa tạo tán hợp lýcho dưa chuột sẽ giúp quần thể sử dụng ánh sáng một cách hiệu quả, tạo tiền đề
Trang 19cho việc thu được năng suất cao Gobeil, G and Gosselin, A (1990) [25] đãnghiên cứu việc sử dụng ánh sáng bổ sung kết hợp với 4 phương pháp cắt tỉadưa chuột khác nhau, đều hướng đến việc loại bỏ bớt số quả/cây và các nhánhtrên thân chính, cụ thể như sau:
- Phương pháp cắt tỉa 1: để bốn quả trên thân chính (mỗi nách lá một quả),hai đốt (nách lá) tiếp theo không để quả, và trình tự này được lặp đi lặp lại chođến khi cây cao đến đỉnh dây dàn thì cắt bỏ ngọn thân chính Tất cả các nhánhđược loại bỏ hoàn toàn khỏi thân chính Phương pháp này do Blain et al (1987)[21] xây dựng, cho phép sản xuất 12 - 14 quả/cây trong thời gian 2 - 3 tuần thuhoạch
- Phương pháp thứ 2 sử dụng thêm một đoạn các nhánh cấp 1 để tăngnăng suất cá thể: bốn quả để lại trên thân chính, tiếp theo hai đốt (nách lá) không
để quả nhưng để nhánh phát triển và được cắt ngọn chỉ để lại 1 lá và 1 quả Látrên nhánh sẽ quang hợp và tăng cường cung cấp các sản phẩm quang hợp chocây, tạo tiền đề tạo ra số quả/cây nhiều hơn trên một độ dài nhất định của thânchính mà không ảnh hưởng đến cây, và trình tự này cũng được lặp đi lặp lại chođến khi cây cao đến đỉnh dây dàn thì cắt bỏ ngọn thân chính Phương pháp 2 chophép tạo ra 18 - 20 quả trong 4-5 tuần thu hoạch
- Phương pháp 3 giống với phương pháp 1, khi cây cao đến đỉnh dây dànthì cắt bỏ ngọn thân chính nhưng để lại 1 nhánh và uốn cong để tiếp tục thuhoạch thêm sáu quả trên nhánh đó thì cắt bỏ ngọn Cây dưa chuột cắt tỉa theophương pháp 3, có thể tạo ra 18 - 20 quả trong 4 hoặc 5 tuần thu hoạch
- Phương pháp cắt tỉa 4 tương tự phương pháp 1, để bốn quả trên thânchính (mỗi nách lá một quả), hai đốt (nách lá) tiếp theo không để quả, và trình tựnày được lặp đi lặp lại cho đến khi cây cao đến đỉnh dây dàn thì uốn cong đểtiếp tục tăng trưởng kéo dài và thu thêm sáu quả thì cắt bỏ ngọn thân chính Vớiphương pháp này, cây dưa chuột cũng cho 18 - 20 quả trong 4 hoặc 5 tuần thuhoạch
Trang 20Kết quả thí nghiệm trên của Gobeil, G and Gosselin, A [25] cho thấy sốquả/cây dưa chuột khi sử dụng các phương pháp cắt tỉa 1, 2, 3, 4 lần lượt là 12,0;16,0; 16,6 và 16,8 quả/cây Các phương pháp cắt tỉa 2, 3, 4 không có sự khácbiệt đáng kể về số quả/cây Tuy nhiên thời gian thu hoạch quả khi áp dụng 4phương pháp cắt tỉa là khác nhau Phương pháp cắt tỉa 2 cho thời gian thu quảngắn nhất (18 - 27 ngày), trong khi áp dụng phương pháp 3, 4 cho thời gian thuquả dài hơn (32 - 42 ngày) Phương pháp cắt tỉa 2 cho phép chồi nách phát triển,
do đó cung cấp bổ sung một nguồn auxin đến cây dưa chuột, để kích thích quảphát triển Ngoài ra, một phần quang hợp cho cây là từ các lá trên nhánh thứ cấp,hiệu quả quang hợp của các lá này có thể khác với lá trên thân chính [25] Năngsuất dưa chuột khi áp dụng phương pháp cắt tỉa 2 là cao nhất (280 quả/m2) với
12 cây kế tiếp, trong khi phương pháp cắt tỉa 1 đạt 240 quả/m2 với 15 cây kế tiếp
và các phương pháp cắt tỉa 3, 4 còn cho năng suất thấp hơn
Tác giả Qian Hong (Trung Quốc), khi nghiên cứu trên giống Amata 765cho thấy, chiều dài quả bị ảnh hưởng lớn bởi biện pháp cắt tỉa Khi ngắt toàn bộnhánh trên thân chính từ đốt thứ 10 trở xuống và ở đốt thứ 10 chỉ để 1 lá và 1quả trên nhánh thì chiều dài quả cao nhất và cao hơn hẳn các phương pháp cắttỉa khác (dẫn theo Trần Thị Lệ, Nguyễn Hồng Phương, 2009) [9]
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam khi diện tích trồng dưa chuột ngày càng tăng cùng với lợi ích
mà nó mang lại thì cũng đã có những nghiên cứu về biện pháp cắt tỉa nhằm nângcao năng suất cũng như hiệu quả kinh tế
Nghiên cứu của Đào Xuân Thảng với giống dưa chuột Poung trồng ngoàiđồng (Dao Xuan Thang, 1996) [23] cho thấy công thức không ngắt cành ởthân chính nhưng tỉa các cành ở đốt thứ 4 cho năng suất thương phẩm caonhất Việc tỉa bớt nhánh không ảnh hưởng tới kích cỡ quả và khối lượng cây.Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Thắng, 2010 trên cây dưa Mèođược tạo hình, tỉa nhánh chỉ để 2 thân (gồm 1 thân chính và 1 nhánh cấp 1)
Trang 21thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất thực thu cao [11] Khi nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật trồng trọt phục vụ sản xuất dưachuột Hưng Yên, Nguyễn Văn Tráng, 2011 [19] cho rằng biện pháp cắt tỉa đểlại một thân chính và ba nhánh cấp 1 là có hiệu quả nhất với tỷ lệ đậu quả vànăng suất thực thu cao nhất Không những việc tỉa nhánh thưa mang lại năngsuất cao hơn mà còn giảm mức độ gây hại của một số đối tượng sâu, bệnh
từ đó giảm công lao động phun thuốc, giảm chi phí mua thuốc BVTV đồngthời giảm ô nhiễm môi trường
Việc tạo hình, tỉa nhánh cho dưa chuột còn tùy thuộc vị trí xuất hiện hoa(chủ yếu là hoa cái) và khả năng phân nhánh của giống mà có biện pháp tỉanhánh thích hợp Theo TS Trần Thị Minh Hằng (2008) [4], sản xuất dưa chuột
ở Việt Nam có nhiều cách tỉa nhánh như:
Để 1 thân chính hoặc 1 thân phụ
Để 2 thân: 1 thân chính + 1 nhánh cấp 1 hoặc để 2 nhánh cấp 1
Để 3 thân: 1 thân chính + 2 nhánh cấp 1 hoặc để 3 nhánh cấp 1
Trang 22PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống dưa chuột bản địa (dưa Mèo) của đồng bào dân tộc H’mông tỉnh Sơn
La do Bộ môn Rau Hoa Quả - Khoa Nông Học thu thập và tuyển chọn
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Khu thí nghiệm đồng ruộng khoa Nông Học – Trường Đại học Nôngnghiệp Hà Nội
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Vụ xuân - hè từ tháng 2/2012 đến tháng 6/2012
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp tỉa nhánh khác nhau đến sinhtrưởng - phát triển, tình hình sâu bệnh, các yếu tố cấu thành năng suất và năngsuất của giống dưa chuột bản địa H’mông vụ xuân - hè tại Hà Nội
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
nhiên đầy đủ (RCB), 7 công thức, 3 lần nhắc lại
CT1: Không tỉa nhánh (đối chứng)
CT2: Để lại 1 thân chính + 1 thân phụ
CT3: Để lại 1 thân chính + 2 thân phụ
CT4: Để lại 1 thân chính + 3 thân phụ
Trang 23- Lên luống rộng 1,2m; cao 25-30cm; rãnh rộng 30cm.
- Khoảng cách trồng: hàng cách hàng 70cm, cây cách cây 40cm, trồng 2 hàng/luống
Chăm sóc:
- Vun xới: Cây được vun xới 2 - 3 lần: lần 1 khi cây được 2 – 3 lá, lần 2 khicây có 4 – 5 lá thật, cây bắt đầu ra tua cuốn, xới kỹ và vun cao gốc, vét rãnh,làm sạch cỏ dại kết hợp bón thúc, sau đó cắm giàn
- Làm giàn: khi cây bắt đầu có tua cuốn thì tiến hành làm giàn, giàn làm hình
Trang 24chữ X.
- Tưới nước: Cây được giữ ẩm thường xuyên, đặc biệt trong thời kì 1 tuần saukhi gieo, 4-5 lá và thời kì ra hoa rộ Sử dụng kỹ thuật tưới rãnh cho cả quátrình thực hiện thí nghiệm
Thực hiện biện pháp phòng trừ tổng hợp như tỉa bớt lá già ở gốc Với bệnh
phấn trắng (Erysiphe cichoracearum) xuất hiện lúc cây còn nhỏ và bắt đầu ra
hoa cái chúng tôi tiến hành phun thuốc Anvil 5SC để phòng, trừ kịp thời Về
bệnh sương mai giả dưa chuột (Pseudoperonospora Cubensis) khi phát hiện ra
chúng tôi sử dụng thuốc Ridomil 68WP để phun ngăn không cho bệnh pháttriển Với những cây bị virus, chúng tôi tiến hành nhổ bỏ kịp thời tránh lây sangcây khác
Thu hoạch: Thu khi quả chín thương phẩm: quả được 7 – 10 ngày tuổi,
Trang 25quả to đẫy, hạt chưa phát triển
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
a) Các chỉ tiêu về sinh trưởng:
- Thời gian các giai đoạn sinh trưởng (ngày): ( tính theo 50% số cây/ô)
+ Thời gian từ trồng đến bắt đầu phân nhánh
+ Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa đực đầu tiên
+ Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa cái đầu tiên
+ Thời gian từ trồng đến ra quả lần đầu
+ Thời gian từ trồng đến thu quả đợt đầu
+ Thời gian thu hoạch
+ Tổng thời gian sinh trưởng: từ trồng ra ruộng đến thu quả đợt cuối
- Chiều dài thân chính (cm): đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng của thân chính; đườngkính thân chính (cm)
- Chiều dài và đường kính thân phụ (cm)
- Số cấp cành
- Số thân phụ ( theo dõi ở CT1: đối chứng)
- Số lá trên thân chính, thân phụ (lá): đếm số lá trên thân chính, thân phụ
- Kích thước lá: dài, rộng, chỉ số SPAD
b) Các chỉ tiêu về tình hình phát triển
- Vị trí xuất hiện hoa cái, hoa đực trên thân chính, thân phụ
- Số hoa cái, hoa đực trên thân chính và từng thân phụ
Số hoa cái trên cây
Trang 26 Sâu hại:
Đối tượng sâu hại: Bọ dưa (Aulacophora similis), sâu xanh ăn lá (Diaphania indica), bọ rùa 28 chấm (Epilachna vigintioctopunctata), ruồi đục quả (Bactrocera cucurbitae).
Mức độ gây hại: Đánh giá theo thang điểm của Trung tâm rau thế giới(AVRDC)
+ Điểm 1: Không bị sâu hại
+ Điểm 2: Một số cây bị hại
+ Điểm 3: 50 % số cây bị hại
+ Điểm 4: Phần lớn các cây bị hại
- Mức độ nhiễm sương mai (Pseudoperonospora Cubensis).
- Mức độ nhiễm phấn trắng ( Erysiphe cichoracearum).
Được đánh giá bằng cách cho điểm theo hướng dẫn của AVRDC:
- Điểm 0: Không có triệu chứng
- + : Nhẹ - Triệu chứng đầu tiên đến 19% diện tích lá bị nhiễm
- ++ : Trung bình – 20-39% diện tích lá bị nhiễm
- +++ : Nặng – 40-59% diện tích lá bị nhiễm
- ++++ : Rất nặng – 60-79% diện tích lá bị nhiễm
- +++++ : Nghiêm trọng – ≥ 80% diện tích lá bị nhiễm
+ Tỉ lệ cây nhiễm bệnh virus (%) (Cucumis mosaic virus): đếm số cây nhiễm
bệnh và tính tỉ lệ cây nhiễm bệnh trên tổng số cây trong ô
d) Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Trang 27- Số quả trung bình trên cây (quả)
- Khối lượng trung bình 1 quả (gam)
- Năng suất cá thể (kg/cây) = khối lượng TB quả × số lượng quả/cây
- Năng suất thực thu ô
- Năng suất thực thu (tấn/ha) = năng suất thực thu ô quy đổi ra ha
- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = năng suất cá thể × mật độ trồng/ha
e) Đặc điểm cấu trúc và chất lượng quả
- Chiều dài quả (cm): đo từ đầu quả đến cuối quả bằng thước dây
- Đường kính quả (cm): đo đoạn giữa của quả dưa chuột
- Độ dày thịt quả (cm): dùng thước panme đo khoảng cách từ vỏ quả đếnruột quả
- Độ brix: sử dụng may đo Master refactometer
- Độ cứng: sử dụng máy đo Wagner instruments
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình IRRISTAT 5.0 và Excel [8]
Trang 28PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các giai đoạn sinh trưởng của giống dưa chuột H’mông.
Sinh trưởng, phát triển là biểu hiện sự biến đổi về lượng và về chất trongchu kỳ sống của thực vật Sự sinh trưởng về kích thước, trọng khối và hìnhthành các yếu tố cấu tạo mới là tiền đề cho sự phát triển và ngược lại sự pháttriển là quá trình biến đổi về chất bên trong dẫn đến sự ra hoa kết quả lại thúcđẩy sự sinh trưởng (Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Đình Thi, 2008) [6]
Đối với dưa chuột quá trình sinh trưởng, phát triển của cây được tính từ khihạt nảy mầm tới khi cây ra hoa, hình thành quả và kết thúc thu hoạch, quá trìnhnày phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnh cũng nhưđiều kiện chăm sóc mà các giai đoạn này sẽ bị thay đổi ngắn hay dài Nghiêncứu thời gian sinh trưởng phát triển của cây giúp chúng ta điều khiển quá trìnhnày theo hướng có lợi để nâng cao năng suất, phẩm chất giống Đồng thời đâycũng là cơ sở để đưa ra các biện pháp kỹ thuật hợp lý, xác định được thời vụtrồng trong cơ cấu luân canh, hạn chế tối thiểu tác động của điều kiện ngoạicảnh, tạo điều kiện tốt nhất cho cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất mang lại hiệuquả kinh tế cao nhất Kết quả theo dõi về ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đếnthời gian qua các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu của giống dưa chuột H’môngđược trình bày ở bảng 4.1
4.1.1 Thời gian từ trồng đến khi bắt đầu phân nhánh
Dưa chuột là cây có tập tính phân nhánh mạnh, sau khi hình thành 2 – 3 láthật, tua cuốn và nhánh cấp một bắt đầu xuất hiện Đối với các công thức có cắttỉa khi nhánh phát triển được khoảng 1cm thì tiến hành ngắt bỏ ngay tùy thuộcvào từng công thức khác nhau Bởi nếu thực hiện tỉa nhánh muộn sẽ ảnh hưởngđến sinh trưởng phát triển của cây nên việc nghiên cứu thời gian cây bắt đầuphân nhánh là rất quan trọng đặc biệt đối với biện pháp cắt tỉa
Trang 29Bảng 4.1: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu
của giống dưa chuột H’mông
Đơn vị tính: Ngày
Thời gianthu hoạch
Tổng thờigian sinhtrưởng
Kí hiệu Số nhánh/cây
Bắt đầuphânnhánh
Xuất hiệnhoa đựcđầu tiên
Xuất hiệnhoa cáiđầu tiên
Ra quả lầnđầu
Thu quảđợt đầu
Trang 30Nhìn chung thời gian từ trồng đến bắt đầu phân nhánh của các công thứcthí nghiệm là không có sự sai khác và biến động từ 20 – 22 ngày, do thời điểmnày cây chưa bị ảnh hưởng bởi biện pháp cắt tỉa Tuy nhiên nó lại là cơ sở đểxác định thời gian thực hiện biện pháp cắt tỉa, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, pháttriển của cây sau này.
4.1.2 Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa đực và hoa cái đầu tiên
Thời kỳ này cây vừa sinh trưởng sinh dưỡng đồng thời chuyển từ sinhtrưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Vì vậy, mọi bất lợi của điều kiệnngoại cảnh đều ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng các cơ quan sinhsản và khả năng ra hoa cũng như tỷ lệ đậu quả của các công thức thí nghiệm.Thời gian này có liên quan đến giai đoạn từ phân hoá mầm hoa đến sự hìnhthành nụ hoa và kết thúc bằng sự ra hoa toàn bộ của cây Theo quan điểm nônghọc thì thời kỳ này có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc xác định tính chín sớmhay tính chín muộn của giống
Thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa đực đầu tiên của các công thức thínghiệm là 23 – 25 ngày, công thức đối chứng ra hoa đực đầu tiên muộn nhất(sau trồng 25 ngày) Các công thức thí nghiệm còn lại đều xuất hiện hoa đực đầutiên sớm hơn công thức đối chứng từ 1 – 2 ngày Từ đó cho thấy việc tiến hànhbiện pháp cắt tỉa đã tác động đến thời gian ra hoa đực đầu tiên của các công thứctuy nhiên nó không đáng kể, trong đó công thức cắt tỉa để lại 1 thân chính và 1thân phụ ra hoa đực sớm nhất (sau trồng 23 ngày)
Các công thức thí nghiệm có thời gian từ trồng đến xuất hiện hoa cái đầutiên dao động từ 30 – 35 ngày Khoảng thời gian này phụ thuộc vào đặc tính ditruyền của giống và điều kiện ngoại cảnh cũng như các biện pháp tác động.Công thức cắt tỉa có thời gian ra hoa cái đầu tiên sau trồng ngắn nhất là 30 ngàygồm CT2, CT5 sớm hơn so với đối chứng 5 ngày Các công thức gồm CT3,CT4, CT6 và CT7 đều xuất hiện hoa cái đầu tiên sớm hơn công thức đối chứng
Sở dĩ có kết quả trên theo chúng tôi là do thực hiện cắt tỉa bớt các thân phụ trên
Trang 31cây giúp kích thích quá trình sinh trưởng sinh thực của cây nên các công thức cócắt tỉa đều có thời gian xuất hiện hoa cái đầu tiên sớm hơn công thức đối chứng Khoảng thời gian từ lúc hoa đực đầu tiên xuất hiện đến khi ra hoa cái đầutiên giữa các công thức biến động từ 6 – 10 ngày Việc xác định thời gian nàycũng rất quan trọng bởi nếu khoảng cách quá xa sẽ gây ảnh hưởng đến quá trìnhthụ phấn, thụ tinh, làm giảm tỷ lệ đậu quả Trong các công thức thí nghiệm thìcông thức cắt tỉa để lại 1 thân phụ và bấm ngọn thân chính có thời gian từ lúc rahoa đực đến ra hoa cái đầu tiên ngắn nhất (6 ngày), và dài nhất là công thức đốichứng (10 ngày).
Nghiên cứu thời gian ra hoa cái đầu tiên giúp chúng ta có những địnhhướng và biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp nhất nhằm tăng khả năng ra hoatập trung và tỷ lệ hoa cái cho dưa chuột H’mông Theo Tạ Thu Cúc sự xuất hiệnhoa cái sớm hay muộn, nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng,chất dinh dưỡng và nồng độ CO2, cụ thể: nhiệt độ 18±60C , thời gian chiếu sáng
10 - 11giờ/ngày, nồng độ CO2 thích hợp [2] Ở thời kỳ này sự cân bằng giữasinh trưởng sinh thực và sinh trưởng sinh dưỡng là rất quan trọng Nếu bónnhiều đạm, cây sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh sẽ kéo dài thời gian ra hoa,giảm khả năng chống chịu với sâu bệnh hại và điều kiện bất thuận của thời tiết.Trong thực tế tiến hành thí nghiệm, điều kiện thời tiết trong giai đoạn này thờitiết ấm áp, thời gian chiếu sáng thuận lợi, bón phân hợp lý cũng là nguyên nhângiúp cây dưa chuột H’mông ra hoa sớm
4.1.4 Thời gian từ trồng đến đậu quả đầu tiên.
Thời điểm đậu quả đầu tiên là mốc quan trọng để phán đoán thời điểm thuquả đợt đầu, có ý nghĩa trong việc bố trí các biện pháp kỹ thuật thích hợp, đảmbảo thu quả đủ tiêu chuẩn chất lượng kinh tế Thông thường sau khi hoa cái xuấthiện 2 ngày, quá trình thụ phấn thụ tinh được diễn ra thì sẽ thấy cánh hoa héo đi,bầu hoa phát triển, đó được tính là thời điểm quả đậu Bởi vậy thời điểm đậu quảđầu tiên sẽ phụ thuộc vào thời gian xuất hiện hoa cái và điều kiện thời tiết lúc
Trang 32xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh Nhìn chung các công thức cắt tỉa đều có thờigian từ trồng đến đậu quả đầu tiên ngắn hơn so với công thức đối chứng từ 1 – 4ngày Và công thức nào xuất hiện hoa cái đầu tiên sớm hơn thì thời gian từ trồngđến đậu quả đầu cũng sớm hơn, trong đó CT2 và CT5 đậu quả đầu tiên sớm nhấtsau trồng 33 ngày
4.1.5 Thời gian từ trồng đến khi thu hoạch lần đầu tiên
Khái niệm quả chín ở dưa chuột được chia làm 2 dạng: chín thương phẩm
và chín sinh lý Trong phần này chỉ đề cập đến thời gian từ trồng đến khi thu quảchín thương phẩm đầu tiên (quả ăn tươi) Trong thí nghiệm này chúng tôi thuquả thương phẩm sau khi đậu quả từ 7 – 10 ngày Điều này có ý nghĩa vô cùngquan trọng trong việc xác định mật độ, khoảng cách trồng giống dưa chuộtH’mông nhằm rút ngắn thời gian gieo trồng trên đồng ruộng, tránh rủi ro củađiều kiện ngoại cảnh, tăng cơ cấu luân canh cây trồng
Thời gian từ trồng đến thu quả thương phẩm đầu tiên của các công thức thínghiệm dao động từ 41- 44 ngày, trong đó công thức đối chứng cho thu quả đợtđầu muộn nhất sau trồng 44 ngày Các công thức cắt tỉa đều có thời gian từ trồngđến khi thu hoạch lần đầu ngắn hơn công thức đối chứng, với CT3 và CT5 chothu quả đợt đầu sớm nhất (sau trồng 41 ngày)
4.1.6 Thời gian thu hoạch
Thời gian cho thu hoạch là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá các côngthức thí nghiệm khác nhau cũng như biện pháp kỹ thuật áp dụng Thời gian thuhoạch dài với số lần thu hoạch nhiều thì cho năng suất cao và ngược lại Tuynhiên nếu thời gian thu hoạch quá dài có thể gây trở ngại cho việc bố trí thâmcanh tăng vụ, ảnh hưởng đến gieo trồng ở thời vụ sau Vì thế cần tác động biệnpháp kỹ thuật để có thời gian thu hoạch hợp lý
Các công thức thí nghiệm có thời gian thu hoạch quả biến động lớn từ 22 –
30 ngày Trong đó công thức cắt tỉa để lại 2 thân phụ và bấm ngọn (CT5) có thờigian thu hoạch ngắn nhất (22 ngày) ít hơn so với công thức đối chứng 4 ngày,
Trang 33công thức để lại 2 thân phụ không bấm ngọn (CT2) cũng có thời gian cho thuquả ngắn (23 ngày) Ngược lại CT4 (để lại 3 thân phụ) cho thu hoạch quả trongthời gian dài nhất (30 ngày), cùng với CT3 và CT6 đều có thời gian cho thu quảnhiều hơn đối chứng từ 1 – 4 ngày Thời gian cho thu hoạch phụ thuộc chủ yếuvào tổng số hoa cái trên cây, mà tổng số hoa cái trên cây lại phụ thuộc vào sốthân phụ để lại trên cây Ở CT2 và CT5 tiến hành cắt tỉa chỉ để lại 1 thân phụvậy nên tổng số hoa cái trên cây ít, ảnh hưởng tới số quả trên cây dẫn tới thờigian cho thu hoạch ngắn Như vậy các biện pháp cắt tỉa khác nhau dẫn tới thờigian thu hoạch của các công thức thí nghiệm khác nhau là có ý nghĩa
4.1.7 Tổng thời gian sinh trưởng
Tổng thời gian sinh trưởng là đặc điểm phản ánh đặc tính di truyền củagiống, và phản ứng của giống với điều kiện ngoại cảnh Dựa vào thời gian sinhtrưởng giúp chúng ta xác định thời vụ trồng thích hợp, cũng như bố trí cơ cấuluân canh hợp lý Theo dõi thời gian sinh trưởng của dưa chuột H’mông tại cáccông thức thí nghiệm chúng tôi nhận thấy, thời gian sinh trưởng của dưa chuột ởcác công thức thí nghiệm dao động từ 63 – 72 ngày Sở dĩ có sự biến động vềtổng thời gian sinh trưởng của các công thức thí nghiệm theo chúng tôi là do sựkhác nhau của các yếu tố gồm: thời gian xuất hiện hoa đực, hoa cái; tổng số hoacái, mà các yếu tố này lại bị tác động bởi các biện pháp cắt tỉa khác nhau CT5xuất hiện hoa sớm nhất đồng thời bấm ngọn thân chính, chỉ để lại 2 thân phụ nên
số hoa cái ít hơn làm cho thời gian thu hoạch ngắn vậy nên có thời gian sinhtrưởng ngắn nhất (63 ngày); tương tự thế CT2 cũng có thời gian sinh trưởngngắn (65 ngày) Công thức cắt tỉa để lại 1 thân chính và 3 thân phụ có thời giansinh trưởng dài nhất (72 ngày) do tổng số hoa cái trên cây nhiều hơn cho thuhoạch trong thời gian dài (30 ngày) Nhìn chung thời gian sinh trưởng của cáccông thức cắt tỉa là khác nhau và khác với đối chứng Hay nói cách khác biệnpháp cắt tỉa khác nhau là có ảnh hưởng rõ tới thời gian sinh trưởng của các côngthức thí nghiệm
Trang 344.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các đặc điểm sinh trưởng, phát triển chủ yếu của giống dưa chuột H’mông
4.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển thân của giống dưa chuột H’mông.
Chiều dài và đường kính thân chính, thân phụ của cây dưa chuột H’mông lànhững chỉ tiêu quan trọng giúp chúng ta đánh giá được khả năng sinh trưởngphát triển của giống, đồng thời là cơ sở để đưa ra những tác động kỹ thuật phùhợp nhất giúp cây phát triển tốt Quá trình theo dõi một số đặc điểm sinh trưởngthân, cành của dưa chuột H’mông ở các biện pháp cắt tỉa khác nhau chúng tôithu được kết quả trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số đặc điểm sinh
trưởng thân, cành của giống dưa chuột H’mông
cànhcấp 1
Số cấpcành
Kí hiệu Số nhánh/
cây
Chiềudài(cm)
Đườngkính(mm)
Chiềudài(cm)
Đườngkính(mm)
4.2.1.1 Chiều dài thân chính
Chiều dài thân chính cuối cùng là một chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh
Trang 35trưởng của cây, đồng thời giúp đánh giá khả năng chống chịu của cây trong cùngmột điều kiện chăm sóc như nhau Chiều dài thân chính phụ thuộc vào bản chất ditruyền của mỗi giống, điều kiện ngoại cảnh và chế độ dinh dưỡng Nó quyết địnhđến số lóng, số lá và số hoa trên cây nên ảnh hưởng tới cả sinh trưởng, phát triểncủa cây Thông thường trong một giới hạn nhất định sự sinh trưởng tốt sẽ tạo tiền
đề cho sự phát triển tốt Tuy nhiên nếu vượt qua giới hạn đó sinh trưởng quá mạnh
sẽ kìm hãm sự phát triển Đó là trường hợp cây bị lốp đổ do độ ẩm quá cao, bónnhiều đạm làm cho cây tập trung vào sinh trưởng thân lá và ra hoa chậm
Kết quả ở bảng 4.2 cho thấy các công thức cắt tỉa không bấm ngọn thânchính có chiều dài thân chính cuối cùng dao động khá lớn từ 285,2 – 307,7 cm.Hai công thức không bấm ngọn thân chính, tỉa nhánh để lại 2 thân phụ (CT3) và
3 thân phụ (CT4) có chiều dài thân chính lớn nhất và dài hơn so với công thứcđối chứng từ 15,3 – 22,4 cm Điều này theo chúng tôi, do các công thức 3, 4được tỉa bớt nhánh để lại số thân phụ thích hợp, cây không bị rậm rạp, bộ lánhận được nhiều ánh sáng để quang hợp, dinh dưỡng được tập trung nên thânchính phát triển mạnh hơn các công thức khác Ở các công thức cắt tỉa bấm ngọnthân chính thì biện pháp này được thực hiện vào lúc cây cao khoảng 1m nênchiều dài thân chính cuối cùng không khác biệt nhiều biến động từ 100,8 –101,1 cm Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy rằng các công thức cắt tỉa khácnhau có ảnh hưởng đáng kể đến chiều dài thân chính của cây Trong đó côngthức cắt tỉa không bấm ngọn, để lại 3 thân phụ (CT4) và bấm ngọn thân chính,
để lại 3 thân phụ (CT6) là có thân chính dài nhất giúp cây sinh trưởng tốt tạođiều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển
4.2.1.2 Chiều dài thân phụ
Chiều dài thân phụ là chỉ tiêu cần thiết giúp chúng ta đánh giá được ảnhhưởng của các biện pháp cắt tỉa tới sinh trưởng, phát triển thân phụ của các côngthức thí nghiệm, từ đó có cơ sở đưa ra biện pháp cắt tỉa thích hợp nhất Kết quả
từ bảng 4.2 cho thấy các công thức có chiều dài thân phụ biến động lớn từ 137,3