Tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau là thành tựu văn học tiêu biểu của ông, đã phản ánh một cách sinh động cuộc sống của người dân và những nét đặc thù về thổ nhưỡng, sinh thái ở miền Tây
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
SƠN NAM Và NHữNG TRUYệN NGắN Về Đề TàI NAM Bộ
Nguyễn Thị Hồng (a) Tóm tắt Sơn Nam được mệnh danh là nhà "Nam Bộ học", có những sáng tác xuất sắc về mảnh đất cực nam của Tổ quốc Tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau là thành tựu văn học tiêu biểu của ông, đã phản ánh một cách sinh động cuộc sống của người dân và những nét đặc thù về thổ nhưỡng, sinh thái ở miền Tây Nam Bộ Tập truyện cũng thể hiện rõ nghệ thuật kể chuyện, dựng cảnh, dựng người rất đặc sắc của nhà văn
ơn Nam là nhà văn sinh ra và
lớn lên trên mảnh đất Nam Bộ
thân yêu Câu nói: “Tôi sống ở rừng U
Minh từ bé đến lớn” của Sơn Nam khi
ông tự giới thiệu về mình cho thấy cốt
cách và tâm hồn Sơn Nam thật chân
chất, mộc mạc Là nhà văn trưởng
thành trong kháng chiến, Sơn Nam
được bạn đọc biết đến khi ông đạt giải
nhất trong cuộc thi sáng tác văn học do
uỷ ban kháng chiến hành chính Nam
Bộ tổ chức với truyện vừa Bên rừng Cù
Lao Dung và giải nhì văn nghệ Cửu
Long của Uỷ ban kháng chiến hành
chính với kí sự Tây Đầu đỏ vào năm
1952 Và trong suốt hơn 50 năm cầm
bút, Sơn Nam đã để lại một khối lượng
tác phẩm khá đồ sộ với nhiều thể loại
khác nhau Trong đó, tập truyện Hương
rừng Cà Mau được Sơn Nam viết giai
đoạn 1954 - 1975 có thể xem như một
“mảnh dư đồ” (Hoàng Phủ Ngọc Phan)
của bức tranh Nam Bộ khoảng nửa đầu
thế kỷ XX Với 65 truyện, Sơn Nam tập
trung phản ánh cuộc sống sinh hoạt của
người dân Nam Bộ, trong đó có những
mốc thời gian từ thuở khai hoang đến
thời kì thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm
lược Hình ảnh những người đi tiên
phong khẩn đất lập làng ở đồng bằng
sông Cửu Long thế kỷ XIX, những khó
khăn gian nan cực khổ của người dân
và tinh thần nghĩa khí hào hiệp, yêu quê hương đất nước trong lòng người Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã được hiện lên sinh động qua những câu chuyện kể của
ông
Sơn Nam cho rằng: “ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi,
đời ông nội rồi đến cha tôi lo khẩn hoang… Viết về khẩn hoang là sở trường của tôi” [2, 6] Đọc Hương rừng
Cà Mau của Sơn Nam, chúng ta có thể thấy tổng thể con người và cuộc sống Nam Bộ trong quá trình hình thành vùng đất mới Mỗi câu truyện trong sáng tác của ông là một bức tranh thực
tế về cuộc sống của con người và làng quê Nam Bộ Là nhà văn, nhà Nam Bộ học nhưng có lẽ bạn đọc trên cả nước (nhất là đối tượng học sinh) mới chỉ biết
đến Sơn Nam qua truyện Bắt sấu rừng
U Minh Hạ (trích trong tập truyện Hương rừng Cà Mau) trong chương trình Văn 12, phần đọc thêm Và gần
đây nhất khán giả trong và ngoài nước lại có dịp may mắn xem phim “Mùa len trâu” (phim được chuyển thể từ hai truyện Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu của Sơn Nam) Đạo diễn Nguyễn
Võ Nghiêm Minh đã thổ lộ khi trả lời phỏng vấn tạp chí Khám phá rằng: Nếu không có tập Hương rừng Cà Mau thì Nhận bài ngày 22/01/2008 Sửa chữa xong 01/4/2008.
S
Trang 2Nguyễn Thị Hồng SƠN NAM Và NHữNG TRUYệN NGắN về NAM Bộ, Tr 33-39
chắc đã không có phim Mùa len trâu
Truyện Cây huê xà cũng được chuyển
thể thành kịch bản phim đã được trình
chiếu, được công chúng yêu thích
Chính tập Hương rừng Cà Mau đã tạo
nguồn cảm hứng cho nhiều độc giả yêu
đất và người Nam Bộ
Quê hương Nam Bộ là quê hương
của những con rạch chằng chịt, chim
trên bờ, cá dưới sông, bốn mùa cây trái
tốt tươi, cảnh vật còn hoang sơ, nhưng
với bàn tay, sức khai phá của con người,
nó đã trở nên trù phú
Những tìm tòi, khám phá về đất và
người Nam Bộ đã giúp Sơn Nam kể lại
rất hay những mẩu chuyện về vùng đất
cực Nam của tổ quốc Ông đã lắng nghe
được âm thanh của tiếng gươm khua
của người đi khai điền lập ấp, nghe
được âm thanh của điệu hò, lý, đờn ca
tài tử, nắm bắt những nét sinh hoạt
mang đặc trưng sông nước, đúc kết nên
những câu chuyện kể chứa đựng tinh
thần, tâm linh, cốt cách của người Nam
Bộ Với tấm lòng thành thật, cởi mở, với
nụ cười lạc quan hồn hậu, Sơn Nam đã
để lại ấn tượng đẹp trong lòng độc giả
Và dường như Sơn Nam hiểu rất rõ nỗi
niềm của người xa xứ:
“Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”
Đọc những câu cuối trong bài thơ
không đề viết thay lời tựa cho cuốn
Hương rừng Cà Mau này của Sơn Nam,
trong lòng ta như bùi ngùi xúc động,
dâng trào một nỗi nhớ quê da diết Viết
từ cái thuở cha ông xưa từ miền Trung
tha hương vào khai hoang mở cõi
phương Nam, Sơn Nam đã gieo vào lòng
người đọc một âm điệu buồn chất chứa,
trải dài theo không gian sông nước
mênh mang Người con của đất phương Nam ấy đã làm sống lại quá khứ miền Nam trong vài trăm năm về trước Con người ấy lặn lội khắp đất Chín Rồng Cả
đời Sơn Nam gắn bó với nghiệp viết Làm cách mạng và bắt đầu viết, hai mươi năm sống giữa lòng đô thị cũng là
để viết, rong ruổi khắp mọi nơi cũng là
để quan sát và để viết, xuôi Cửu Long giang hít thở bầu không khí bình yên, trong lành cũng là để viết Ông lao động cật lực trên mảnh đất văn chương khảo cứu của mình Ông đã bày tỏ tấm lòng mình qua những câu chuyện “đồng quê”
mà tác giả đã từng nhận: “Tôi là một con người của đồng quê, dòng máu tâm hồn nông dân, giọng điệu nông dân, kiến thức nông dân Đồng bằng sông Cửu Long là giấc mơ, là chân trời sáng tác suốt đời tôi” [4, 12] Đến với Hương rừng Cà Mau, chúng ta như được trở về với cội nguồn dân tộc thuở cha ông mở cõi Kể chuyện quá khứ là một kiểu dã
sử mà Sơn Nam đã thành công Qua khảo sát tập Hương rừng Cà Mau, chúng tôi thấy Sơn Nam đã kế thừa lối
kể chuyện truyền thống khi ông sử dụng trong tác phẩm mình cách kể với chủ thể vô hình Với 52 trên tổng số 65 truyện sử dụng hình thức chủ thể kể này, Sơn Nam đã cho ta thấy bức tranh chung của cuộc sống cư dân thời mở
đất Trong truyện Bác vật xà oông, chủ thể kể về cảnh con người phải sống giữa bốn bề hoang vu: “Đôi mươi mái nhà lá, vài ba gốc dừa không trái, ngọn Xẽo Bần xơ rơ như vậy đó Chung quanh là cánh đồng cò bay thẳng cánh nhưng
đầy năn kim, ô rô, cỏ ống Cò lông bông, trích, cúm núm bay lượn tối ngày” [6, 73] Chính trong cảnh sông nước bao la, con người phải đối mặt với những thử thách khó khăn Truyện Mùa len trâu giới thiệu với người đọc cuộc sống cơ
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
hàn của người dân nghèo nơi vùng lũ
Cà Mau Người và trâu phải len lỏi qua
dòng nước để tìm đến nơi an toàn: “Núi
Ba Thê bên này, núi Cấm trước mặt,
hòn Sóc, hòn Đất bên kia bình thường
xem hùng vĩ, thơ mộng, thì nay trở
thành lè tè, bé bỏng trong cảnh bao la
trời nước (…) Sau hè nhà, nước dậy
đùng đùng, sóng gợn từng lượn lớn, vỗ
lát chát vào vách (…) Đôi trâu bước lên
nền chuồng trâu lúc trước, tuy đã đắp
cao thêm gần một thước vậy mà nước leo
bù lé đé” [6, 651-652] Vào mùa len
trâu, cảnh trâu “len” vô cùng hùng vĩ:
“Trâu lội năm ba trăm con, đen đầu,
đặc nước Kiếm bạc trăm thì dễ chớ
muốn thấy được cảnh đó không phải dễ,
giống như thời thiên địa sơ khai, càn
khôn hỗn độn…”) [6, 656] Cảnh trâu
“len” tuy oai hùng nhưng chứng tỏ sự
khốn cực của người dân miền Hậu
Giang trong mỗi mùa nước nổi Và cũng
chính Mùa len trâu đã đưa người nông
dân vượt qua ranh giới địa phận vốn
bấp bênh nghèo khổ tới những vùng đất
mới mở rộng bờ cõi, tạo lập cuộc sống
Một cuộc biển dâu là tác phẩm khá tiêu
biểu của Sơn Nam trong việc ngợi ca
tình cảm tốt đẹp của con người khi gặp
những tai hoạ xảy ra trong bước đường
mưu sinh Giữa mùa mưa lũ, trâu bò
không có cỏ ăn, người chết không có đất
chôn thì chú Tư Lập, ông bà Hai Tích
phải chứng kiến cảnh đau lòng của
thằng Kìm Ba của Kìm đã tắt thở giữa
biển nước mênh mông trên vùng ruộng
sạ tỉnh Long Xuyên Kìm ôm xác cha,
nước mắt tuôn xuống, khóc không ra
tiếng Trước thảm cảnh đó, chú Tư Lập,
ông bà Hai Tích đã hết lòng giúp đỡ
Kìm Cái chết của lão Bích khiến ông
Hai Tích suy nghĩ: “Đất đâu mà chôn!
tứ bề là nước Có hai cách: một là xóc
cây tréo ở giữa đồng rồi treo lên mặt
nước, chờ khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất Như vậy mất công lắm, diều, quạ hoành hoành Chi bằng bó xác lại rồi dằn cây dằn đá mà neo dưới
đáy ruộng” [6, 631] Cái chết của lão Bích cũng gợi nên cảnh cực khổ, thê thảm của những người đi tiên phong lập nghiệp ở Cà Mau Xác người đi khai phá
đất đều bị vứt xuống ruộng nước, rữa
ra, xương người lẫn với xương trâu Mỗi khi đến mùa cày ruộng, ngưòi gặp phải những bộ xương ấy đều tưởng rằng đó
là xương những người đời xưa Chính trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên, con người đã đoàn kết, cùng nhau vươn lên tạo lập cuộc sống Đây là đoạn chủ thể kể lại cảnh đau đớn của thằng Kìm khi cha nó mất: “Thằng Kìm dập đầu xuống sàn nhà, hai tay bứt tóc:
- Trời ơi, phải biết vậy ba tôi đi tới
xứ này làm chi…
Bà Hai Tích rưng rưng nước mắt:
- Cháu đừng khóc Trời định vậy ở
đây ai cũng vậy, người có của ai tới xứ này? Trách cha, trách mẹ, trách trời là thêm tội, cháu thắp nhang đi”
Hay ở Bắt sấu rừng U Minh Hạ, tác giả đưa người đọc về một thế giới hoang sơ tận ngọn nguồn sông rạch Nơi đây, cá sấu “nhiều như như trái mù u chín rụng”, chúng thường đi ngược sông Ông
Đốc vào giữa rừng tràm Và “khi người Việt Nam ta đổ tràng xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp”, họ chứng kiến cảnh “sấu nổi lên … những vệt đen chi chít, con thì nằm dài như chiếc xuồng lườn, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác” [6, 86] Trong số đó có con “sấu chúa”, “sống lâu
đời, nhiều phen kịch chiến với loài người” Trước cảnh lo sợ của dân làng,
ông Năm Hên-người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đã dùng mưu bắt con
Trang 4Nguyễn Thị Hồng SƠN NAM Và NHữNG TRUYệN NGắN về NAM Bộ, Tr 33-39
sấu ấy Từng lúc, người kể chuyện lại
đưa đến cho người đọc chứng kiến
những cảnh thú vị xen lẫn hồi hộp
Trên chiếc xuồng ba lá, bên trên chỉ có
hũ rượu và bó nhang, bằng mưu kế cao
cường, ông đã quy phục được đàn sấu
như một người hùng của miền sông
nước, ông Năm Hên đã có công trong
việc chinh phục thiên nhiên, thể hiện
được tài năng và mưu trí của những con
người Nam Bộ Cũng gợi nhớ về thời kì
con người phải chống chọi với thú dữ, ở
truyện Sông Gành Hào, tác giả có dịp
đưa ta về với quá khứ-giai đoạn mà con
người không chỉ bắt sấu giỏi như ông
Năm Hên mà còn phải biết câu sấu kì
tài như chú Tư Đức Cùng đề tài về
khẩn hoang Nam Bộ, ở Hết thời oanh
liệt, tác giả đã “dựng” lên một câu
chuyện đối thoại với các ông già bà lão
sống ở Gò Quao về việc đuổi cọp Câu
chuyện phỏng vấn bắt đầu từ câu “Thưa
ông, ông xuống đây lập nghiệp từ hồi
nào?” Cứ thế, câu chuyện “trên bờ có
cọp, dưới sông có sấu” được kể ra dài
mãi; chuyện về người ăn ong phải bỏ về
vì sợ cọp ăn thịt, con gái ông thầy Râu
bị cọp vồ, nhà anh Tư Ngạn bị cọp cỏng
mất một con heo nái…
ở truyện Hát bội giữa rừng, những
trò tiêu khiển của người mới đi mở đất
được giới thiệu Trong cảnh “dân mình
còn nghèo lắm, ruộng chưa hết phèn,
đình chưa cất, hương chức làng chưa
có”, chỉ có hát bội là cách giải trí độc
nhất Một sân khấu được dựng giữa một
không gian mênh mông sông nước Họ
“coi” hát cũng bằng kiểu rất Nam bộ, đó
là bơi xuồng vào vòng rào cừ, tràm để
xem Nếu người dân lao động mệt nhọc
biến vùng đất hoang vu thành tài
nguyên trù phú phục vụ cho cuộc sống
của mình thì những buổi xem hát đó dã
giúp họ tái tạo sức lao động Thâm nhập
vào đời sống lao động của con người, ở Người mù giăng câu, người đọc đối diện với một thực tế không khỏi chạnh lòng khi nghe chủ thể kể về hoàn cảnh của nhân vật Ông dã bị mất đứa con trai duy nhất của mình trong cuộc chiến tranh, một mình phải lăn lộn để kiếm sống, gắn bó với sông nước bằng nghề giăng câu Khổ cực là thế nhưng ở đây chủ thể kể vẫn tìm ra nét yêu đời lạc quan Đó là một con người sống hoà mình vào sông nước thiên nhiên, thích
đọc thơ Vân Tiên, nói những câu vè thật xúc động Bằng kinh nghiệm sông nước quen thuộc, ông biết được: “Rạch nào lắm ghe xuồng qua lại, cá ăn ở sát bờ Rạch nào im lặng, cá lội ngang giữa dòng Trước khi giăng cá trê, phải quậy cho nước đục Mỗi chỗ cá chỉ ăn một lần” [6, 713]
Người đọc có thể bắt gặp khả năng thấu chuyện hiểu ngưòi kiểu như thế của chủ thể kể Những trang viết của Hương rừng Cà Mau gần như dày đặc hình thức chủ thể kể chuyện vô hình Chính trong 52 truyện nói trên, hình tượng người kể chuyện luôn cố định,
đóng vai trò là hạt nhân quan sát, phản
ánh kịp thời những chuyện làm ăn sinh sống của người dân miền sông nước Với ngôi kể “vô nhân xưng”, là chuyện của mình, là biết hết người và việc, hình tượng người trần thuật ở đây có cái chất men say sưa với bài ca mở đất Không chỉ quanh quẩn với chuyện giăng câu, chuyện bắt sấu đuổi cọp, bắt rắn…, chuyện duy trì sự sống và cải tạo thiên nhiên, chủ thể kể chuyện ẩn mình cũng
đã hướng thẳng vào cuộc sống con người trong khi phải đối mặt với bọn thực dân, điền chủ Nam Bộ ngày nay là mảnh đất kết tinh của biết bao mồ hôi nước mắt, máu xương của những người
đi trước Bên cạnh những người đã hy
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
sinh vì bom đạn chiến tranh là sự hy
sinh thầm lặng của những người đi mở
mang bờ cõi U Minh - Rạch Giá - Cà
Mau là nơi dừng chân cuối cùng của
đoàn người Nam tiến Họ đã đem bàn
tay, khối óc của mình để xâm rừng, lấn
biển, mở làng, lập ấp, sinh cơ lập
nghiệp Tác giả luôn dõi theo câu
chuyện, thuật lại câu chuyện một cách
khách quan nhưng ẩn chứa trong đó là
tình yêu của tác giả đối với con người và
cuộc sống
Mặc dù tần số xuất hiện không
nhiều bằng chủ thể kể vô hình nhưng
dạng chủ thể kể chuyện là nhân vật
“tôi” (gồm 13 truyện) trong tác phẩm
Sơn Nam cũng có những nét riêng Các
truyện Con ngựa đất, Cậu Bảy Tiểu,
Chuyện năm xưa, Ngày mưa đầu mùa,
Người bạn triệu phú, Người tình của cô
đào hát…là những truyện kể từ ngôi
thứ nhất ở truyện Con ngựa đất, người
kể chuyện xưng "tôi" chứng kiến những
biến động lịch sử khi giặc Pháp chiếm
đóng bờ kinh Xáng "Tôi" đã kể lại rành
mạch từng thay đổi nhỏ của bà con “ở
rạch Cái Cau ăn một cái tết không ra tết
vì cái tỉnh lỵ ở miền Hậu Giang đã lọt
vào tay quân Pháp cả rồi” “Tôi” trong
đêm tối đã đến thuyết phục cha của
Nguyệt đi tản cư, chứng kiến cái chết
của ông Hương Cả vì dám viết trên
vách tường nhà mình hàng chữ: “Việt
Nam độc lập”
Còn chủ thể kể “tôi” trong Chuyện
năm xưa dường như là “tôi” tự truyện
Sơn Nam đã “nói” với người đọc về mình
trong thời điểm tác giả cùng tham gia
kháng chiến ở Rạch Giá Đây là đoạn
“tôi” đối thoại với một tên lính Pháp khi
chúng tấn công vào thôn xóm: “Tôi đáp
thản nhiên:
- ở làng này từ 80 năm qua, không
có trường học dạy chữ ABC gì ráo Bọn
sỹ quan nói chuyện riêng thì thào Tên quan Ba quát to:
- Đừng nói xấu chánh phủ thuộc
địa
Tôi đáp nhanh:
- Tôi không sống 80 tuổi thuộc địa, nhưng mấy ông lão trong xóm làm chứng điều đó Thí dụ như ông này làm hương cả trong làng” [6, 217] Dường như, cái “tôi” thời thơ ấu của tác giả đã hướng người đọc vào thế giới của những vùng ký ức thôn xóm, bà con, gia đình
mà kỷ niệm buồn lo, phấp phỏng nhiều hơn bình yên, hạnh phúc Chủ thể kể chuyện như muốn trút gửi cho người
đọc tất cả những lo âu, mặc cảm thân phận của những tháng ngày sống trong
sự kìm kẹp của bọn thực dân, phải chứng kiến những đau khổ thiệt thòi của người đi mở đất Nhân vật “tôi” trong Cậu Bảy Tiểu là người nghĩa khí, hào hiệp, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi “Ông hương trưởng Tạc đang hấp hối”… “Lập tức tôi xuống xuồng bơi thẳng đến nhà ông hương trưởng.” [6, 173] Trong một số truyện ngắn của mình, cái “tôi” nhà văn - người thuật chuyện Sơn Nam luôn hiện diện với tư cách là người kể chuyện theo kiểu “tôi nghe như vầy…” Trong các truyện Cao khỉ U Minh, Con sấu cuối cùng, Hai con cá, Miễu bà Chúa xứ, Thơ núi Tà Lơn… tác giả đã đứng ra thuật chuyện người khác Trong Cao khỉ U Minh, chủ thể
kể là nhân vật tôi kết hợp với nhân vật khác “Tôi” có mối quan hệ với ông Hai Khị và ông Tư Huỳnh “Tôi” được nghe
ông Hai Khị kể chuyện “Tôi” hiểu biết chuyện đời xưa, được nghe kể lại diện mạo của một vùng đất Nam Bộ Trong
đó, “tôi” nhắc đến dòng dõi Mạc Cửu có công khai phá miền Nam Khai thác đề tài lịch sử truyền thống, Sơn Nam thường chú ý bám sát những bước
Trang 6Nguyễn Thị Hồng SƠN NAM Và NHữNG TRUYệN NGắN về NAM Bộ, Tr 33-39
chuyển của cuộc sống mà ông đang
chứng kiến Trong nhiều đoạn chuyện,
nội dung tuy là đối thoại, là lời kể, tâm
sự của nhân vật nhưng đã được chủ thể
kể chuyện lồng luôn vào lời nói của
mình như là một sự nhập thân
Truyện của Sơn Nam có sức cuốn
hút người đọc bởi cách dựng truyện ly
kỳ, dùng nhiều thơ ca dân gian Nam Bộ
tạo phần sinh động cuốn hút người đọc
Đây là một câu ca dao được trích dẫn ở
trong truyện Đại chiến với thầy Chà:
“Chiều chiều bắt nhái giăng câu,
Nhái kêu cái ẹo, cái phận tui nghèo,
chọc ghẹo tui chi”
Sơn Nam có tài kể chuyện xưa mà
người đọc có cảm tưởng gần gũi, mới mẻ
như đang diễn ra bên cạnh chúng ta
Sơn Nam thường đặt nhân vật của
mình vào một bối cảnh chung của dòng
chảy lịch sử cụ thể như: Vào cuối năm
1945, vào năm 1948… hoặc một thời
gian của giai đoạn lịch sử như: thời
Pháp thuộc, năm đó… để nhân vật
triển khai và hành động theo tính cách
Vì vậy, đọc truyện Sơn Nam, chúng ta
có cảm nhận tác giả đang ghi chép,
tường thuật lịch sử ở đó các sự kiện,
các tình huống diễn ra theo một trình
tự nhất định Trong các truyện: Con
Bảy đưa đò, Hòn Cổ Tron, Tháng chạp
chim về, Hương rừng… ta còn bắt gặp
các đoạn mang tính chất biên khảo Các
câu chuyện kể được tác giả trình bày
khá cặn kẽ nhằm lý giải về các địa giới
hành chính, phong tục tập quán Trong
truyện Hết thời oanh liệt, tác giả bâng
khuâng đặt ra nhiều câu hỏi “Non một
trăm năm về trước, làn sóng người Việt
Nam từ Cần Thơ, Vĩnh Long đổ xuống
Rạch Giá, Cà Mau để khai khẩn đất
hoang Họ đã gặp những trở ngại thiên
nhiên nào? Tài trí, sự dũng cảm của họ
ra sao? Lòng chúng ta không khỏi phập
phồng lo âu khi ngày nay đọc lại quyển truyện đời xưa của cụ Trương Vĩnh Ký.” [6, 511] Sơn Nam dẫn bạn đọc ngược thời gian về thời kỳ khẩn hoang miền Nam phía vịnh Xiêm La, khám phá rừng rậm U Minh - nơi mũi đất tận cùng của dải đất hình chữ S Biết bao người đã đi sâu vào rừng tràm trên chiếc xuồng độc mộc như cô Lệ theo chồng là Tư Cồ đến cánh đồng hoang vu phát cỏ trồng lúa (Ruộng lò bom), rồi Tư Bình Thuỷ xuống rừng cúp ở Rạch Giá
để khai thác tài nguyên rừng Lối kể có
vẻ tuỳ hứng, thong dong theo phong cách Nam Bộ của Sơn Nam nhiều khi khiến người đọc cảm thấy sốt ruột Điều khiến câu chuyện của ông kể lôi cuốn người đọc là ở những câu ca dao hò vè, lối nói dân gian được lồng vào trong truyện Khác với ngôn ngữ chân thành mộc mạc nhưng cũ kỹ của Hồ Biểu Chánh, không giống với ngôn ngữ màu
mè như Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam đã thành công trong việc đưa ngôn ngữ đời sống sinh hoạt hàng ngày vào trong tác phẩm của mình Cách diễn tả của tác giả đúng với chất của người Nam Bộ
Có thể nói lao động văn chương đối với Sơn Nam hàm chứa sự say mê cao
độ xen lẫn với kiếm sống hàng ngày, con người ấy sống thật giản đơn, chân chất mộc mạc, dân dã Đối với mọi người, Sơn Nam như một ông già Nam
Bộ, gần gũi thân thiết Sơn Nam đã sống như đời cho ông sống với lòng nhiệt thành, tâm huyết của một nhà văn, nhà khảo cứu thuần phác Nam Bộ
Và Nam Bộ trong Hương rừng Cà Mau xứng danh là “Thành đồng” của tổ quốc Sơn Nam đưa chúng ta về một miền sông nước mênh mông, gặp gỡ những con người nghĩa khí hào hiệp, giúp ta thêm yêu quê hương đất nước Chất
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
miền Tây Nam Bộ thấm đậm trong toàn
bộ tác phẩm của Sơn Nam Có thể nói
ông chính là người đã quảng bá, tiếp thị
đất phương Nam với mọi người trong và
ngoài nước, đem cái phù sa sông Hậu,
sông Tiền “hội ngộ” với nắng, gió miền Trung, kéo những rừng tràm mênh mông đến “hợp thể” với rừng hoa ban Tây Bắc làm nên bản tình ca dạt dào về quê hương xứ sở
Tài Liệu Tham Khảo
[1] Hoài Anh, Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001
[2] Diễm Chi, Nhà Văn Sơn Nam: Cả đời viết về cuộc khẩn hoang Nam Bộ, Phụ nữ chủ nhật, ngày 14/3/2004
[3] Nguyễn Thái Hoà, Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội,
2000
[4] Hoàng Lâm, Trò chuyện với nhà văn Sơn Nam, Văn nghệ, 16/2, Hà Nội, 1991 [5] Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002
[6] Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau, tập truyện, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2005 [7] Vũ Tiến Quỳnh (biên soạn), Phê bình lý luận văn học, NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1994
Summary
SonNam and his short storys about Nam Bo
Son Nam, who is called an expert of Nam Bo studies, has excellent literature works about the South Pole land of Vietnam The short story collection Huong rung
Ca Mau (Ca Mau's forest perfume) which is his particular literature achievement, reflects lively the local inhabitant's lives and the characteristics of soil, ecology in South West of Vietnam The collection also expresses the art of story telling, scenery making, and his particular human images creating