Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1A-2008một số kết quả CủA việc Bổ SUNG BộT SắN VàO KHẩU PHầN ĂN và khả năng TiêU Hóa thức ăn, HIệU QUả CHĂN NUôI ở Bò LAISIND Nguyễn Hữu
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1A-2008
một số kết quả CủA việc Bổ SUNG BộT SắN
VàO KHẩU PHầN ĂN và khả năng TiêU Hóa thức ăn,
HIệU QUả CHĂN NUôI ở Bò LAISIND
Nguyễn Hữu Minh(a), Nguyễn Kim Đường (a), Nguyễn Hữu Văn (b)
Tóm tắt Nghiên cứu được triển khai trên 20 bò Laisind không thiến (15-18 tháng tuổi, khối lượng trung bình 150-180), được nuôi cá thể trong 5 lô thí nghiệm (I, II, III, IV và V) Khẩu phần ăn của lô I là khẩu phần cơ sở (ĐC): cỏ voi tươi (1,25% BW, DM), lô II là ĐC + 0,33% bột sắn (trộn 2% urê), lô III là ĐC + 0,66% bột sắn, lô IV là ĐC + 1,32% bột sắn và lô
V là ĐC + 1,98% bột sắn Thí nghiệm kéo dài trong 3 tháng Các kết quả nghiên cứu thu được
đã cho thấy: (i) Khả năng tiêu hóa thức ăn của bò ở các lô thí nghiệm cao hơn lô ĐC (<0,05)
và tăng dần từ lô II đến lô IV, hơi giảm ở lô V (ii) Không có sự khác nhau về tiêu hóa CP và năng lượng của bò giữa các lô (iii) Tiêu hóa NDF của bò được bổ sung bột sắn ở mức thấp hơn 0,33% BW không bị ảnh hưởng (iv) Tích lũy Nitơ của bò ở các lô thí nghiệm cao hơn lô ĐC (v) Bổ sung bột sắn (với 2% urê) vào khẩu phần ăn cơ sở của bò thịt đã đem lại hiệu quả kinh
tế cao hơn so với bò ăn khẩu phần không được bổ sung bột sắn
I ĐặT VấN Đề
Trong những năm qua ngành chăn nuôi Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh cả về số lượng đàn vật nuôi và lượng sản phẩm sản xuất Nói chung, nguồn thức
ăn chính cho gia súc nhai lại ở các nước nhiệt đới vẫn dựa vào cỏ tự nhiên và phụ phế phẩm nông nghiệp giàu xơ (Koakhunthod và cs., 2001; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Bả, 2006) Diện tích trồng cỏ bị hạn chế nên bò chủ yếu được chăn thả trên đất công cộng như ven đường, bờ ruộng, đất trống và cho ăn thêm các sản phẩm phụ từ ngành nông nghiệp, do vậy tăng trọng thấp (Hassall và cs., 1991; trích dẫn bởi Vũ Chí Cương, 2002; Nguyễn Xuân Bả, 2006) Nguyên nhân chủ yếu là do hàm lượng nitơ của các loại thức ăn này thấp (Jackson M G., 1978; trích dẫn bởi Vũ Chí Cương, 2002; Nguyễn Xuân Bả, 2006) và tỷ lệ tiêu hóa thấp (Orskov và cs., 1985; trích dẫn bởi Vũ Chí Cương, 2002; Nguyễn Xuân Bả, 2006)
Để phát triển chăn nuôi bò bền vững, phương thức chăn nuôi bò chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn sẵn có cần được coi là một ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu dinh dưỡng gia súc nhai lại không những ở Việt Nam (Hassall và cs., 1991; Lê Viết Ly, 1995; trích dẫn bởi Vũ Chí Cương, 2002) mà ở cả các nước đang phát triển nói chung (Delgalo và cs., 1999; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Bả, 2006; Vũ Chí Cương, 2002) Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2006) diện tích trồng sắn của cả nước khoảng 420 ngàn ha với sản lượng 6,6 triệu tấn củ tươi Những năm gần đây sản lượng lúa của nước ta ngày một tăng nên vai trò lương thực của cây sắn giảm dần Vì vậy, sắn trở thành loại cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và làm thức
ăn cho vật nuôi
Trong các nguồn thức ăn tinh bổ sung, bột sắn là loại thức ăn giàu tinh bột, sẵn
Trang 2N H Minh, N K Đường, N H Văn CHĂN NUôI ở Bò LAISIND, tr 43-50
có và rẻ tiền, nhưng hàm lượng protein thô tương đối thấp Do hàm lượng tinh bột cao nên nó có các ảnh hưởng âm tính nếu cho bò ăn với lượng lớn Bởi vì nó làm giảm
tỷ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn thô, đặc biệt là tiêu hóa xơ (Huhtanen P., 1991; Mould F L., Orskov R R., và Mann S O., 1983b)
Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bổ sung bột sắn vào khẩu phần đến lệ tiêu hóa thức ăn và hiệu quả của nó đối với sinh trưởng của bò Do vậy chúng tôi triển khai nghiên cứu này nhằm xác định 2 vấn đề
đó ở bò Laisind (Red Shindhi x bò vàng) nuôi lấy thịt
II VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1 Gia súc thí nghiệm
Thí nghiệm tiến hành trên 20 bò đực Laisind (không thiến) 15-18 tháng tuổi, khối lượng trung bình 156 kg, chia làm 5 lô, 4 con/lô Bò được nuôi mỗi con một ô, có máng thức ăn tinh và máng thức ăn thô riêng, 2 ô chung một máng nước uống Trước khi vào thí nghiệm bò được nuôi 2 tuần để làm quen với khẩu phần thí nghiệm Trước khi vào thí nghiệm bò được tẩy ký sinh trùng đường ruột và sán lá gan, tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng Cân để kiểm tra khối lượng 2 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm và 1 lần/tuần trong thời gian thí nghiệm và sau khi kết thúc thí nghiệm tiêu hóa Việc cân được thực hiện vào 06h30 – 07h30, trước khi cho bò ăn
Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Vật nuôi Thủy An - khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Huế từ tháng 3 đến tháng 6/2006 2.2 Thức ăn cho bò
Bò trong thí nghiệm được bố trí theo phương pháp CRD trong 5 lô với ăn 5 khẩu phần ăn khác nhau như sau:
- Lô I: Khẩu phần cơ sở (ĐC): cỏ voi 1,25% (DM) khối lượng sống (BW)
- Lô II: ĐC + bột sắn 0,33% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do
- Lô III: ĐC + bột sắn 0,66% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do
- Lô IV: ĐC + bột sắn 1,32% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do
- Lô V: ĐC + bột sắn 1,98% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do
Bột sắn dùng trong thí nghiệm đã được trộn thêm 2% urê
Bò được cho ăn bột sắn và cỏ voi từ 07h30 đến 18h00 với số lượng bữa ăn khác nhau; rơm lúa cho ăn tự do từ 18h30 đến 07h sáng hôm sau
Lượng bột sắn bổ sung được điều chỉnh hàng tuần theo sự tăng trưởng của từng con bò Lượng bột sắn ở lô II và lô III được cho ăn 2 bữa vào lúc 07h15 và 13h00; ở lô
IV và lô V cho ăn 3 bữa vào lúc 07h15, 13h00 và 16h30 Lượng bột sắn dư thừa sẽ
được thu lại và cân vào 06h00 hôm sau
Cỏ voi được cắt ngắn (5-10cm) trước khi cho bò ăn Lượng cỏ cho bò ăn được
điều chỉnh theo tăng trưởng của bò hàng tuần với mức 1,25% (DM) khối lượng sống
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1A-2008
Cỏ được cho ăn 2 bữa: 07h30 và 13h15 hàng ngày Rơm được băm ngắn (10cm) và cho
bò ăn tự do từ 18h30 hôm trước đến 07h30 hôm sau
Tất cả bò được cung cấp tảng liếm khoáng và nước uống tự do suốt thời gian thí nghiệm
Các phân tích thành phần hóa học của thức ăn theo AOAC (1990) và được thực hiện tại các phòng thí nghiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Huế, và phòng phân tích thức ăn gia súc và sản phẩm chăn nuôi thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia, Hà Nội Các kết quả thu được trình bày trên Bảng 1 sau đây
Bảng 1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn dùng cho thí nghiệm
Loại thức ăn VCK
(%)
OM (%)
NDF (%)
CP (%)
EE (%)
Ash (%)
GE (Kcal/kgVCK)
Bột sắn / (+2%
Kết quả phân tích trên bảng 1 cho thấy không có sự biến động đáng kể về thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn được dùng cho cả quá trình thí nghiệm HCN trong các mẫu bột sắn dùng trong thí nghiệm này ở mức 37mg/kg của DM 2.3 Thí nghiệm tiêu hóa
Thí nghiệm tiêu hóa được tiến hành 3 đợt, mỗi đợt 7 ngày: đợt 1 vào tuần thứ 4, đợt
2 vào tuần thứ 8, và đợt 3 vào tuần thứ 12 kể từ khi bắt đầu thí nghiệm Thức ăn cho ăn
và dư thừa được thu gom hàng ngày, sấy và bảo quản để phân tích thành phần hóa học Phân được thu gom ngay sau khi gia súc thải ra và để trong thùng nhựa có nắp
đậy Phân của từng con (sau 1 ngày) được trộn đều và lấy mẫu khoảng 5% lượng phân thu được Một nửa (của 5%) được sấy ngay ở 135oC để xác định DM, nửa còn lại cho vào túi nilon buộc kín và bảo quản trong tủ lạnh -20oC Cuối mỗi đợt thí nghiệm, phân của từng con được trộn đều và lấy khoảng 500g để sấy khô ở nhiệt độ 60oC và phân tích các thành phần hóa học Nước tiểu cũng được thu gom hàng ngày bằng dụng cụ hứng ngay khi bò đái Nước tiểu thu được cho ngay vào xô nhựa có chứa khoảng 100ml dung dịch H2SO4 20% Thường xuyên kiểm tra pH của nước tiểu trong xô và nếu pH xuống thấp dưới 4 thì bổ sung axit để tránh thất thoát NH3 Sau 1 ngày, nước tiểu của từng con được trộn đều và lấy mẫu khoảng 5% cho vào thẩu nhựa bảo quản trong tủ lạnh -20oC Cuối mỗi đợt thí nghiệm nước tiểu của mỗi con
được trộn đều và lấy mẫu để phân tích các thành phần hóa học
2.4 Tập hợp và tính toán số liệu
Lượng thức ăn thu nhận được ghi chép hàng ngày và tính toán bằng lượng thức
ăn cung cấp cho bò đi lượng còn thừa của mỗi loại thức ăn
Trang 4N H Minh, N K Đường, N H Văn CHĂN NUôI ở Bò LAISIND, tr 43-50 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng được xác định theo công thức tổng quát như sau:
Lượng thức ăn thu nhận (kg/con/ngày)
TTTĂ/kgTT =
Tăng trọng (kg/con/ngày)
Tăng trọng của bò được tính bằng cách phân tích hồi qui tuyến tính dựa trên kết quả của 28 lần cân cho mỗi bò kể từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc thí nghiệm
Số liệu được phân tích thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2003
và Minitab version 13.0
III KếT QUả Và THảO LUậN
3.1 ảnh hưởng của việc sử dụng bột sắn trong khẩu phần đến khả năng tiêu hóa các thành phần trong thức ăn của bò
Kết quả theo dõi tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng khẩu phần của bò bình quân 3 đợt thí nghiệm được thể hiện trên bảng 2
Bảng 2 Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong khẩu phần của bò
Lô
DM 53,98a 60,60b 61,89bc 66,75d 64,94cd 1,046 0,001
OM 56,73a 63,15b 64,46b 68,84c 67,11bc 0,972 0,001 NDF 62,49a 61,21a 58,58a 46,13b 40,95b 1,931 0,001
CP 49,49a 59,23b 55,11b 58,13b 57,24b 1,219 0,001
Trong cùng hàng ngang, chữ cái khác nhau có sự sai khác với P<0,05
Kết quả trên bảng 2 cho thấy, khi bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò đã
ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, vật chất hữu cơ, xơ và protein thô Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của bò trong toàn bộ thí nghiệm tăng dần từ lô I đến lô IV; giảm ở lô V Sai khác giữa lô I với các lô còn lại, giữa lô II với lô IV và lô V, giữa lô III với lô IV là có ý nghĩa (P<0,05) Kết quả này có thể do khi tăng mức bột sắn trong khẩu phần ăn đã có tác dụng kích thích tiêu hóa, nhưng ở mức hàm lượng bột sắn cao (1,98%) có thể đã vượt ngưỡng nên làm cho tỷ lệ tiêu hóa giảm xuống
Tương quan giữa tỷ lệ bột sắn trong khẩu phần ăn và tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô là chặt chẽ (r = 0,9442), thể hiện qua phương trình sau:
y = -2,9514x2 + 11,739x + 54,169 R2 = 0,8917 (hệ số tương quan bội)
Trong đó: y là tỷ lệ tiêu hóa DM; x là lượng bột sắn ăn vào; r là hệ số tương quan
Tương tự như tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ trong khẩu phần cũng tăng từ lô I đến lô IV và giảm nhẹ ở lô V, sự sai khác giữa lô I và lô IV so với các lô còn lại với P<0,05
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1A-2008
Tỷ lệ tiêu hóa NDF giảm từ 62,49% (lô ĐC) xuống 40,95% (lô V) khi lượng bột sắn tăng lên Có nhiều dẫn liệu cho rằng tỷ lệ tiêu hóa NDF ở nhiều loài cỏ già có thể giảm hơn một nửa so với cỏ tươi khi môi trường dạ cỏ thay đổi bởi cho thức ăn tinh pH trong dạ cỏ trung bình ở mức 6,8, nếu giảm xuống dưới mức 6,2 hoặc 6,0 sẽ làm giảm tiêu hóa carbohydrates có cấu trúc Trong quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ, bột sắn tạo ra một lượng lớn axit lactic và do đó làm giảm pH dạ cỏ Có thể đây là nguyên nhân làm giảm tiêu hóa NDF Tỷ lệ tiêu hóa NDF giảm do tác động của bột sắn trong thí nghiệm này cao hơn rất nhiều so với kết quả công bố ở bò Holstein Friesian trong độ tuổi sinh trưởng được cho ăn cỏ ryegrass ủ chua trộn với lúa mạch
ở mức 280 hoặc 560 g/kg DM ăn vào (tỷ lệ tiêu hóa NDF giảm từ 65% xuống 56%) Tương quan giữa tỷ lệ bột sắn trong khẩu phần ăn và tỷ lệ tiêu hóa NDF là chặt chẽ (r = 0,9745) thể hiện qua phương trình sau:
y = -4,6295x2 + 1,0114x + 62,233 R2 = 0,9497 (hệ số tương quan bội)
Trong đó: y là tỷ lệ tiêu hóa NDF; x là lượng bột sắn ăn vào; r là hệ số tương quan
Tỷ lệ tiêu hóa protein ở lô I (ĐC) chỉ là 49,9% và tăng đáng kể ở các lô có bổ sung bột sắn Điều này chứng tỏ vai trò tích cực của bột sắn trong tiêu hóa protein khi nó
được bổ sung vào khẩu phần giàu xơ, nghèo năng lượng và hàm lượng protein thấp Tuy nhiên, số liệu của lô III, IV và V so với lô II cho thấy mức bổ sung bột sắn tăng cao thì hiệu quả này của nó có xu hướng giảm Điều này có thể liên quan đến sự thay đổi môi trường dạ cỏ và hoạt động của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ
Việc bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò nuôi thịt không những ảnh hưởng
đến khả năng tiêu hóa các thành phần trong thức ăn của bò mà còn ảnh hưởng đến khả năng tích lũy dinh dưỡng của chúng
Kết quả theo dõi khả năng tích lũy nitơ bình quân trong ba đợt thí nghiệm của
bò được trình bày ở bảng 3
Bảng 3 Cân bằng Nitơ của bò thí nghiệm
Lô
Chỉ tiêu
N ăn vào (g/con/ngày) 47a 51a 56ab 63b 62b 0,002 0,001
N phân (g/con/ngày) 24ab 21b 25ab 26a 26a 0,001 0,005
N tích lũy (g/con/ngày) 14a 21b 23bc 28c 28c 0,001 0,001
Tỷ lệ nitơ phân (%) 50,5a 40,8b 44,9b 41,9b 42,8b 1,22 0,001
Tỷ lệ nitơ nước tiểu (%) 19,7a 18,4a 14,0bc 13,4bc 12,4c 1,33 0,001
Tỷ lệ nitơ tích lũy (%) 29,8a 40,8b 41,1b 44,7b 44,8b 1,95 0,001 Trong cùng hàng ngang, có một chữ cái khác nhau có sự sai khác với P<0,05 Kết quả trên Bảng 3 cho thấy, khi bổ sung mức bột sắn tăng dần đã làm tăng lượng nitơ ăn vào của bò từ lô II đến lô IV, giảm xuống ở lô V Sai khác giữa lô I, lô II
Trang 6N H Minh, N K Đường, N H Văn CHĂN NUôI ở Bò LAISIND, tr 43-50
có xu hướng tương tự như lượng nitơ ăn vào Nitơ thải ra qua nước tiểu không có sự sai khác rõ rệt giữa các lô Nitơ tích lũy tăng từ lô I đến lô IV và chững lại ở lô V Sai khác có ý nghĩa thống kê về nitơ tích lũy giữa lô I với lô IV và lô V, giữa lô II và lô III với lô IV (P<0,05)
Nitơ thải theo phân chiếm 50,5% và thải theo nước tiểu 19,7%, nitơ tích lũy 29,8% Nitơ ăn vào ở lô I Nitơ thải ra theo phân cũng như theo nước tiểu giảm xuống, nitơ tích lũy lên 40,8% ở lô II Điều đó chứng tỏ bổ sung bột sắn (có trộn 2% urê) không những cung cấp thêm nitơ cho hệ vi sinh vật mà còn làm tăng hiệu quả sử dụng nitơ của chúng Khi lượng bột sắn bổ sung vào khẩu phần tăng lên thì tỷ lệ nitơ thải theo phân thay đổi không đáng kể, nhưng Nitơ thải qua nước tiểu có xu hướng giảm Vì vậy, tỷ lệ nitơ tích lũy có xu hướng tăng dần từ lô I đến lô IV và không có sự sai khác
đáng kể giữa lô V và lô IV (P>0,05)
3.2 ảnh hưởng của bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn đến hiệu quả chăn nuôi
Hiệu quả của việc sử dụng bột sắn trong chăn nuôi bò thịt được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Hiệu quả của việc sử dụng bột sắn trong nuôi bò thịt
Tăng trọng (g/con/ngày) 237a 351b 403bc 552d 480cd
Tăng trọng thêm (%) 0 48,10 70,04 132,91 102,53
Tiêu tốn TĂ (% giảm) 0 24,88 29,80 52,68 44,33
Chi thêm (đồng/con/ngày) 0 1096 2175 3912 4011
Thu thêm (đồng/con/ngày) 0 2508 3652 6930 5346
(Ghi chú: Giá rơm: 300 đồng/kg; giá cỏ voi: 200 đồng/kg; giá bột sắn có bổ sung urê:
2000 đồng/kg; giá bò hơi: 22000 đồng/kg)
Khi tăng mức bột sắn bổ sung trong khẩu phần thì tăng trọng của bò cũng tăng lên, có sự sai khác về tăng trọng của bò giữa lô không sử dụng bột sắn (ĐC) với các lô
có sử dụng bột sắn (P<0,05) Tăng trọng của bò cao nhất là ở lô IV đạt 552 g/con/ngày
và thấp nhất ở lô I là 237 g/con/ngày, tăng trọng của các lô II, III và IV lần lượt là
351, 403 và 480 g/con/ngày Tăng trọng giữa các lô thí nghiệm có sự sai khác với P<0,05: lô I có sự sai khác với các lô còn lại, lô II và lô III có sự sai khác với lô IV, lô
II sai khác với lô V Giữa các lô II với lô III và lô III với lô V cũng như giữa lô IV với lô V là không có sự sai khác (P>0,05) So với đối chứng (lô I) thì các lô II, III, IV và V
có tăng trọng cao hơn lần lượt là 48,10; 70,04; 132,91 và 102,52% Như vậy, khi lượng bột sắn bổ sung vào khẩu phần tăng dần với các mức từ 0 đến 1,32% đã làm tăng khả năng tăng trọng của bò Khi bột sắn trong khẩu phần cao hơn mức 1,32% thì tăng trọng có xu hướng giảm xuống, nhưng vẫn còn cao hơn đối chứng tới hơn 2 lần, điều đó chứng tỏ bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò thịt ở mức cao hơn
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1A-2008
1,32% vẫn có ảnh hưởng tốt Có thể do được bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn mà
bò đã tiêu hóa thức ăn tốt hơn, nên lượng niơ tích lũy tăng
Bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò đã làm cho hiệu quả chăn nuôi bò thịt tăng lên rõ rệt - tăng trọng tăng, do vậy tiêu tốn thức ăn giảm So với lô I không bổ sung bột sắn thì tiêu tốn thức ăn ở lô II giảm 24,88%, lô III giảm 29,80%, IV giảm 52,68% và lô V giảm 44,33%, sai khác giữa các lô thí nghiệm (II, III, IV và V) và lô
ĐC (lô I) ở mức P<0,05
Bổ sung bột sắn trong khẩu phần ăn đã làm cho chi phí thức ăn tăng, tuy nhiên lợi nhuận thu được cũng tăng và tăng cao hơn mức chi phí tăng thêm, có nghĩa
là hiệu quả đầu tư dương Đây là kết quả của sự vượt trội về sinh trưởng (tăng trọng) của bò được ăn khẩu phần có bổ sung bột sắn so với không bổ sung Mức bổ sung bột sắn 1,32% đem lại hiệu quả cao nhất (thu thêm 6930đ và lãi 3018 đ/con/ngày)
IV KếT LUậN Và Đề NGHị
4.1 Kết luận
- Tiêu hóa DM, OM của bò ở các bò được ăn khẩu phần có bổ sung bột sắn đều cao hơn bò ăn khẩu phần không bổ sung (P<0,05), tăng dần từ lô II đến lô IV và giảm ở lô V Tiêu hóa CP và tiêu hóa năng lượng không có sự khác biệt giữa các lô (P>0,05)
- Tiêu hóa NDF hầu như không bị ảnh hưởng khi bổ sung bột sắn ở mức thấp (0,33% BW), có xu hướng giảm khi tăng dần mức bột sắn bổ sung
- ở các lô có bổ sung bột sắn, nitơ tích lũy của bò đều cao hơn so với không bổ sung, nhưng khi mức bổ sung quá 1,32% thì mức tích lũy nitơ giảm
- Bổ sung bột sắn (+2% urê) từ 0,33-1,96% BW của bò vào khẩu phần cơ sở là cỏ voi và rơm lúa, tăng trọng của ở các bò được ăn bột sắn cao hơn bò không được ăn bột sắn từ 114-315 g/con/ngày (tương đương 48,10 đến 132,91%)
- Bổ sung bột sắn (+2% urê) vào trong khẩu phần cơ sở là cỏ voi và rơm lúa đã
đem lại hiệu quả chăn nuôi bò thịt cao hơn so với không bổ sung, ở mức 1,32% bột sắn thu thêm 6930đ và lãi 3018đ/con/ngày so với ĐC
4.2 Đề nghị
- Bổ sung bột sắn (+2% urê) vào trong khẩu phần cơ sở là cỏ voi và rơm lúa đã
đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong chăn nuôi bò thịt Trong thí nghiệm này mức
bổ sung là 0,7-1,32% khối lượng của bò, hiệu quả cao nhất là mức 1,32%
TàI LIệU THAM KHảO
[1] AOAC, Official Methods of Analysis, 15th edn, Association of Official Analytical Chemists, Arlington, Virginia, 1990
Trang 8N H Minh, N K §−êng, N H V¨n CH¡N NU«I ë Bß LAISIND, tr 43-50 [2] NguyÔn Xu©n B¶, §¸nh gi¸ kh¶ n¨ng sö dông c©y d©u t»m (Morusalba), c©y d©m bôt (Hisbicus rosa sinensis L.) lµm thøc ¨n cho gia sóc nhai l¹i ë MiÒn Trung ViÖt Nam, LuËn ¸n tiÕn sÜ, HuÕ, 2006
[3] Vò ChÝ C−¬ng, Nghiªn cøu sö dông cã hiÖu qu¶ thøc ¨n protein trong nu«i d−ìng
bß thÞt, Hµ Néi, 2002
[4] Huhtanen P., Associative effects of feefs in ruminants, Norwegian Journal of Agricuitural Siences, Supplement, 5, 1991, pp 37-57
[5] E R Orskov, Mould, F L., and S O Mann, Associative effects of mixed feeds 1 Effects of type and level of supplementation and the influence of the rumen fluid
pH on cellulolysis in vivo and dry matter digestion of various roughages, Anim Feed Sci Technol., 10, 1983, pp 15-30
Summary
Some results of tapioca supplying diet and feed digesstion, production efficieny of growing Laisind cattle
The study was carried out on 20 Laisind uncastrated male (15-18 months of age, 150-180 kg of live weight), which raised individually in five experiment groups (I, II, III, IV & V) The diet of group I is conventional (CT): green elephant grass (1.25% in DM of live weight), group II is CT + 0.33% tapioca (with 2% urea), group III is CT + 0.66%, group IV is CT + 1.32% tapioca and group V is CT + 1.98% tapioca The experiment lasted 3 months Results showed that: (i) Feed digestion of cattle in experiment group was higher than CT group (P<0.05) and increased from group II to group IV, a little bit decreased in group V (ii) There was no difference in digestion of CP and energy of cattle in different group (iii) NDF digestion of cattle was no effected by low level (0.33% BW) of tapioca supplied in diet, (iv) Nitrogen accumulation of cattle in tapioca supplied group was higher than CT group (v) Supplying tapioca in conventional diet of growing cattle has got higher economic efficiency in comparison with conventional diet
(a) Khoa N«ng L©m Ng−, §¹i häc Vinh
(b)Khoa Ch¨n nu«i thó y, Tr−êng §¹i häc N«ng L©m, §¹i häc HuÕ.