1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Những cách tân thi pháp của Lê Đạt ở chùm thơ Chiều Bích Câu trong tập Bóng chữ (1994)" pdf

8 733 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 125,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những cách tân thi pháp của lê đạt ở chùm thơ chiều bích câu trong tập bóng chữ 1994 Nguyễn Thị Lan Chi a thể hiện sự đóng góp đáng kể của Lê Đạt vào việc cách tân thơ Việt Nam đương đ

Trang 1

Những cách tân thi pháp của lê đạt

ở chùm thơ chiều bích câu trong tập bóng chữ (1994)

Nguyễn Thị Lan Chi (a)

thể hiện sự đóng góp đáng kể của Lê Đạt vào việc cách tân thơ Việt Nam đương đại

Vị trí của chữ và cách đọc liên văn bản các bài thơ trong phần này là hai vấn đề cốt lõi được chúng tôi làm rõ nhằm nhận diện đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt

1 Lê Đạt sinh năm 1929 tại Yên

Bái, từng tham gia kháng chiến chống

Pháp, từng công tác tại Ban tuyên huấn

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

và Hội Văn nghệ Trung ương (tiền thân

của Hội Nhà văn Việt Nam) Ông là một

trong những thành viên chủ chốt của

nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, đã từng bị

treo bút hơn ba mươi năm Suốt thời

gian hoạn nạn này, Lê Đạt vẫn miệt

mài theo đuổi con đường đổi mới thi ca

mà bản thân đã ấp ủ từ lâu Trải

nghiệm một đời cùng bốn năm may mắn

được đọc sách tại thư viện Khoa học Xã

hội đã tạo điều kiện cho nhà thơ hoàn

thành tập Bóng chữ năm 1994

Tập thơ trình trước người đọc một

trò chơi chữ hết sức thú vị - trò chơi có

khả năng đánh thức bản năng trò chơi

của độc giả, mà Roland Barthes gọi đó

là một sự chú ý bồng bềnh (attention

flottante) Với nó, người làm thơ rắp

tâm biến ngôn ngữ tiêu dùng thành một

thứ ngôn ngữ trò chơi, trong một trạng

thái nửa tỉnh nửa mơ Tập thơ Bóng

chữ vừa trình làng đã gây dư luận sôi

nổi trong giới phê bình văn học Nhiều

người khẳng định đây là đóng góp mới

mẻ của Lê Đạt cho xu hướng muốn làm mới thơ đương đại

Bóng chữ gồm có 138 bài thơ, nằm trong dòng “hiện đại chủ nghĩa”, gồm bốn phần với nội dung như sau:

- Phần Giáo đầu là tiểu sử và chân dung Lê Đạt

- Phần thứ hai - Chiều Bích Câu - một ẩn dụ về sự hội ngộ giữa người và thơ

- Phần thứ ba - Lão núi - một ẩn dụ

về lịch sử đất nước

- Phần thứ tư - Mùi sầu riêng - tình yêu và con người trong quá trình lịch sử

và văn hóa

Bốn phần trong tập thơ đều thể hiện sự phong phú và đa dạng của những thể nghiệm đổi mới thơ Riêng Chiều Bích Câu được giới yêu thơ và những nhà nghiên cứu - phê bình đặc biệt chú ý, bởi qua chùm thơ này có thể nhìn rõ ý đồ tạo dựng một phong cách thơ riêng của Lê Đạt Trong phạm vi bài viết này, người viết tập trung làm rõ

đặc điểm thi pháp thơ Lê Đạt qua hai vấn đề cốt lõi: vị trí của chữ và cách đọc liên văn bản

Trang 2

Chiều Bích Câu viết theo thể thơ tự

do, có ba mươi hai bài và bài tựa ở bài

tựa, Lê Đạt vừa lí giải cách đặt tên cho

các bài thơ, vừa gợi ra một không gian,

một địa chỉ cụ thể mà mơ hồ để trình

bày phương thức làm thơ: có một tấm

lòng chân thành và một thái độ chăm

chỉ, siêng năng thì mới có cơ may gặp gỡ

chữ nghĩa của thơ:

Hẳn phải siêng năng, có lòng thành

Và nhất là biết chờ

Người đẹp vỏ chữ bước ra

Giờ các con phe đi ngủ

Chữ trong thơ không chỉ là ngôn

ngữ giao tiếp Hơn nữa cái hay của thơ

không thể nói một cách tường minh,

cũng không ở chỗ thực dụng và chữ

trong thơ cũng không nằm hết ở nghĩa

tiêu dùng Người làm thơ đòi hỏi con

chữ phải có sự sống riêng, tách rời

những từ điển và mẹo luật văn phạm

như nàng Giáng Kiều trong truyện Bích

Câu, đã bước ra khỏi bức tranh để thành hiện thực Bởi vậy, đối với người làm thơ, thì một trò chơi chữ rất cần thiết cho thơ, và trò chơi ấy bắt buộc sự tham gia của cả người viết lẫn người

đọc Theo Lê Đạt, do “chữ bầu lên nhà thơ”, nên mỗi nhà thơ phải là một “phu chữ”, nếu anh ta muốn mang đến một

điều gì mới lạ cho thơ, cho ngôn ngữ tiếng Việt

2 Thơ là nghệ thuật tạo hình bằng chữ Quả như Lê Đạt đã đặt tên cho tập thơ Bóng chữ, mỗi chữ trong thơ chỉ là cái bóng của chữ khác, nó sống, nó

động, nó biến đổi, nó tự nhân lên Bản sắc của nó là đa ngã Khảo sát và tìm hiểu chùm thơ Chiều Bích Câu có thể lập bảng thống kê sau về những sáng tạo “chữ” của nhà thơ trên các cấp độ:

âm, từ, tiếng, hình ảnh, biểu tượng và cấu trúc từ:

Tên bài thơ Âm Từ, tiếng (âm

tiết)

Hình ảnh và Biểu tượng Cấu trúc từ Thuở xanh

hai

thuở xanh hai, thơ

nhỏ

chát Hái hoa hoa lúm, hoa bông

môi

anh hái hoa anh rừng, anh

lòng Anh muốn quái chiều, xoe xập xanh xòe khuây hương Chiều Bích

Câu

Trang 3

Sông quê nghé sắt bầy em én

Quá em ò e trời mênh chim xe văn điển tu huýt yêu Quen… lạ ồ tóc hoa đèn áo buồm, cong nét

nắng

tim lần giở

Mới tuổi con thiến gáy phăn phăn, bổi hổi

Thu nhà em lăm răm đồi cốm đường thon

ngỏ cỏ

thu rất em, xanh rất cao Bóng chữ vườn thức em về trắng đầy

cong khung nhớ

chân cầu

Vào hè ô, hồ, ồ

anh đời, ngày thon sóng đòng, buồm

nhấp nhô, thơm

trắng vỗ

Vườn màu vườn màu hoa đường nắng cánh

sen

đèn hội

Truyện bồ

câu

răm mát mắt lá nửa ngày

hồng, chũm cau tứ

thì

hè thon cong, xanh nín lộc

Kênh chờ ngoại kênh chiều ngổn ngang,

Tỏ tình ngỏ, ngọng liễu đầu cành, đoạn

trường xanh

ngữ ngoại

Câu Quê tầm

xuân

buột lau ăn lối đảo vô tâm, neo

buột nhớ

ngần

bến nụ hoa

Cấm vận kênh hoa sen, mùa

cấm vận, môi đèn

cong cánh mi rừng chim vướng sớm Thủy thủ tầm duyên, kênh

xanh

long mầy mò sóng mày thu,

mi rào Anh ở lại à, ơi rứt én xanh, chữ

em, mới nghĩa

xuân biết, má hồng, B52 Cống trắng

quả môi thơm

Trang 4

Thuở đầu

lòng

se se mùa nhỏ xưa, lòng

mẫu tự

thuở đầu dòng,

đầu nhớ, đầu trông Những cái

hôn

o môi, phù sa sếu gọi đò ngang đất hẹn má

Phố nê ông hồ chành, mi thổi em vườn hoa đảo

tím chân chim

mộng anh hường

ăng ten

Từ bản thống kê trên, có thể khẳng

định rằng khái niệm chữ có hàm nghĩa

rộng, đôi khi bao quát cả hình thức

ngôn từ của văn bản thơ Tuy nhiên

điều Lê Đạt quan tâm trên hết vẫn là

từ hoặc tiếng (âm tiết) cùng hai mặt

ngữ âm và ngữ nghĩa của nó Nhà thơ

nhiều lần nói rõ quan điểm: phải vượt

qua nghĩa tiêu dùng của từ được ghi

trong từ điển Tất nhiên, từ sự quan

tâm khai thác các khả năng biểu đạt

của từ, của tiếng, ông đã làm mới cú

pháp thơ, làm mới cả bài thơ

Đề cập đến sự đổi mới này trong thơ

Lê Đạt, cụ thể là trong chùm thơ Chiều

Bích Câu, trước hết cần xét đến vị trí

của chữ biểu hiện ở ba phương diện

Đầu tiên là phương diện ngữ âm - chữ

là âm Hãy khảo sát một bài cụ thể -

bài Vào hè:

Anh đời bến nước tên em mát

Đội mắt em qua mấy nắng rồ

Ơi em rất ô

Trắng vỗ ồ hô trúc bạch Bước động ngày thon róc rách Tìm nghĩa của chữ theo Từ điển tiếng Việt, ta sẽ thấy chữ trong thơ Lê

Đạt thực sự là một mê cung Các chữ ô,

hồ, ồ hô trong các câu thơ đã làm rõ sáng tạo chữ của Lê Đạt trên phương diện ngữ âm Chính ý nghĩa của âm thanh từ các chữ nêu trên đã khiến người đọc ngạc nhiên thích thú

Xét đến phương diện chữ là từ vựng, ngữ nghĩa, ta thấy trong cả ba mươi hai bài của chùm thơ Chiều Bích Câu, hầu hết các từ đều được khoác thêm một “bộ

áo mới” Điển hình là bài Anh muốn: Anh muốn làm bông hoa

Đầu xuân cài cỏ mộ Thơm em đôi nỗi hường Khuây hương đừng khóc nữa

Chữ “hường” dùng trong đoạn này rất hay, bởi nếu thay nó bằng một chữ tương tự như hồng (thơm em đôi nỗi

Trang 5

Có nó, sự kết nối giữa câu đầu và câu

cuối, cũng như sự kết hợp vần giữa hai

chữ “hường”- “hương” để miêu tả sự

day dưa, không dứt sẽ được đảm bảo

Ngoài ra, chữ “hường” còn gợi liên

tưởng về một vẻ đẹp e thẹn, một niềm

hạnh phúc Rõ ràng, việc làm mới chữ

buộc người đọc thơ ít nhiều phải chịu

khó tư duy, tìm hiểu và đi sâu vào bản

chất đa nghĩa, đa ngã của chữ Quả như

Lê Đạt đã tuyên bố: trò chơi chữ nghĩa

đòi hỏi người sáng tạo phải siêng năng,

cần cù, tìm được bóng của chữ thì mới

đạt ý nguyện Chữ lau ăn lối trong bài

Quê tầm xuân là một hình ảnh rất đa

nghĩa vì nó vừa gợi liên tưởng về một

cảnh cụ thể, vừa bày tỏ niềm khát khao

tình ái không tiện giãi bày một cách

tường minh Sự sáng tạo chữ đã mở ra

một con đường mới cho người đọc thơ đi

vào một thế giới ngôn ngữ khác ở đó,

mỗi chữ có một nét nghĩa riêng luôn

luôn yêu cầu sự khám phá không mệt

mỏi

Để hiểu sáng tạo chữ của Lê Đạt ở

phương diện kết cấu, có thể xem xét bài

Chiều Bích Câu như một ví dụ điển

hình:

Mùi mưa xưa

Lòng chưa tạnh

Phố nhau đầu

Hay trong bài Tỏ tình:

Em trung tâm nào

Ngữ ngoại tim anh

Lê Đạt mượn biện pháp đảo từ để

tạo các chữ mới: phố nhau đầu - đầu

phố có nhau, ngữ ngoại - ngoại ngữ Song, giá trị của chữ mới thể hiện ở nghĩa biểu đạt của nó Độc giả dễ bị mắc lừa nếu cho rằng ngữ ngoại là một cách nói của ngoại ngữ, bởi ở câu trước của nó có chữ trung tâm Đó là cái bẫy của trận đồ chữ Thật ra, sáng tạo chữ theo phương thức này, Lê Đạt làm cho trò chơi chữ thêm lôi cuốn Trong câu thơ, chữ ngữ ngoại là tiếng nói ở vùng ngoài, hàm ý miêu tả một sự kiếm tìm tín hiệu của tình yêu, một nỗi nhớ nhung da diết cần phải tỏ bày Nhân vật anh đang chờ đợi tiếng nói của người mình yêu, một sự đáp ứng từ em

đang ở một vùng nào đó Cảm xúc tình yêu phát ra, cần tìm thấy tín hiệu của sóng Câu thơ trở nên đa nghĩa nhờ chữ phát sáng ánh sáng yêu cầu độc giả cùng nhà thơ đồng sáng tạo trên từng con chữ

Quen… lạ là một bài thơ hay vì nó

đã chứng minh các yêu cầu vừa phân tích: thơ hay không thể nói một cách tường minh, mà còn đánh đố người đọc trong trò chơi chữ nghĩa ở trò chơi này,

Lê Đạt bày trận đồ chữ bằng hình thức lạ hóa, để từ đó mở ra nhiều chiều nghĩa làm cho việc biểu đạt nghĩa luôn

đa dạng, sự liên tưởng cũng không kém phần phong phú Bằng cách tân chữ trong thơ mà Quen… lạ được hiểu là một bài thơ rất tình, rất trẻ Phải chăng với sự đổi mới này trong tập Bóng chữ nói chung, Chiều Bích Câu nói riêng, Lê

Trang 6

Đạt đã xây dựng ở người đọc một nhận

thức mới về thơ và ngôn ngữ thơ Khi

đối chiếu với những tác phẩm thơ trước

đó, độc giả sẽ tìm thấy sự khác biệt

Thứ nhất, chữ trong thơ không còn được

hiểu theo nghĩa trong từ điển Ví dụ chữ

liễu trong bài Vào hè của Lê Đạt (Tóc

liễu trường tân thơ cổ – Trời xanh cô

ban rất Đường) rất khác với những chữ

liễu trong các câu thơ sau:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt

tha

(Nguyễn Du, Truyện Kiều) Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn

hàng

(Xuân Diệu, Đây mùa thu tới)

Nói chung, sự cách tân mang dấu ấn

Lê Đạt nói trên đã góp phần làm giàu

cho ngôn từ thơ cũng như từ trong ngôn

ngữ tiếng Việt

Bài Thu nhà em đã được mở đầu:

Anh đến mùa thu nhà em

Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ

Thật lạ, tại sao tác giả không viết

là:

Mùa thu anh đến nhà em

Vũng nhỏ lăm răm nắng cúc

Nhưng những cái lạ có trong câu thơ

gốc buộc người đọc phải luôn vận động

tư duy và không ngừng đi tìm Trên con

đường đi tìm đó, độc giả buộc phải chú ý

đến mối tương tác giữa mỗi con chữ với

các yếu tố cấu thành khác của bài thơ

không thể đổi vị trí chữ được là vì Lê

Đạt dùng chữ vũng nhỏ để chỉ đôi mắt

Nó kết hợp chữ nắng cúc và chữ lăm răm trước đó, đều gợi đến các câu ca dao, đến bài thơ Gửi cô hàng cau của Tản Đà và hình ảnh mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến Tất cả không ngoài mục đích mở ra liên tưởng về một cái nhìn rất đằm thắm, thiết tha, ngất ngây tình tứ ở đây cần phải ghi nhận

sự sáng tạo cùa Lê Đạt trên phương diện cú pháp

3 Tính liên văn bản là một đặc

điểm nổi bật khác của thơ Lê Đạt mà

độc giả phải nắm bắt để giải mã ngôn ngữ thơ ông Qua việc tìm hiểu cách thuyết minh về khái niệm liên văn bản của các nhà nghiên cứu như Kristera, Riffaterre, Roland Barthes, có thể hiểu rằng: mỗi văn bản là một liên văn bản,

ở đó, các văn bản khác cùng hiện hữu

để góp phần chi phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy, mỗi văn bản

là một sự hấp thụ và chuyển thể của các văn bản khác Thật vậy, khảo sát chùm thơ Chiều Bích Câu ta luôn tìm thấy tính liên văn bản ở hầu hết các bài thơ

và ngay cả ở phần tựa Nó thể hiện trước hết ở dấu ấn truyền thống văn hóa, văn học dân tộc in trên mỗi bài thơ

cụ thể Đọc các bài thơ như Gốc khế, Chiều Bích Câu, Sông quê, Anh muốn…

ta đều thấy sự có mặt của những thi liệu dân gian Còn trong các bài như

Trang 7

Kênh chờ, Tỏ tình… ta lại thấy có

những thi liệu thơ cổ điển Trong các

bài thơ vừa dẫn đều có sự tái sinh của

các quan niệm thẩm mỹ truyền thống

và môi trường văn hóa cổ truyền Đa

phần các bài trong chùm thơ Chiều Bích

Câu đều ngắn nhưng lại chứa đựng

nhiều tầng nghĩa Phải chăng nhà thơ

đang tiếp nối sự kiệm lời, ý tại ngôn

ngoại của thơ truyền thống? Cũng qua

thơ Lê Đạt, người đọc tìm thấy một

quan niệm rất Việt Nam về cái đẹp thể

chất, cái đẹp tình người, đồng thời cũng

nhận ra nhiều thói quen văn hóa của

người Việt

Bên cạnh các dấu ấn vừa nêu, chùm

thơ Chiều Bích Câu còn cho thấy có một

cuộc chơi chữ nghĩa trên các văn bản

thơ truyền thống Tác giả dùng các văn

bản thơ đã có từ trước để làm phông cho

những tình ý mới như bài Thủy lợi:

Một đàn ngày trắng phau phau

Bì bạch bờ xoan nước mát

Chỉ hai câu thơ mà trong đó vừa có

câu đố dân gian về việc rửa bát:

Một đàn cò trắng phau phau

Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm

vừa có hình ảnh một vế đối của Hồ

Xuân Hương: Da trắng vỗ bì bạch Khi

đọc thơ Lê Đạt, việc liên hệ thường

xuyên đến những văn bản thơ truyền

thống sẽ giúp độc giả cảm nhận được

tính đa nghĩa, đa ngã đặc trưng cho chữ

nghĩa thơ Lê Đạt Hãy đọc bài Chùa

Hương:

Nước ngực triều dâng con nhớ

Bến nụ hoa tròn môi đợi nói Suối Giải Oan mưa ngần…

Lê Đạt đã làm trẻ lại những văn bản thơ truyền thống thông qua những hành động biến cải chủ đề Tác giả đã

để các văn bản thơ truyền thống luôn

đồng hành với mình trong tư duy sáng tạo Rõ ràng, muốn hiểu thơ Lê Đạt, phải có một sự tích luỹ tri thức văn học

đáng kể Xin nhắc lại bài tựa của Chiều Bích Câu:

Làm cách nào có thơ hay?

Hỏi vậy khác gì hỏi làm cách nào gặp

Tiên tại phường Bích Câu ? Mọi câu thơ hay đều kì ngộ

Hẳn phải siêng năng, có lòng thành

và nhất là biết chờ người đẹp vỏ chữ bước ra Giờ các con phe đi ngủ

Qua bài thơ trên, Lê Đạt đã thâu tóm toàn bộ quan niệm và qui trình sáng tạo của mình, khẳng định một thi pháp hoàn toàn mới mẻ được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nét đẹp của bản sắc văn hóa, văn học dân tộc Sự

đóng góp này của Lê Đạt đã mang lại cho dòng thơ đương đại một bước tiến,

mà trước hết là làm cho ngôn ngữ thơ giàu sức sống Việc đánh giá thơ Lê Đạt gắn liền với một đòi hỏi: độc giả thơ bây giờ cần được trang bị một trình độ tư duy và kiến thức văn học phù hợp để hiểu thơ của hôm nay hay đúng hơn là

để nhập được vào thế giới thơ đang trong xu hướng đổi mới

Trang 8

TàI LIệU THAM KHảO

[1] Xuân Diệu, Công việc làm thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1984

[2] Lê Đạt, Nghiệp thơ, Tia sáng, số tháng 7, 2003

[3] Lê Đạt, Đường chữ, Văn nghệ (phụ san Thơ), số 5, 2003

[4] Lê Đạt, Lời xông đất, Tia sáng, số Xuân, 2007

[5] Thụy Khuê, Từ lãng mạn đến siêu thực,

http://perso.club-internet.fr/south15/thuykhue/tk99/breton-html/

[6] Thụy Khuê, Cấu trúc thơ, Văn Nghệ xuất bản, California, Hoa Kỳ, 1996

[7] Trần Đình Sử, Tuyển tập, tập 2, NXB Văn học, 2005

[8] Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Xuân Sanh với Buồn xưa, Ngôn ngữ số 6, 2002.ư

[9] Đặng Tiến, Lê Đạt và Bóng chữ, Người Hà Nội số 14, 15, 1995

SUMMARY

LEDAT'S INNOVATIONS OF VERSIFICATION

IN A SET OF POEMS CHIEU BICH CAU IN BONG CHU VOLUME

Chieu Bich Cau - one of the four parts in Bong chu (the shade of words) volume (1994) expressed the noticeable contribution of Le Dat to innovating Vietnamese contemporary poetry The position of words and the ways to read intertextual poems

in this part were the two key issues we clarified to identify the characteristics of LeDat’s versification

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm