Bài báo đề cập đến cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ nói về hai mối quan hệ trong gia đình người Việt quan hệ tương đồng và quan hệ đối lập.. Do đó, chúng tôi không có tham vọng m
Trang 1trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ nói
về các quan hệ trong gia đình người Việt
Mai Thị Hồng Hà (a)
Tóm tắt Bài báo đề cập đến cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ nói về hai mối quan hệ trong gia đình người Việt quan hệ tương đồng và quan hệ đối lập Cấu trúc tương đồng luôn có hai vế A và B cân đối hài hoà, hai vế được liên kết với nhau nhờ các từ cùng trường nghĩa Cấu trúc đối lập được thiết lập bằng mối quan hệ giữa hai vế A và B dựa trên các từ trái nghĩa
1 Về cấu trúc của tục ngữ Việt
Nam
Tục ngữ là một bộ phận quan trọng
của folklore, được nhân dân sáng tạo
lưu truyền và phổ biến sâu rộng Nó đã
trải qua nhiều thời kì lịch sử và đã được
nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, như
từ, cụm từ, câu [xem TLTK 2, 3, 4]…
hoặc dưới những góc nhìn khác nhau
như: thi pháp, văn hoá, văn học dân
gian, ngôn ngữ [xem 5, 6, 7] Tục ngữ
vốn là những đơn vị của lời nói nhưng
tồn tại trong kí ức cộng đồng như một
đơn vị ngôn ngữ, nói như J Lyons là
“những phát ngôn làm sẵn”, “phát ngôn
cố định” Để phân biệt với những đơn vị
làm sẵn khác xuất hiện trong giao tiếp
hàng ngày, chúng tôi xem tục ngữ là
những đơn vị phức thể đa diện và gọi là
những phát ngôn đặc biệt Điều này
được tác giả Nguyễn Thái Hoà trong
cuốn Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi
pháp giải thích rằng: “Sở dĩ gọi là
những phát ngôn đặc biệt bởi vì tục ngữ
được cấu tạo từ những phát ngôn bình
thường nhưng từ bình diện từ, cú pháp
đến ngữ nghĩa bề mặt và ngữ nghĩa bề
sâu làm thành một chỉnh thể gồm sáu
yếu tố: vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi,
kết cấu nghĩa hai trung tâm (phần nêu
và phần báo) (hay còn gọi là phần đề và phần thuyết), tiền giả định (hàm ngôn), chủ đề và hàm ý thông báo” [8, tr.49] Cũng trong chuyên luận này, tác giả đã
đi từ sự phân tích cơ cấu ngữ nghĩa- cú pháp để xác lập mô hình tổng quát của tục ngữ và tiến tới phân loại chúng
Ông cho rằng việc phân loại các khuôn hình cơ bản của tục ngữ dựa vào nội dung, chủ đề là phổ biến hơn cả Theo tác giả, gần đây có một số người nghiên cứu ngữ pháp đề xuất cách phân loại các kiểu câu tiếng Việt dựa vào cấu trúc, cụ thể là quan hệ cú pháp của câu Cho nên tác giả cũng dựa vào các quan
hệ giữa phần nêu và phần báo bởi vì mọi tổ chức câu đều lấy quan hệ cú pháp làm nòng cốt Ông còn cho rằng:
“Đối với tục ngữ không chỉ phân tích cú pháp đơn thuần mà còn gắn với cơ cấu nghĩa của chúng, cơ cấu đó không chỉ
đóng khung ở bề mặt mà phải lệ thuộc vào kết cấu nghĩa bề sâu Vì thế sự phân tích nghĩa bề mặt không đủ cho sự phân loại và sự phân loại khuôn hình tục ngữ không dừng lại ở hình thức mà phải xuất phát từ nội dung” [8, tr.73] ở
đây, Nguyễn Thái Hoà cũng đã chọn mô hình tam giác của V V Bogdanov Mô hình đó như sau:
Nhận bài ngày 08/9/2008 Sửa chữa xong 20/9/2008.
Trang 2Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR 5-14
Cấu trúc ngữ nghĩa (ý thông báo) Biểu đạt vị ngữ tính
(Ký hiệu)
Cấu trúc ngữ pháp Cảnh huống
(Ngoại hình) (Biểu vật)
Hình 1 Trong đó mối liên hệ giữa cấu trúc ngữ pháp và cảnh huống là gián tiếp, còn lại
là một chỉnh thể thống nhất và trực tiếp tạo thành một cấu trúc biện chứng, mặc dù
có thể phân xuất thành các đơn vị độc lập Tác giả đã bổ sung vào tam giác ngữ nghĩa phát ngôn của V V Bogdanov một tam giác ngữ nghĩa- cú pháp tục ngữ như sau:
ý thông báo (Chủ đề- Hàm ý)
Phần nêu-
Phần báo-
Quan hệ
Ngoại hình Hàm ngôn
(Tiền giả định)
Hình 2 Như vậy, chính nhờ cấu trúc chặt chẽ đó mà tục ngữ được cô đúc trong một số khuôn hình nhất định Những khuôn hình bền vững ấy có tính cố định Song các mô hình của tục ngữ không phải khi nào cũng “nhất thành bất biến” mà từ những khuôn hình làm sẵn ấy, tục ngữ được người dùng tái sinh và tái hiện một cách đầy sáng tạo Do đó, chúng tôi không
có tham vọng mô tả hết tất cả các kiểu cấu trúc của tục ngữ mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu một
số cấu trúc nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt
2 Cấu trúc của các phát ngôn tục ngữ nói về các mối quan hệ trong gia
đình người Việt
Qua khảo sát hai tập Kho tàng tục ngữ người Việt ( tập I, II) của các tác giả: Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Lân [6], chúng tôi
đã thống kê được 1443 phát ngôn tục ngữ nói về bốn mối quan hệ chính trong gia đình người Việt đó là: quan hệ vợ- chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa dâu rể với gia đình; quan hệ giữa anh chị em ruột Cụ thể trong bảng thống kê sau:
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 Bảng 1: Những mối quan hệ chính trong gia đình người Việt qua tục ngữ STT Các mối quan hệ cụ thể Tần số xuất hiện Tỷ lệ (%)
2 Quan hệ cha mẹ con 531 36,8%
4 Quan hệ anh chị em 92 6,4%
Từ việc thống kê và phân loại 1443 phát ngôn tục ngữ nói về những mối quan hệ chính trong gia đình người Việt nêu trên, chúng tôi thấy nổi lên bốn cấu trúc cơ bản
đó là: cấu trúc tương đồng; cấu trúc đối lập; cấu trúc so sánh, cấu trúc kéo theo được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2: Các cấu trúc nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt
STT Câu và tỉ lệ Cấu trúc Tổng số câu Tỷ lệ(%)
1 Cấu trúc tương đồng 304 21,1%
2 Cấu trúc đối lập 232 16,1%
3 Cấu trúc so sánh 208 14,4%
4 Cấu trúc kéo theo 198 13,7%
Những phát ngôn tục ngữ phản ánh các mối quan hệ trong gia đình có những
đặc điểm sau:
- Có xuất hiện cặp từ: vợ- chồng; cha (mẹ)- con; dâu- rể; anh (chị)- em
- Có cấu trúc gồm hai vế: A, B
- Giữa hai vế A, B có quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp (tương đồng, đối lập, so sánh, kéo theo)
- Cả phát ngôn mang nghĩa khái quát: phản ánh một kiểu quan hệ nhất định Sau đây, do dung lượng của bài báo, chúng tôi chỉ bàn đến hai dạng cấu trúc nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt, đó là quan hệ tương đồng và cấu trúc
đối lập
2.1 Cấu trúc tương đồng của các phát ngôn tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia
đình
2.1.1 Cấu trúc tương đồng
Trước hết, chúng ta cần phân biệt các khái niệm: cấu trúc, tương đồng và cấu trúc tương đồng Theo Từ điển tiếng Việt : Cấu trúc (danh từ) là tổng hoà các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống: Cấu trúc câu Cấu trúc của hệ thống điện Cũng theo Từ điển tiếng Việt: “tương đồng” là giống nhau (bên cạnh những cái khác nhau): ý kiến tương đồng Những nét tương đồng Những đặc điểm tương đồng [8, tr.1044] Còn danh ngữ “cấu trúc tương đồng” trong câu được hiểu là
Trang 4Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR 5-14
mối quan hệ giữa hai vế trong một câu được xây dựng theo một mô hình nhất định hoặc theo một mối quan hệ nhất định (nhưng không phải là quan hệ đối lập)
Cấu trúc tương đồng trong tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt
là những cấu trúc thể hiện mối quan hệ tương đồng giữa hai vế A và B, trong đó vế A luôn chứa đựng tiền giả định về tính tất yếu được mọi người thừa nhận Về khái niệm tiền giả định, các nhà nghiên cứu cho rằng: “Tiền giả định là những tri thức, sự hiểu biết về từ ngữ hay về những phát ngôn cụ thể mà đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, bất tất bàn cãi và họ dựa vào đó để nói lên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình” [1, tr.162], hoặc theo ý kiến của C K Orecchionni:
“Chúng tôi xem là tiền giả định tất cả những thông tin mặc dầu không được truyền
đạt một cách tường minh (tức không cấu thành đối tượng truyền báo chân chính của thông điệp) nhưng phải được tự động diễn đạt bởi tổ chức hình thức của phát ngôn, nằm sẵn trong tổ chức của phát ngôn, bất kể hoàn cảnh phát ngôn như thế nào” [1,
tr 162]
Như vậy, tiền giả định của một câu nói là những điều gì phải được xem là có trước khi có câu nói đó, vì nếu không có tiền giả định này thì không thể nói ra câu nói đó được Chẳng hạn phát ngôn tục ngữ : Vợ đàn bà, nhà hướng nam thì trên thực
tế, vợ (vế A) có tiền giả định tất yếu là đàn bà; còn hướng nhà thì không nhất thiết phải là hướng nam mà có thể thay đổi Tuy vậy, với điều kiện phong thổ Việt Nam thì nhà hướng nam được xem là thuận nhất cho nên đây là cấu trúc tương đồng chỉ
được xây dựng theo một quan hệ tương đồng nào đó mà thôi, không mang tính tất yếu như vế thứ nhất (vợ đàn bà) Hoặc đối với phát ngôn: Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng thì ở vế A chứa tiền giả định tất yếu: họ hàng phải có trước việc ai về làm dâu để thuộc một dòng họ nào đó, và nếu ai trở thành “con dâu”thì phải có bổn phận
đối nội, đối ngoại và gánh vác gia đình nhà chồng nên nếu dâu dữ thì chẳng ai dám
đến Cũng vậy, ở vế B chó dữ thì láng giềng không ai dám đến nhà Câu này có cấu trúc tương đồng dựa trên quan hệ tương đồng về chức năng
Bên cạnh đó, các thành tố từ vựng trong cấu trúc tương đồng giữa hai vế A và B cũng phải cùng trường liên tưởng, nhờ đó mà người nghe mới có thể suy ra đúng nghĩa của câu tục ngữ đó Ví dụ xét hai vế trong các phát ngôn tục ngữ sau: Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng (R221) thì vế thứ nhất và vế thứ hai đều nằm trong trường liên tưởng với hai đặc điểm nghĩa: 1/ vị trí; 2/ tốt Từ đó người nghe suy ra nên phải lựa chọn chồng như thế nào là tốt Trong ví dụ: Cá chẳng ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư (C50) thì vế thứ nhất và vế thứ hai đều nằm trong trường liên tưởng chung với hai đặc điểm nghĩa: 1/ không theo quy luật , 2/ hậu quả xấu Từ đó người nghe suy ra điều mà người nói muốn nói: làm trái với quy luật tự nhiên sẽ dẫn đến hậu quả không tốt
2.1.2 Các tiểu nhóm cấu trúc tương đồng về mối quan hệ trong gia đình người Việt
Để đi vào tìm hiểu cấu trúc tương đồng nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt, chúng tôi đã phân thành một số nhóm cấu trúc tương đồng được thể hiện bằng mối quan hệ giữa hai vế A và B, cụ thể qua bảng sau:
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
STT Các tiểu nhóm cấu trúc tương đồng Tổng số câu Tỷ lệ
1 Tương đồng về nhận thức tất yếu 148 48,7%
2 Tương đồng về kinh nghiệm ứng xử 97 31,9%
3 Tương đồng về tính nết của con người
trong gia đình
21 6,9%
4 Tương đồng về phong tục tập quán 38 12,5% Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích từng nhóm cụ thể
a Cả hai vế A và B đều thể hiện tính tương đồng về nhận thức tất yếu trong cuộc sống gia đình
Ta có phát ngôn: Có chồng chẳng được đi đâu, có con chẳng được đứng lâu một giờ (C1713) thì vế thứ nhất và vế thứ hai đều nói về sự ràng buộc của cuộc sống gia
đình đối với người phụ nữ Mặc dù không ai định ra điều này thành quy tắc bằng văn bản pháp luật, thế nhưng trong nhận thức của mọi người nói chung và của những người phụ nữ nói riêng là đã có chồng (ở vế thứ nhất) hoặc đã có con (ở vế thứ hai) thì họ đều tự ý thức được việc họ nên làm và họ xem đó là điều tất yếu Điều này cũng tương tự như phát ngôn: Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng (C1728) thì cả hai vế đều nói lên trách nhiệm của người phụ nữ khi làm
mẹ (vế thứ nhất) và làm vợ (vế thứ hai), đó là sự tự nhận thức tất yếu của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình Trong phát ngôn: Chồng khôn vợ được đi hài, vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông (C1259) thì vế thứ nhất: Chồng khôn vợ được đi hài
có nghĩa là nếu người chồng khôn ngoan thì vợ là người được nhờ, được hưởng lợi; tương tự như vậy, vế thứ hai: Vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông có nghĩa là người vợ có khôn ngoan thì người chồng cũng là người được nhờ, được hưởng lợi Cho nên, cả hai vế cùng nói lên một sự nhận thức tất yếu trong cuộc sống vợ chồng Trong phát ngôn: Con chẳng chê cha mẹ khó, chó chẳng chê chủ nghèo (C2087) thì vế thứ nhất Con chẳng chê cha mẹ khó có nghĩa là những người con được sinh ra trong những gia đình khó khăn, thì họ vẫn luôn là con của những gia đình đó chứ không vì vậy mà họ chê cha mẹ của mình Tương tự ở vế thứ hai: Chó chẳng chê chủ nghèo nói lên con vật nuôi trong gia đình luôn gắn bó thân thiết với chủ Cả hai vế nói lên những tình cảm tự nhiên vốn có của con người, cũng như của con vật nuôi thân thiết trong gia đình
Trong quan niệm truyền thống của người Việt thì người cha luôn được xem là trụ cột của gia đình, người cha làm ra của cải vật chất và có uy quyền trong gia đình cũng như ngoài xã hội Người Việt thường rất đề cao vai trò của người cha Vì vậy tục ngữ đã phản ánh những nhận thức này thành chân lý mang tính khái quát, được thể hiện bằng cấu trúc tương đồng như phát ngôn tục ngữ sau: Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hư (C2215) Cả hai vế có điểm tương đồng là cùng đề cập
đến ảnh hưởng, tầm quan trọng của đối tượng này với đối tượng kia như thế nào ở
vế thứ nhất: con không có cha thì con sẽ vất vả, phải chịu khó khăn, tương tự như ở
vế thứ hai: cây không có rễ thì cây sẽ chết
b Cả hai vế A và B đều đề cập đến kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống gia đình
Trang 6Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR 5-14
Ta có phát ngôn: Dạy con dạy thuở còn thơ, dạy vợ dạy thuở ban sơ mới về (D65) thì giữa hai vế đều đề cập đến cách dạy một ai đó trong gia đình thì cần dạy vào thời
điểm nào cho thích hợp Dạy con: nên dạy từ lúc còn bé, dạy vợ: nên dạy từ lúc mới lấy về Hay phát ngôn tục ngữ: Mài gươm dạy vợ, giết chó khuyên chồng (M57) thì giữa hai vế A và B của câu tục ngữ này đều đề cập đến cách thức dạy bảo hay khuyên nhủ ai đó ên làm như thế nào là cách tốt nhất Cũng tương tự, phát ngôn: Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời (C2522) thì ở vế thứ nhất nói về sự việc khi cơm sôi thì nên bớt lửa, cơm mới ngon, không bị khê còn ở vế thứ hai nói về việc chồng giận thì vợ nên bớt lời để được hoà thuận Như vậy cả hai vế đề cập đến cách thức nên làm như thế nào để cho sự việc không xấu đi Trong phát ngôn tục ngữ: Làm rể chớ nấu thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại (L187) thì giữa hai vế A và B của phát ngôn tục ngữ này đều nói về những lời khuyên cho những người con dâu, con rể nên làm gì
để tránh những điều không tốt, không hay sẽ xảy ra trong mối quan hệ với gia đình Nhìn chung những phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm cấu trúc này đều hướng đến mục đích gián tiếp là một lời khuyên về kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống gia
đình Chúng có dấu hiệu để nhận diện là giữa hai vế A và B có thể thêm các từ: thì nên, chớ, cần, cần phải làm gì
c Cả hai vế A và B đều thể hiện những đặc tính gần nhau của mỗi người trong gia đình
Đặc tính của con người được tục ngữ thể hiện bằng những phát ngôn có cấu trúc tương đồng giữa hai vế A và B như là sự tương hợp về một mặt nào đó trong cuộc sống giữa các thành viên trong gia đình người Việt Chẳng hạn phát ngôn: Cha anh hùng, con hảo hán (C479) nói lên cha và con đều là những người có khí phách anh hùng Còn trái lại, phát ngôn: Cha đào ngạch, con xách nồi (C497) nói về cả hai cha con đều đi ăn trộm Phát ngôn: Chồng đánh bạc, vợ đánh bài (C1232) lại phê phán những người chồng và người vợ mà có tính cờ bạc, thì gia đình đó sẽ tan nát
d Cả hai vế A và B đều thể hiện những quan niệm về phong tục tập quán của gia đình người Việt
Ta có phát ngôn tục ngữ : Bố gậy tre, mẹ gậy vông (B584); hoặc có biến thể: Cha gậy tre, mẹ gậy vông; bà gậy vông, ông gậy tre (C502) thì ở phát ngôn trên: Bố gậy tre (vế thứ nhất), mẹ gậy vông (vế thứ hai; hay Cha gậy tre, mẹ gậy vông (vế thứ nhất), bà gậy vông, ông gậy tre (vế thứ hai) thể hiện phong tục của người Việt đó là sau khi người cha, người ông chết thì con, cháu phải chống gậy tre; còn đối với mẹ, bà sau khi chết thì con, cháu phải chống gậy vông Phát ngôn tục ngữ : Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy (M700) lại nói đến trong dịp tết cổ truyền của người Việt, có hai việc quan trọng cần phải nhớ đó là việc đi tết cha mẹ và thầy cô Thông thường con, cháu phải đến nhà tết cha mẹ vào ngày mồng một và đến nhà tết thầy cô vào ngày mồng ba Phát ngôn: Cưới vợ tháng hè, bò què tháng sáu (C2832) lại nói đến quan niệm của người Việt: đây là hai việc không nên xảy ra vào thời điểm này Trong phong tục cưới hỏi, người Việt thường quan niệm nên cưới vào mùa thu hoặc mùa xuân là tốt nhất bởi vào thời điểm này khí trời mát mẻ sẽ là bước khởi đầu thuận lợi cho cuộc sống gia đình, còn cưới vào tháng hè là tháng nóng nực thường không tốt Cũng tương tự như việc bò què vào tháng sáu sẽ không thuận lợi cho nhà nông vì
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
đây là thời điểm người nông dân bắt đầu cày ruộng để chuẩn bị cho việc gieo trồng lúa
Tóm lại, phát ngôn tục ngữ có cấu trúc tương đồng nói về mối quan hệ trong gia
đình người Việt luôn có cấu trúc hai vế A và B cân đối hài hoà Hai vế được liên kết với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mang ý nghĩa miêu tả các biểu hiện của con người cũng như những quan điểm, nhận thức của con người trong gia đình người Việt
2.2 Cấu trúc đối lập của các phát ngôn nói về nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt
2.2.1 Cấu trúc đối lập
Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi đã phân thành một số nhóm cấu trúc đối lập, chủ yếu là đối lập ở phần Đề và phần Thuyết, cụ thể qua bảng sau :
STT Một số nhóm cấu trúc đối lập Tổng số câu Tỷ lệ(%)
1 Dựa trên sự đối lập ở phần Đề 62 26,7%
2 Dựa trên sự đối lập ở phầnThuyết 73 31,6%
3 Dựa trên sự đối lập ở cả hai phần Đề
và phần Thuyết
Từ bảng trên, chúng tôi nhận thấy, sự đối lập dựa trên cả hai phần Đề và phần Thuyết có số lượng nhiều nhất, tỉ lệ 41, 7%, tiếp đó là sự đối lập dựa trên phần Thuyết, tỉ lệ là 31, 6% và thứ ba là đối lập dựa trên phần Đề, tỉ lệ là 26,7% Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích và mô tả từng nhóm:
a Cấu trúc đối lập dựa trên sự đối lập ở phần Đề
Ta có các phát ngôn tục ngữ :
Con tài lo láo lo kiêu (A), con ngu thì lại lo sao kịp người (B) (C2286)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Đề : Con tài/ con ngu
Giàu bán chó (A), khó bán con (B) (G428)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Đề : Giàu/ khó
Sang nhờ vợ (A), nợ vì con (B) (S30)
Đ T Đ T
Các phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm này đều có phần Đề mang nghĩa trái ngược
về một phương diện nào đó
b Cấu trúc đối lập dựa trên sự đối lập ở phần Thuyết
Ta có các phát ngôn:
Ăn của chồng thì ngon (A), ăn của con thì nhục (B) (Ă138)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Thuyết: ngon/ nhục
Cha đưa (A), mẹ đón (B) (C500)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Thuyết: đưa/ đón
Trang 8Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR 5-14
Cha bòn (A), con phá (B) (C481)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Thuyết : bòn/ phá
Cơm mẹ thì ngon (A), cơm con thì đắng (B) (C2502)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Thuyết : ngon/ đắng
Các phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm này đều có phần Thuyết mang nghĩa trái ngược về một phương diện nào đó
c Cấu trúc đối lập dựa trên sự đối lập ở cả phần Đề và phần Thuyết
Ta có các ví dụ sau:
Mẹ ngoảnh đi con dại (A), mẹ ngoảnh lại con khôn (B) (M414)
Vế A : Mẹ ngoảnh đi con dại
Đ T
Vế B : Mẹ ngoảnh lại con khôn
Đ T
ở phần Đề có sự đối lập : Mẹ ngoảnh đi/ mẹ ngoảnh lại và ở phần Thuyết cũng
có sự đối lập : con dại/ con khôn
Vậy đây là một lối nói hàm ngôn tạo ra ý nghĩa trái ngược nhau Nếu cha mẹ không quan tâm, để ý dạy bảo con cái thì con cái sẽ không biết cách đối nhân xử thế (con dại) Còn nếu cha mẹ quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo cho con thì con sẽ nên người (con khôn)
Thương con cho roi cho vọt (A), ghét con cho ngọt cho bùi (B) (T1015)
Đ T Đ T
ở phần Đề có sự đối: Thương con/ ghét con và ở phần Thuyết cũng có sự đối lập: cho roi cho vọt/ cho ngọt cho bùi Sự đối lập ở hai vế A và B của phát ngôn tục ngữ này muốn thể hiện cách thức đối xử của những người làm cha, làm mẹ đối với con của mình
Bố mẹ giàu con có (A), bố mẹ khó con không (B) (B585)
Đ T Đ T
Sự đối lập ở phần Đề : Bố mẹ giàu/ bố mẹ khó và sự đối lập ở phần Thuyết : con có/ con không
2.2.2 Các tiểu nhóm cấu trúc đối lập của các phát ngôn nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt
Trong hai phần Đề và Thuyết lại có chung những nhóm đối lập dựa trên mặt nghĩa:
a Cấu trúc đối lập dựa trên trường nghĩa tồn tại- không tồn tại
Những phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm này gồm hai vế A và B được xây dựng dựa trên sự có tồn tại và không tồn tại sự việc, hiện tượng hay một biểu hiện nào đó của các thành viên trong gia đình để nói lên một chân lý có tính khái quát mang đặc thù của người Việt :
Có cha nhờ cha (A), không cha nhờ chú (B) (C1700)
Có của chia của (A), không có của chia nợ (B) (C1746)
Có của để lại cho con (A), không có để nợ cho con (B) (C1748)
Trang 9trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
Như vậy cấu trúc đối lập của các phát ngôn tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia
đình được thiết lập bằng mối quan hệ giữa hai vế A và B, mang nghĩa khái quát về một sự trái ngược nhằm biểu thị các nhận xét về cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, về sự nhận thức của con người và sự nhận diện về đặc điểm của con người trong gia đình người Việt
Các từ ngữ ở vế A và vế B của các câu tục ngữ trái ngược nhau có thể xuất hiện ở phần Đề, phần Thuyết và cả hai phần Đề- Thuyết
b Đối lập thể hiện qua cách quan niệm về tướng số: Con gái giống cha giàu ba
họ, con trai giống mẹ khó ba đời (C2162); Con gái giống cha giàu ba đụn, con gái giống mẹ khó lụn tận xương (C2161); Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà; Đàn ông tốt tóc thì sang, đàn bà tốt tóc thì mang nặng
đầu (Đ 231)
3 Một số nhận xét
Từ các cấu trúc nghĩa trên đây, chúng tôi thấy nổi lên hai vấn đề: a) tục ngữ khẳng định ảnh hưởng, vai trò quan trọng của cha mẹ đối với con và b) những biểu hiện tích tiêu cực trong quan hệ giữa cha mẹ và con
3.1 ảnh hưởng, vai trò quan trọng của cha mẹ đối với con
Trước hết, về vai trò của người cha đối với con, tục ngữ khẳng định đó là ảnh hưởng quan trọng của người cha đến tinh thần, phẩm chất, tương lai của con Về những tiêu cực trong quan hệ cha con, tục ngữ khẳng định tác nhân là con Trong quan hệ cha- con và quan hệ mẹ- con, ta thấy có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng
có những điểm khác nhau như sau:
Về trách nhiệm nuôi dạy con, vai trò của người mẹ được nhấn mạnh hơn, thể hiện số phát ngôn tục ngữ nói về trách nhiệm của mẹ khi con hư nhiều gấp 3 lần số phát ngôn tương tự đối với người cha Về nội dung cụ thể, tục ngữ cũng đề cập đến trách nhiệm của người mẹ ở nhiều khía cạnh hơn (con hư tại mẹ, mẹ ngoảnh đi con dại, con dại cái mang) còn đối với người cha, tục ngữ không quy trách nhiệm, mà chỉ tìm ra nguyên nhân (con hư là do cha) Điều này cho thấy, trong việc dạy con, người cha chỉ “cầm cương”, còn người mẹ thì có trách nhiệm chỉ bảo chi tiết cụ thể cho con
Về ảnh hưởng, sự chi phối, tục ngữ khẳng định con cái đều phải dựa vào cha mẹ, phụ thuộc vào cha mẹ
3.2 Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ giữa cha mẹ và con
Bên cạnh mặt tích cực, tục ngữ còn đề cập đến những yếu tố tiêu cực đã chi phối quan hệ cha mẹ và con, trong đó sự bất hiếu của con đối với cha mẹ thể hiện khá phổ biến, trên khá nhiều phương diện- từ ăn uống, vui chơi con giành phần hơn, để việc nặng nhọc cho cha mẹ, tới việc thiếu trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ
về già, thậm chí còn ngăn cản việc đi bước nữa tìm hạnh phúc của mẹ goá Ngoài ra tục ngữ cũng phê phán tính cục bộ do quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái Từ quan hệ máu thịt dễ nảy sinh tư tưởng cục bộ, dẫn đến kìm hãm sự phát triển Đây
là phát hiện quan trọng của tục ngữ, chứng tỏ từ xưa, người Việt đã nhìn ra sự hạn chế của lối quan hệ khép kín, thiếu cởi mở của kiểu gia đình tiểu nông và mong muốn có sự mở rộng quan hệ ra ngoài xã hội, khách quan hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển xã hội
Trang 10Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR 5-14
4 Kết luận
Qua khảo sát cấu trúc tương đồng, cấu trúc đối lập của các phát ngôn tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia đình người Việt, chúng tôi rút ra kết luận:
Cấu trúc tương đồng luôn có hai vế A và B cân đối hài hoà Hai vế được liên kết với nhau nhờ phương tiện từ vựng- các từ luôn nằm trong cùng trường nghĩa- trong
đó A và B gồm các từ ngữ mang nghĩa miêu tả những biểu hiện cũng như những quan điểm, nhận thức về cách ứng xử của các thành viên trong gia đình người Việt Cấu trúc đối lập được thiết lập bằng mối quan hệ giữa hai vế A và B dựa trên phương tiện từ vựng đối lập, thể hiện qua phần Đề, phần Thuyết hoặc đồng thời cả phần Đề và phần Thuyết Nhờ đó mà hai vế A và B đều mang nghĩa khái quát về một sự trái ngược nào đó, như hình thức, tính cách, cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình
Tài liệu tham khảo [1] Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, 1998
[2] Nguyễn Đức Dân, Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ- sự vận dụng, Ngôn ngữ, số 3,
1986
[3] Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB GD, Hà Nội, 1974
[4] Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Tục ngữ Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội,
1975
[5] Nguyễn Đức Dương, Cấu trúc cú pháp của các đơn vị tục ngữ, Ngôn ngữ, số 6,
1998
[6] Phan Thị Đào, Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, NXB Thuận Hoá, Huế, 1999 [7] Nguyễn Thái Hoà, Tục ngữ Việt Nam- cấu trúc và thi pháp, NXB KHXH, Hà Nội,
1997
[8] Hoàng Văn Hành, Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, Ngôn ngữ, số 4,
1980
Summary
Semantic structure of proverb-utterances saying about
relations in Vietnamese family
This article deeply studies Semantic structure of proverb-utterances saying about relations in Vietnamese family: equivalent relations and opposite relations The equivalent relations usualy have two proporsional phrases A and B They are connected together by words, which belongs to one semantic field The opposite strutures are established by two phrases A and B, which belong to antonyms