Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu mô hình tự trị trong thương mại điện tử dựa trên công nghệ tác tử, một công nghệ tương đối mới trên Internet; đưa ra cấu trúc của một đối tượng tr
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007
Hệ thống tự trị trong thương mại điện tử
Vũ Văn Nam (a) Tóm tắt Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu mô hình tự trị trong thương mại
điện tử dựa trên công nghệ tác tử, một công nghệ tương đối mới trên Internet; đưa ra cấu trúc của một đối tượng tri thức - Knowledge Object, các trạng thái và thao tác trên nó và một hệ thống tích hợp các tác tử
1 Giới thiệu
Tự động trong kinh doanh là loại bỏ hay giảm bớt sự can thiệp của con người vào xử lý dữ liệu và ra quyết định, làm giảm chi phí thao tác, thời gian trễ và làm tăng lợi nhuận và chất lượng dịch vụ
Hiện nay nhu cầu xây dựng các hệ thống thông tin tự động mà chúng có thể chấp nhận các dữ liệu kinh doanh phân tán, động và pha tạp, nắm bắt các luồng công việc và điều khiển các giao dịch một cách tự động của các công ty buôn bán trên mạng ngày càng cao
Tự động “mềm” của các hoạt động kinh doanh là tự động xử lý yêu cầu, quản lý nguồn lực, xác định và thực hiện giao dịch, mua, bán, lập kế hoạch tài chính và thương mại Mục tiêu của tự động kinh doanh là giảm việc cần tham gia của con người đến mức tối thiểu và giảm thời gian đáp ứng, thời gian ngừng trễ và tổng chi phí trong xử lý dữ liệu, ra quyết định và các quá trình hành chính
Nói chung, tự động kinh doanh bao gồm tự động nhận, cập nhật, kết nối và xử
lý dữ liệu vào trong các giao dịch kinh doanh và tiến hành các giao dịch đó thay cho các phần kinh doanh Các yêu cầu và cung ứng có thể được tạo ra, được so khớp và
xử lý một cách tự động
2 CÁC KếT QUả ĐạT ĐƯợC
Phần I Đối tượng tri thức với vai trò tác tử cho tự động kinh doanh
I Các yêu cầu cho một hệ thống Business Automation
Các thách thức của tự động kinh doanh là dữ liệu kinh doanh có thể:
i) Pha tạp: Có các dạng khác nhau
ii) Có tính động: Sẵn sàng ở mọi thời điểm khác nhau
iii) Phân tán: Được lưu trữ ở các địa điểm khác nhau
iv) Liên hệ: Được kết nối với nhau bằng nhiều cách
Các giao dịch kinh doanh cần được định hình và thực hiện trong nhiều cách khác nhau dựa trên các yêu cầu và tình thế động Ngoài ra, không kể cấp độ của tự động,
ở đây luôn có một số hoạt động mà vẫn kéo theo sự tham gia của con người như là: người dùng tạo yêu cầu, hay các nhà quản lý và chuyên gia ra quyết định cuối cùng Vì thế, vẫn là cần thiết cho các hệ thống tự động kinh doanh phải có khả năng tích hợp các hoạt động của con người Các yêu cầu chính khác của tự động kinh doanh là: Tính tự trị, tính sẵn sàng, tính chịu lỗi, tính toàn vẹn, tính mở, tính đầy đủ và tính quay vòng (chu kỳ) Để xây dựng một hệ thống kinh doanh hoàn toàn tự động chúng
ta cần giải quyết các vấn đề sau:
Nhận bài ngày 09/3/2006 Sửa chữa xong 19/9/2006
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007
Tự động về giao diện (Interface automation)
Tự động về dữ liệu (Data automation)
Tự động phân tích (Analysis automation)
Tự động cầu-cung (Demand – Supply automation)
Tự động giao dịch (Transaction automation)
Tự động thực thi (Implementation Automation)
Tự động luồng công việc (Workflow automation)
Trong việc xây dựng các hệ thống tự động hay bán tự động kinh doanh có hai phương pháp chính:
i) Phương pháp phụ thuộc: Các thành phần của hệ thống liên quan và phụ thuộc mạnh vào nhau
ii) Phương pháp tự trị: Các thành phần có thể hành động tự chủ
Phương pháp thứ nhất (i) có hiệu quả cho sự phát triển một lần Song, nó cứng nhắc và khó kết hợp các thành phần và khó mở rộng (thay đổi kích thước) Các thành phần hệ thống phụ thuộc vào nhau và làm việc với nhau dựa trên sự kết hợp
cố định Nếu một thành phần hỏng sẽ dẫn đến hỏng toàn hệ thống Sự tự trị của cả
hệ thống kinh doanh đạt được dựa trên một kiến trúc được thiết kế cẩn thận của hệ thống và của mỗi thành phần Phương pháp này phù hợp với việc thực thi các hoạt
động chuyên biệt Song, có thể rất phức tạp để thiết kế một kiến trúc tổng thể cho tự
động kinh doanh bằng phương pháp này
Phương pháp thứ hai (ii) có thể thực hiện được bằng sử dụng công nghệ “tác tử” Các thành phần hệ thống kinh doanh có thể được xây dựng như các tác tử tự trị mà chúng thực thi các chức năng của các thành phần đó và có thể hoạt động độc lập Các giao dịch và trao đổi dữ liệu giữa các thành phần được thực hiện thông qua giao dịch
và liên lạc tác tử Phương pháp tác tử có thể cung cấp các thủ tục có mục đích tổng quát hơn với sự phối hợp mềm dẻo và tính chịu lỗi cao hơn Khi cung ứng kinh doanh thay đổi chúng ta không cần xây dựng lại toàn bộ hệ thống Khi một tác tử bị hỏng
nó dễ dàng được thay thế và có thể làm được thậm chí không cần dừng cả hệ thống lại
ở đây chúng ta chấp nhận phương pháp tác tử vì tính tự trị và tính mềm dẻo của nó Ta gọi các tác tử cơ sở đơn giản là các đối tượng tri thức (Knowledge Object – KO), sử dụng chúng để xây dựng các hệ thống tự trị với một kiến trúc phân tầng
II KO với vai trò là tác tử dữ liệu
Mỗi một mục dữ liệu kinh doanh đều được đại diện bởi một KO Dữ liệu này có thể chứa yêu cầu, cung cấp hoặc có thể thay đổi trong khi giao dịch Nghĩa là phụ thuộc và nhận biết theo tình trạng của nó một KO có thể đại diện một cung, cầu hoặc một kết quả tức thì của giao dịch KO có thể mô tả các mục dữ liệu của nhiều kiểu khác nhau: Tệp (văn bản, nhị phân, âm thanh, video, ảnh,…), một bản ghi hay một trường trong một cơ sở dữ liệu, email, các dòng dữ liệu từ các cảm biến robot v v
Phần đầu chứa thông tin xác định KO, kết nối hoặc trỏ đến mục dữ liệu đã cho Phần dữ liệu chứa danh sách các từ khoá {k1, k2, …} và các thuộc tính khác cho dữ liệu đã cho như độ ưu tiên, thời gian tạo lập Phần chỉ thị (lệnh) định nghĩa các hành
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007
động mà có thể được thực hiện trên dữ liệu đã cho ở đây có nhiều kiểu lệnh: hệ thống, nhập khẩu, xuất khẩu và nội tại
• Các lệnh hệ thống là các lệnh được định nghĩa trong tập lệnh hệ thống (SIS) nhờ các phần trung gian hỗ trợ KO
• Các lệnh nhập khẩu là các lệnh được định nghĩa bởi các KO khác tương tác với
KO đã cho
• Các lệnh xuất khẩu là các lệnh được định nghĩa bởi KO đã cho mà chúng có thể
được sử dụng bởi các KO khác khi chúng tương tác với KO đã cho
• Các lệnh nội tại là các các lệnh được định nghĩa bởi KO và được thực thi khi KO kích hoạt
Sự cho phép với mỗi loại chỉ thị được xác định bởi chủ sở hữu của KO khi KO
được tạo ra Các sự cho phép này có thể làm KO mở, đóng và thay đổi trong quá trình tồn tại của KO So sánh với các phương pháp mô tả dữ liệu truyền thống như file hay cơ sở dữ liệu KO mô tả dữ liệu bằng một cách tích cực hơn nhiều Trong khi các mục dữ liệu trong files và cơ sở dữ liệu thụ động và được trích lọc và xử lý chỉ bởi các chương trình xử lý hoặc các yêu cầu ngoài, với KO dữ liệu có thể tự xử lý qua các chỉ thị của KO và các tương tác Dữ liệu liên quan có thể tìm thấy và tích hợp với nhau qua các tương tác với KO khác Trong các hệ thống dựa tác tử KOs được hỗ trợ bởi các phần trung gian được gọi là KOM (Knowledge Object Middleware)
III Nguyên tắc của các hệ thống dựa KO
Các KO là các chương trình chạy tự trị và chia sẻ cùng các chuẩn bao gồm cùng một cấu trúc, tình trạng và thao tác Các KOs được hỗ trợ bởi phần trung gian đa tác
tử gọi là KOM
Trạng thái và thao tác KO
Một KO có thể có một trong các tình trạng sau XS = {X-new, X-act, X-bus, X-pas, X-ter} thay cho new, active, busy, passive and terminated states Khi một đối tượng
Oi trong tình trạng hoạt động nó có thể thực thi các chỉ thị nội tại IR của nó và tương tác với đối tượng Oj khác bằng việc thực thi các chỉ thị nhập khẩu từ Oj cho phép Oj
tiến hành các chỉ thị xuất khẩu từ Oi
Trong ngữ cảnh tự trị kinh doanh, KOM hoặc KO tự nó có thể có các thao tác trên đối tượng kinh doanh {O1, O2, …, OQ} :{Creation; Activation, DisActivation, Termination} = {CrO, AcO, DiO, TeO} Thao tác tạo CrO(Oi) sinh ra một KO mới từ các đối tương kinh doanh DTi dựa trên các qui tắc tạo CR : {BD, BK] -> [CR] -> Oi ∈
O = {O1, O2, , OQ} Thao tác kích hoạt AcO(Oi) trên đối tượng Oi tải Oi vào vùng KO trong bộ nhớ chính chứa các đối tượng hoạt động Một khi đối tượng đã ở trong vùng
KO thì nó chạy như một chương trình Thao tác DisActivation Dis(Oi) đặt Oi vào cơ
sở KO trong bộ nhớ cố định Thao tác Termination TeO(Oi) kết thúc Oi và có thể sản xuất dữ liệu tương ứng hoặc tri thức dựa trên qui tắc tạo TR: O->[CR] -> {BD,BK}
Sau đây ta sẽ xét các trạng thái của KO được biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác như thế nào và thao tác nào được kéo theo trong việc chuyển đổi
đó
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007
Hình 1: Các trạng thái và thao tác của KOs Tương tác KO: Nếu một đối tượng Oi trong trạng thái hoạt động thì X-act sẽ cập nhật cho nó các khoá {k1, k2, …} dựa trên các thay đổi trong mục dữ liệu DTi
trong lúc đang chờ đợi thực hiện một trong các thao tác con (Xem hình 2) Việc thực thi bất kỳ thao tác con nào cũng đưa đối tượng đã cho về trạng thái X-bus Sau đó, Oi
có thể ở một trong các pha: <Bị cô lập|Giao dịch> (<Isolative|Interactive>) mà các pha này có thể được chia ra thành các chế độ khác nhau như sau:
• <Cô lập> = {Nhân bản, Tự xử lý}
• <Giao dịch> = {Trao đổi, Trộn, Hoà nhập}
Các thao tác con có thể được thực thi suốt thời gian đối tượng kích hoạt
Trong chế độ nhân bản (Multiplication mode): Thao tác nhân bản MuO sẽ nhân một đối tượng hoạt động thành một nhóm của các đối tượng như nhau, dựa trên luật nhân bản MuR mà nó có thể yêu cầu sự hiện diện của một số đối tượng khác như sự kích thích phép nhân bản, MuO: O-> [MuR] ->O
Trong chế độ tự xử lý (Seft-processing mode): Thao tác SeO cho phép đối tượng đã cho Oi tự mình thay đổi không chỉ dữ liệu mà cả đối tượng qua các chỉ thị nội tại của
nó
Trong chế độ trộn (Merge mode): Thao tác trộn MeO kết hợp đối tượng đã cho với các đối tượng hoạt động khác dựa trên luật trộn MeR mà nó xác định các điều kiện của các loại đối tượng và có thể trộn được trong tình hình nào MeO: O->[MeR] ->O Trong chế độ hoà nhập (Intermingling mode): Thao tác hoà nhập InO cho phép các đối tượng đã cho Oi và Oj đổi dữ liệu và chỉ thị cho nhau
X-bus
X-Net
X-pas
X-new
X-ter
Tạo mục
dữ liệu
Xoá mục dữ liệu
MuO
TeO
TeO CrO
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 Trong chế độ trao đổi (Exchange mode): Thao tác tráo đổi ExO cho phép đối tượng
đã cho Oi thực hiện các chỉ thị xuất khẩu từ đối tượng Oj dựa trên các luật trao đổi ExR, ExO: O ->[ExR] ->O
Giả sử ta có một mục dữ liệu Data-k chứa một yêu cầu kinh doanh D-k và một mục dữ liệu Data-h chứa một cung cấp D-h Các đối tượng tương ứng được sinh ra là Ok
và Oh Nếu Ok và Oh hoạt động và thoả mãn các luật giao dịch thì Ok và Oh sẽ cho kết quả một giao dịch khi chúng tương tác với nhau qua một trong các thao tác con Chúng ta có thể có: {Ok, Oh]->[MeR, TR] ->Ot trong đó Ot là một đối tượng mô tả kết
Data- j
Oj
Oi
Oj
Ok
Data- j
Data- i
Ok
Data- j
Oj
Oi
Oj
Oi
Data- j
Data- i
Oi
Oj
Data-j’
Data-i’
Oi’
Oj’
Oi
Oj
Oi’
Oj’
Trao đổi
Trộn
Nhân bản
Hoà nhập
Tự xử lý
Data- j
Oj
Oi
Oj
Data-j’
Data-i’
Oi
Oj Trước tương tác Trong tương tác Sau tương tác
Data-j’ O’j
Hình 2: Các thao tác con và chế độ con của KO
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 quả của giao dịch Nếu không cần giao tiếp gì nữa thì giao dịch được thực thi bởi sự
đốt cháy đối tượng đã cho Ot: Ot->[CR] –> T sản xuất ra dữ liệu cần thiết
Data-T và giao dịch hoàn tất Việc đốt cháy (firing) được hoàn thành cũng có thể nhờ thao tác kết thúc TeO hoặc qua chế độ tự xử lý
Trong các hệ thống động nơi có thể xuất hiện yêu cầu mới hay thêm vào, ví dụ như
TR bị thay đổi, yêu cầu mới được mô tả như là Os Một khi yêu cầu được thoả hoặc Ot
bị đốt cháy nó sẽ thay đổi các tính chất của đối tượng Os sao cho Ot và Os có thể thực hiện một giao dịch thêm, nên ta có: {Ot, Oi} -> [MeR, TR] –>Ot’ và cứ thế Nếu chúng
ta sử dụng Ξ(Ox, Oy)|R làm ký hiệu kết quả của tương tác Ox và Oy dưới luật R thì ta có:
Ξ(Ok, Oh)|[MeR, TR] = Ot và Ξ(Ot, Os)|[MeR, TR] = Ot’
IV Cấu trúc và các thành phần của hệ thống dựa trên KO (KO-based System)
Các KO được tạo ra và hỗ trợ bởi một phần trung gian KO (KOM: KO Middleware) Vì vậy hệ thống kinh doanh dựa trên KO có 3 tầng: Data, KO và KOM
Để tạo ra các đối tượng mới, chạy các đối tượng đang kích hoạt, giữ yên các đối tượng thụ động và cung cấp các dịch vụ cần thiết của hệ thống Phần trung gian KOM có các thành phần sau: Bộ sinh KO (KO Generator), cơ sở KO (KO Base), vùng chứa
KO (KO Pool), các dịch vụ KO (tên, khoảng cách) và cơ sở tri thức hệ thống
Bộ sinh KO sản xuất ra một KO cho mỗi mục dữ liệu hay yêu cầu Các KO được
đăng ký và gán ID bởi các dịch vụ KO Phụ thuộc vào số lượng (dân số) KO, độ ưu tiên của KO và dung lượng hệ thống, các KO được kích hoạt và chạy trong phần chứa KO hoặc quay lại trạng thái thụ động và được lưu giữ trong KO Base và cứ thế Cơ sở tri thức hệ thống chứa các luật tương tác và giao dịch và các tri thức và ràng buộc khác để cập nhập tri thức của chính mình
Hình 3: Kiến trúc KOM và các thành phần
Các KO được chia làm hai tầng: Vùng chứa KO – KO Pool - cho các KO đang hoạt động và vùng chứa các KO thụ động Các KO được chia thành các cụm dựa trên khoảng cách được xác định bởi dịch vụ KO theo các tiêu chuẩn khác nhau Các đối
KO - Services
KO-POOL
KO-BASE
Data-
Data-
Data-
Knowledge Base
KO-Generator
KO3
KO2
KO1
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 tượng có thể nhận biết được nhau có thể tương tác với nhau theo phương thức peer –
to – peer (ngang hàng) Trong khi bị kéo vào một thao tác đối tượng đã cho ở trong trạng thái X-Bus Nó chỉ có thể tương tác với một số KO đã cho tại thời điểm được xác định bởi {MeR, InR, ExR} Nếu có nhiều đối tượng có thể phục vụ như các ứng cử viên cho một tương tác với đối tượng đã cho các đối tượng này sẽ cạnh tranh với các
đối tượng khác theo luật cạnh tranh CoR trong khoảng chu kỳ đã cho của thời gian gọi là TWW (time working window)
Phần II Các tác tử phần mềm cho IAS và thiết kế của chúng (IAS - Internet Agent-based System)
I Nguyên lý các hệ thống dựa tác tử Internet
1.1 Các thành phần dựa Internet
Có hai thành phần cơ bản:
i) Các thành phần server,
ii) Các thành phần client
Các thành phần server được lưu và chạy trên Server Các thành phần Client được lưu trên máy chủ nhưng chạy trên Client được hỗ trợ bởi Web Browser
1.2 Các thành phần dựa trên tác tử
Các tác tử phần mềm là các chương trình có thể chạy và hành động tự chủ không có sự giám sát của con người Một tác tử phần mềm làm việc trên Internet và Intranet có thể có:
Bộ cảm biến, mô tơ suy diễn, tri thức và CSDL, các bộ hoạt động và mô tơ Internet (hình 4)
1.3 Tích hợp tác tử Internet
Một IAS chứa một hoặc nhiều trạm server được hỗ trợ bởi Web server [S1, S2,
…,Sk} và một số D thay đổi các trạm Client [C1, C2, …, CD} có trình duyệt WEB Mỗi trạm trong số đó đều chạy một phần trung gian (middleware) mà nó hỗ trợ một hệ thống đa tác tử (MAS: Multi-agent system) Nếu các MAS không như nhau thì chúng phải tương thích Trong IAS người dùng phải xác định tác vụ với sự quan tâm
Bộ nhớ tạm thời
Mô tơ suy diễn
Actuator_1 Actuator_2 ……… Actuator_P
CSDL
Cơ sở tri thức
Int ernet
Môtơ Internet
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 hoặc yêu cầu qua một giao diện web thân thiện, ví dụ như mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn, vé xem nhà hát, … Các thông tin đó được chấp nhận và phân tích bởi một tác tử A1 tại trạm Client hoặc trạm Server Dựa trên các yêu cầu của người
sử dụng tác tử A1 có thể liên lạc với các tác tử bán hàng A2, A3, A4 tại các trạm khác nhau và đồng thời có thể thăm các trang web cung cấp các dịch vụ trên một cách riêng rẽ Bằng cách trao đổi dữ liệu với các tác tử đó và trích rút dữ liệu từ các trang web tác tử A1 biết các cung ứng ở đâu, A1 có thể so sánh và chọn các kết hợp tốt nhất của các cung ứng thỏa mãn các yêu cầu khó đáp ứng của người dùng về thời gian, giá cả và địa điểm
Hình 4: Cấu trúc một tác tử Internet
A1
Hình 5: Một hệ thống dựa tác tử Internet (IAS)
II Liên lạc và phối hợp trong IAS
Trong IAS liên lạc là cách chủ yếu cho các tác tử phần mềm tương tác với nhau
và phối hợp các thành phần
Chúng ta có thể phát triển một ngôn ngữ liên lạc đặc biệt hóa Giả sử rằng các tác tử liên lạc với nhau bằng cách trao đổi các thông điệp có độ lớn khác nhau Hệ thống quản lý liên lạc của IAS có các chức năng sau đây:
i) Nhận và lưu thông điện từ các tác tử
MAS
Client Site
Web server Server site – S1
MAS
A4
MAS
Web server Server site – SK
A1
MAS
Client Site
USE
R
Web Browser
Web Browser
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 ii) Đọc các yêu cầu của tác tử bằng trích phần đầu (header) của thông điệp để xác định kiểu và nơi đến (đích)
iii) Tạo một kết nối liên lạc cho mỗi yêu cầu hoặc thông điệp Kết nối có thể là một hàng đợi, một hộp thư hoặc một kênh liên lạc phụ thuộc vào các yêu cầu của tác tử
iv) Giữ các kết nối liên lạc cho đến khi các thông điệp được chấp nhận bởi các tác
tử đích hoặc cho đến khi thời gian gửi đã quá hạn
Giả sử rằng tại thời điểm t tổng số tác tử trong hệ thống là N Các tác tử { A1, A2,
…AN} được phân phối trong hệ thống giữa H hosts Số lượng các tác tử trong host Hj là Da(Hj) = αj, j = 1 X
Một hàm ánh xạ sẽ được xác định tại tác tử Ai:
à(Ai) = HK , trong đó i = 1 N và HK ∈ H
Mỗi tác tử Ai có thể tạo ra một số δi các thông điệp, i = 1 N Do đó tổng số thông điệp hay kết nối liên lạc trong hệ thống là:
∑
=
=
N
i i Tm
T
1
δ
Các thông điệp này được phân phối giữa X host như sau:
0 W
1 W
* W )
(
K i
K i N
K i
=
=
K
m H
Một hệ thống máy tính H có dung lượng cố định Nó yêu cầu X host hoặc Server:
H = [H1, H2, …, HX} Mỗi host có thể nắm giữ một số lượng cực đại cố định MaxLHj
các hàng đợi, kênh liên lạc hoặc hộp thư
MaxLHj = Ψ(HJ) , J = 1 X
Mạng có thể được biểu diễn bằng một đồ thị Gnet {H, Ψ, C, W}, trong đó H = [H1, H2, HX} là tập các nút biểu diễn X hosts, Ψ = {Ψ (H1), …, Ψ (Hx)} trong đó Ψ (Hi) = MaxLHj ; C = [CK,l } | K= 1 X, l = 1 X, k ≠1} là tập của dung lượng truyền của các kết nối tương ứng trong C
III Các thủ tục và công nghệ thiết kế hệ thống IAS
Chúng ta có thể theo các bước sau đây:
i) Biểu diễn bài toán và giải pháp cho nó
ii) Xây dựng kiến trúc IAS
iii) Xác định nền tảng tính toán
iv) Thiết kế các tác tử
v) Xây dựng hệ thống liên lạc
vi) Các thành phần kết hợp
vii) Phân tích và đánh giá IAS
3.1 Bước thứ nhất phải xác định được bài toán và giải pháp hay thuật toán cho
nó có thể là module hoá và được biểu diến với tính song song cực đại Chúng ta có thể sử dụng đồ thị hoặc UML (Unified Modeling Language) hay các kỹ thuật công nghệ phần mềm khác để xây dựng và biểu diễn giải pháp
nếu à(Ai) = HK nếu à(Ai) = HK
Trang 10Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1A-2007 3.2 Chúng ta phải xác định: IAS đã cho là kiểu gì, cần bao nhiêu server sites, các cấp độ bậc thang thế nào, nghĩa là số lượng tối đa các Clients sites cho mỗi server sites Các chức năng của mỗi site Nói cách khác là chúng ta phải xác định phần nào của giải pháp sẽ được thực thi ở mỗi site
3.3 Chúng ta phải xác định phần trung gian (middleware) mà nó hỗ trợ các thành phần Internet và các tác tử phần mềm Chúng ta phải xác định Web Server nào cũng như các thành phần hỗ trợ Web có thể sử dụng tại mỗi server site
3.4 Chúng ta phải xác định:
i) Cần bao nhiêu tác tử trong IAS đã cho
ii) Chức năng của mỗi tác tử
iii) Làm thế nào các tác tử đó được phân phối trong hệ thống, nghĩa là tới mỗi site
iv) Cấu trúc và thành phần của mối tác tử và vòng đời của chúng
v) Các kiểu tác tử
3.5 Chúng ta phải:
vi) Xác định ngôn ngữ liên lạc
vii) Cơ chế cho mỗi tác tử để gửi và nhận thông điệp
viii) Phát triển một kiến trúc hệ thống liên lạc và các giao thức cho quản lý các kết nối liên lạc và phân phát thông điệp
3.6 Sự kết hợp các thành phần của IAS Sau khi có các modules Internet, phần trung gian đa tác tử và các tác tử được xây dựng xong chúng ta cần đồng bộ hoá các môdul và tác tử sao cho sự phối hợp của chúng hoà hợp với thuật toán đã cho Một cách để đơn giản quá trình này là chia thuật toán thành các giao dịch
3.7 Chúng ta cần phải phân tích IAS đã thiết kế và đánh giá nó trong các giới hạn của tính đúng đắn, hiệu năng, độ tin cậy, độ phân cấp và sự an toàn Sự phân tích có thể thực hiện bằng cách sử dụng xác suất hoặc các phương pháp lập trình mô hình
3 Kết luận
Công nghệ tác tử là một công nghệ mới trong các ứng dụng Internet Nó đòi hỏi phải kết hợp nhiều lĩnh vực: Trí tuệ nhân tạo, khai phá dữ liệu, lập trình mạng Để lập trình được các tác tử, chúng ta cần phải nghiên cứu sâu về ngôn ngữ lập trình mạng như Pearl, Java, đặc biệt là Java với các chức năng lập trình Spider, có thể thiết kế một mạng lưới các tác tử chạy ngầm trong các hệ thống để thu thập và xử lý thông tin một cách tự động Các tác tử đó có thể tự học, tự thêm bớt dữ liệu, tự suy luận và ra quyết định
Việc thiết kế một hệ thống phức tạp cần có nhiều người và yêu cầu một lượng dữ liệu nhiều khủng khiếp mà nó có thể được đặt ở nhiều địa điểm Các tác tử Internet
có thể hỗ trợ quá trình đó với một cách mềm dẻo và hiệu quả
Thiết kế được một hệ thống tự trị kinh doanh không phải một sớm một chiều nên trong khuôn khổ công trình nghiên cứu khoa học này tôi chỉ đề cập đến vấn đề làm quen với các khái niệm mới và phân tích các thành phần của hệ thống Để thiết