1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá" pptx

7 425 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 120,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Trong tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, kinh tế trang trại Nghệ An đã phát triển nhanh cả về quy mô, số lượng và chất lượng, đạt được những thành tựu nhất định

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008

kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá

Tóm tắt Kinh tế trang trại ở Nghệ An đã góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân Bài viết này tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An, đánh giá những mặt đạt được cũng như một số tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An theo hướng bền vững

1 Đặt vấn đề

Trong tiến trình công nghiệp hoá

nông nghiệp nông thôn, kinh tế trang

trại Nghệ An đã phát triển nhanh cả về

quy mô, số lượng và chất lượng, đạt

được những thành tựu nhất định: giải

quyết việc làm, tăng thu nhập cho

người dân, thay đổi phương pháp sản

xuất, giảm thiểu sự chênh lệch vùng

Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Nghệ An

đang bộc lộ nhiều hạn chế trong quá

trình phát triển: trình độ sản xuất nông

sản hàng hoá còn thấp, sức cạnh tranh

trên thị trường kém, lợi nhuận thu được

chưa tương xứng với tiềm năng đất đai,

lao động

Bài viết này tập trung phân tích

thực trạng phát triển kinh tế trang trại

ở Nghệ An, đánh giá những mặt đạt

được cũng như một số tồn tại, từ đó đưa

ra những giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An

2.1 Số lượng và cơ cấu trang trại ở Nghệ An

Trên cơ sở những lợi thế sẵn có về mặt tự nhiên cũng như về kinh tế - xã hội, trang trại ở Nghệ An tăng nhanh

về số lượng, bình quân mỗi năm tăng gần 400 trang trại Số lượng trang trại phân theo ngành hoạt động như bảng 1 Trong các loại hình trang trại, trang trại tổng hợp có số lượng lớn nhất Tiếp đến là trang trại trồng trọt Các loại hình trang trại thay đổi theo hướng

đầu tư chiều sâu và phát triển tổng hợp Tăng nhanh nhất là trang trại hỗn hợp, tăng bình quân 157 trang trại/năm Loại hình trang trại chăn

Bảng 1 Số lượng trang trại ở Nghệ An

Năm 2002 Năm 2006 Loại hình trang trại

Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu Tổng số 178 100,0 % 1.529 100,0%

1 Trang trại trồng trọt 111 62,4 385 25,2

2 Trang trại chăn nuôi 5 2,8 289 18,9

3 Trang trại lâm nghiệp 57 32,0 119 7,8

4 Trang trại thuỷ sản 4 2,3 105 6,9

5 Trang trại hỗn hợp 1 0,5 631 41,2 (Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 - 2015")

Nhận bài ngày 26/02/2008 Sửa chữa xong 10/4/2008.

Trang 2

Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr 77-83

nuôi tăng bình quân trên 70 trang

trại/năm Số lượng trang trại hỗn hợp

tăng nhanh nhất là do diện tích của các

trang trại này không lớn nên dễ thành

lập, mặt khác với nhiều loại sản phẩm

khác nhau có thể tiêu thụ dễ dàng hơn

2.2 Tình hình sử dụng đất đai

Tổng diện tích đất đai của các trang

trại năm 2006 là 10.822 ha, bình quân

7 ha/ trang trại (xem bảng 2)

Diện tích đất bình quân của một

trang trại giảm 4,1 ha trong vòng 4

năm (từ năm 2002 đến năm 2006)

Nguyên nhân chủ yếu do các trang trại

mới thành lập sau có xu hướng đầu tư

thâm canh trên quy mô diện tích vừa

phải, sản xuất kinh doanh tổng hợp, số

lượng trang trại chăn nuôi phát triển

nhanh (loại hình này sử dụng diện tích

đất đai ít hơn), hơn nữa quỹ đất tập

trung để phát triển kinh tế trang trại

hiện không còn nhiều So với cả nước

thì bình quân diện tích đất đai trên một

trang trại ở Nghệ An thấp hơn so với

bình quân cả nước (cả nước là 7,1

ha/trang trại năm 2006)

Trong số các loại hình trang trại,

trang trại lâm nghiệp có mức bình quân

diện tích đất cao hơn các loại hình trang

trại khác và tăng bình quân 10,1 ha/trang trại (từ năm 2002 đến năm 2006) Còn lại, phần lớn các loại hình trang trại đều giảm diện tích đất bình quân

2.3 Lao động của trang trại Tổng số lao động thường xuyên của các trang trại là 5.409 người năm 2006, bình quân một trang trại là 3,53 lao

động So với cả nước thì lao động bình quân một trang trại ở Nghệ An thấp hơn nhiều (cả nước là 5,6 lao động/trang trại) Trong thời gian gần đây, lao động thường xuyên bình quân một trang trại giảm xuống, từ 6,5 người/trang trại năm 2003 xuống còn 3,5 người/trang trại năm 2006 Các trang trại chủ yếu thuê lao động thời vụ, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động trên địa bàn Nhìn chung lao động của các trang trại trình độ chưa cao, tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng mới chỉ đạt 2,8% năm 2006, trung cấp 6,63% còn lại

là lao động chưa qua đào tạo Thu nhập bình quân của một lao động tăng từ 431.000 đồng/người/tháng năm 2002 lên 550.000 đồng/người/tháng năm 2006, nhưng vẫn còn thấp

Bảng 2 Tình hình sử dụng đất của trang trại

Năm 2002 Năm 2006 Loại hình trang trại Tổng số

(ha)

Bình quân (ha/TT)

Tổng số (ha)

Bình quân (ha/TT)

1 Trang trại trồng trọt 1031 9,2 2035 5,3

2 Trang trại chăn nuôi 25,5 5,1 799 2,8

3 Trang trại lâm nghiệp 894,5 15,7 3072 25,8

4 Trang trại thuỷ sản 28 7,0 878 8,4

5 Trang trại hỗn hợp 12 12,0 439 6,4 (Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 - 2015")

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008

Bảng 3 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các loại hình trang trại năm 2006

Hiệu quả sử dụng vốn Loại hình trang trại Tổng vốn đầu

tư (tr.đồng)

Vốn đầu tư

bình quân (tr.đ/TT)

Giá trị sản phẩm (tr.đ)/(tr.đ)đồng

vốn

1 Trang trại trồng trọt 39.919 103 0,66

2 Trang trại chăn nuôi 30.522 133 1,64

3.Trang trại lâm nghiệp 16.388 137 0,99

4 Trang trại thuỷ sản 17.330 165 1,50

5 Trang trại hỗn hợp 46.614 73 0,66

(Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 - 2015") 2.4 Vốn của trang trại, hiệu quả sử

dụng vốn

Tổng số vốn đầu tư của các trang

trại là 158.775 triệu đồng năm 2006

Vốn đầu tư bình quân của một trang

trại còn thấp, chỉ mới đạt 104 triệu

đồng/TT, trong khi bình quân cả nước là

189 triệu đồng/TT Vốn đầu tư của

trang trại chủ yếu là vốn tự có (chiếm

67%), vốn vay và vốn khác chỉ chiếm 33

% (bảng 3)

Cơ cấu vốn đầu tư giữa các loại

hình trang trại không giống nhau, bình

quân một trang trại nuôi trồng thuỷ

sản là 165 triệu đồng, chăn nuôi 133

triệu đồng, trong khi đó vốn của trang trại hỗn hợp chỉ 73 triệu đồng

Giá trị sản phẩm và dịch vụ thu

được trên một triệu đồng vốn đầu tư bình quân một trang trại ở Nghệ An là 0,93 triệu đồng Xét về hiệu quả đầu tư thì trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản có giá trị sản phẩm sản xuất

ra trên một triệu đồng vốn đầu tư cao hơn (1,64 và 1,5 triệu đồng) Trong khi

đó trang trại trồng trọt và trang trại hỗn hợp hiệu quả đầu tư thấp hơn nhiều

2.5 Giá trị sản lượng hàng hoá của dịch vụ và thu nhập của trang trại Tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ Bảng 4 Giá trị sản phẩm, dịch vụ và thu nhập bình quân của một trang trại phân

theo loại hình trang trại năm 2006 Loại hình trang trại

Giá trị SP và dịch vụ bình quân/TT (tr.đ)

Bình quân thu nhập/TT (tr.đ)

Thu nhập bình quân (tr.đ)/(tr.đ)đồng

vốn

1 Trang trại trồng trọt 68 62 0,60

2 Trang trại chăn nuôi 81 50 0,37

3.Trang trại lâm nghiệp 138 43 0,31

4 Trang trại thuỷ sản 110 69 0,42

5 Trang trại hỗn hợp 110 41 0,56

(Nguồn: Đề án "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 -2015")

Trang 4

Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr 77-83

của các trang trại là 147.174 triệu đồng

năm 2006, bình quân một trang trại

96,26 triệu đồng Hàng năm các trang

trại đã sản xuất ra một khối lượng hàng

hoá và dịch vụ lớn phục vụ nhu cầu tiêu

dùng, cung cấp nguyên liệu cho các nhà

máy chế biến và xuất khẩu, đặc biệt là

các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của

tỉnh như chè, cà phê, cao su, dứa, mía,

sắn

Tổng thu nhập của các trang trại

trong năm 2006 là 76.410 triệu đồng,

bình quân mỗi trang trại gần 50 triệu

đồng/năm, trong đó, trang trại thuỷ sản

có thu nhập cao nhất: 7.259 triệu đồng,

bình quân mỗi trang trại 69 triệu đồng

(xem bảng 4)

Tuy thu nhập chưa cao, nhưng

phần lớn các trang trại đã bù đắp đủ chi

phí và có lãi Đặc biệt một số trang trại

chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ

sản đã có thu nhập hàng trăm triệu

đồng/năm Lợi nhuận thu được trên một

đồng vốn bỏ ra ngày càng cao, thu nhập

trên một đơn vị diện tích tăng dần và

tốc độ quay vòng đồng vốn nhanh hơn

3 Đánh giá tình hình phát triển

kinh tế trang trại ở Nghệ An

3.1 Những thành tựu đạt được

Kinh tế trang trại phát triển góp

phần đưa nền nông nghiệp Nghệ An

phát triển theo hướng sản xuất hàng

hoá

Phát triển kinh tế trang trại góp

phần khai thác những tiềm năng lợi thế

của địa phương, khai thác diện tích mặt

nước, đất hoang hoá, ven sông, ven

biển, đất trống, đồi núi trọc đưa vào

sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng

đất, tạo ra những vùng sản xuất tập trung với khối lượng hàng hoá lớn, thúc

đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Phát triển kinh tế trang trại tạo

điều kiện công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, áp dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật và công nghệ cũng như đưa cơ giới vào sản xuất Từ đó, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, tạo sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

Kinh tế trang trại phát triển tạo ra

được nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh, cũng như tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phát triển, như: công nghiệp chế biến chè, cà phê, tinh bột sắn, mía

đường, dứa cô đặc, thuỷ sản đông lạnh Kinh tế trang trại đã góp phần phân công lại lao động, tạo thêm việc làm cho hàng vạn lao động trên địa bàn, góp phần xoá đó, giảm nghèo ở vùng nông thôn, tạo ra xu thế và nhu cầu hợp tác mới trong nông nghiệp

Các trang trại thường có lợi thế phát triển ở vùng trung du miền núi, vì

ở đây có diện tích đất đai lớn hơn Điều này thúc đẩy kinh tế khu vực trung du miền núi của Nghệ An phát triển, giảm thiểu sự chênh lệch vùng trong quá trình phát triển kinh tế (số lượng trang trại tập trung rất nhiều ở các huyện miền núi như: Quỳ Hợp 250 trang trại, Nghĩa Đàn 115, Đô Lương 274, Tân Kỳ

144, Anh Sơn 134 )

Việc phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện cho người nông dân tiếp cận nhanh hơn với nền kinh tế thị trường, người nông dân đã tự biết họ

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008

không chỉ sản xuất những cái họ có mà

phải sản xuất những cái thị trường cần

Nhiều chủ trang trại đã có kinh nghiệm

trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh

doanh, có ý chí vươn lên làm giàu chính

đáng trong cơ chế thị trường

3.2 Một số tồn tại, khó khăn

- Kinh tế trang trại phát triển chủ

yếu còn mang tính tự phát, chưa theo

đúng quy hoạch phát triển chung của

vùng, của địa phương

- Hiệu quả sử dụng đất, vốn đầu tư

và thu nhập của trang trại còn hạn chế

Thu nhập bình quân cao nhất thuộc về

trang trại thuỷ sản cũng chỉ đạt 69

triệu đồng/trang trại/năm, còn các trang

trại khác rất thấp, bình quân chỉ đạt 50

triệu đồng/trang trại/năm

- Chất lượng sản phẩm hàng hoá

của các trang trại chưa cao, chủ yếu

dưới dạng thô, giá trị kinh tế thấp,

phần lớn các chủ trang trại chưa nắm

bắt được nhu cầu thị trường nên sản

xuất còn thụ động, hiệu quả thấp

- Số lượng trang trại có tăng nhanh

trong thời gian, nhưng chủ yếu là trang

trại hỗn hợp Như vậy, tính chuyên môn

hoá trong sản xuất trang trại chưa cao,

mặt khác, các trang trại hỗn hợp hiệu

quả sử dụng vốn thấp hơn nhiều so với

các loại hình trang trại khác Bên cạnh

đó, số lượng trang trại tăng, nhưng quy

mô bình quân diện tích 1 trang trại lại

giảm, vì vậy, việc ứng dụng khoa học kỹ

thuật tiên tiến là rất khó khăn, làm

hạn chế khả năng chuyên môn hoá,

cũng như việc sản xuất ra những sản

phẩm có khối lượng lớn, có khả năng

cạnh tranh cao

- Kinh tế trang trại phát triển chưa bền vững, gây lãng phí nguồn tài nguyên Nhiều trang trại không quy hoạch đầy đủ, chưa có những bộ phận

xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường sinh thái, nhất là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản

- Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi, chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại tiến hành chậm Một số nội dung về quyền sử dụng đất, mức hạn

điền, tích tụ đất còn vướng mắc, gây

ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các trang trại ở Nghệ An

- Một trong những khó khăn lớn nhất mà các chủ trang trại gặp phải là thị trường tiêu thụ sản phẩm Vấn đề tiếp cận thị trường, cũng như sản xuất

ra những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường hầu như ít trang trại làm được Các chủ trang trại phần lớn vẫn sản xuất theo những lợi thế mà mình có, chứ chưa theo nhu cầu của thị trường, cho nên việc tiêu thụ sản phẩm thường bấp bênh, ảnh hưởng đến sản xuất

3.2 Một số giải pháp

Để trang trại ở Nghệ An có thể phát triển đạt được những mục tiêu cũng như đạt hiệu quả cao nhất, chúng tôi đề nghị một số giải pháp sau:

- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương cần bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cân đối, hợp lý giữa phát triển kinh tế trang trại với đầu tư chế biến và tiêu thụ sản phẩm Ưu tiên đầu tư giao thông thuỷ lợi những vùng đang còn quỹ đất để phát triển kinh tế trang trại

Trang 6

Nguyễn Thị Trang Thanh kinh tế trang trại Nghệ An , Tr 77-83

Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại

phải ổn định ít nhất từ 20 năm trở lên

- Chính quyền cần có hướng dẫn

đơn giá cho thuê, chuyển nhượng đất để

tích tụ ruộng đất một cách linh hoạt:

miễn giảm phí, thủ tục thuê, chuyển

đổi, chuyển nhượng đất Thực hiện việc

tích tụ ruộng đất để phát triển trang

trại quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi

ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, khoa học

công nghệ vào sản xuất tại các trang

trại

- Để kinh tế trang trại phát triển

nhanh và hiệu quả, cần phải thực hiện

chính sách ưu đãi đầu tư như: miễn

giảm tiền thuê đất, mặt nước, thuế thu

nhập, đầu tư cơ sở hạ tầng cho khu

trang trại tập trung, ưu tiên lồng ghép

các chương trình, dự án trên địa bàn để

thu hút, khuyến khích các thành phần

kinh tế đầu tư phát triển kinh tế trang

trại, tạo điều kiện cho các chủ trang

trại vay vốn đầu tư

- Tăng cường đào tạo các kiến thức

về kỹ thuật, tay nghề cho chủ trang trại

và lao động tại các trang trại Hàng

năm có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho

chủ trang trại về kỹ thuật: gieo trồng,

chăn nuôi, khai thác, thu hoạch, chế

biến, bảo quản sản phẩm sau thu

hoạch

- Không nên tăng nhanh về số lượng

trang trại, mà cần mở rộng quy mô các

trang trại đã có và đầu tư hơn nữa vào

những loại hình trang trại mang lại

hiệu quả kinh tế cao hơn như: trang

trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng

thuỷ sản

- Tăng cường công tác thông tin thị trường và xúc tiến thương mại nhằm cung cấp kịp thời cho chủ trang trại về giá cả nông sản, nhu cầu thị trường Cụ thể như: mở hội chợ hàng nông sản để giới thiệu và quảng bá các hàng hoá nông sản có chất lượng cao, có ưu thế cạnh tranh của tỉnh, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm sản xuất trong và ngoài nước, khuyến khích các trang trại xây dựng thương hiệu sản phẩm có chất lượng, uy tín cao trên thị trường

- Tổ chức sơ kết, tổng kết thường niên về kinh tế trang trại, hoặc tổ chức

đối thoại giữa các chủ trang trại với các nhà khoa học, quản lý, thương mại,

để trao đổi kinh nghiệm, tìm ra các giải pháp thiết thực khắc phục những khó khăn mà các trang trại gặp phải

4 Kết luận Kinh tế trang trại phát triển đã góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn cả về ngành và tổ chức sản xuất, giải quyết nhiều việc làm và tăng thu nhập ở nông thôn Đặc biệt quan trọng là kinh tế trang trại đã tạo nên một sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy, phương pháp làm việc cho người nông dân ở Nghệ An khi nền nông nghiệp nước ta đang gia nhập vào WTO Tuy nhiên, vấn đề phát triển kinh tế trang trại vẫn còn nhiều bất cập Trong thời gian tới, Nghệ An cần có những giải pháp cụ thể về vốn, chính sách, thị trường, lao động nhằm phát triển kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao nhất, thực hiện thành công công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn ở Nghệ An

Trang 7

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008

tài liệu tham khảo

[1] Lê Thông (Chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý KT - XH Việt Nam, NXB ĐHSP, 2004

[2] Ông Thị Đan Thanh, Địa lý nông nghiệp, NXB Giáo dục, 1996

[3] Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, Giáo trình địa lý KT - XH Việt Nam, Tập

1, NXB Giáo dục, 2003

[4] GS TS Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên), Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi, NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2006

[5] Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hoà, Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội, 2002

[5] Cục thống kê tỉnh Nghệ An, Niên giám thống kê Nghệ An 2004, 2005, 2006 [6] UBND tỉnh Nghệ An, Đề án: "Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai

đoạn 2007 - 2015", 2007

sumary

Nghe An Farm economy in industrialization period

Farm economy in Nghe An has made a great contribution to transforming the rural economic structure, resolving employment, increasing farmer's income This paper focused on analysing farm economy development procecess in Nghe An, its achievements and disadvantages as well, in oder to put forward a solution to developing Nghe An farm economy firmly

(a) Khoa Địa lý, Trường Đại học Vinh.

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số l−ợng trang trại ở Nghệ An - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá" pptx
Bảng 1. Số l−ợng trang trại ở Nghệ An (Trang 1)
Bảng 2. Tình hình sử dụng đất của trang trại - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá" pptx
Bảng 2. Tình hình sử dụng đất của trang trại (Trang 2)
Hình trang trại không giống nhau, bình - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá" pptx
Hình trang trại không giống nhau, bình (Trang 3)
Bảng 3. Hiệu quả sử dụng vốn đầu t− của các loại hình trang trại năm 2006 - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kinh tế trang trại Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hoá" pptx
Bảng 3. Hiệu quả sử dụng vốn đầu t− của các loại hình trang trại năm 2006 (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w