Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ
Trang 1trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
Tính chất hỗn dung thể loại của tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam
Vũ Thanh Hà (a)
Tóm tắt Bài viết này nghiên cứu “Tính chất hỗn dung thể loại của tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam” Đây là hiện tượng một thể loại lớn, dung chứa nhiều thể loại nhỏ khác, dấu vết của việc chưa tách bạch thành các thể loại văn học khác nhau để đảm nhiệm những chức năng đặc thù của từng thể loại
1 Thể loại văn học là dạng thức của
tác phẩm văn học, được hình thành và
tồn tại tương đối ổn định trong quá
trình phát triển lịch sử của văn học, thể
hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ
chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại
hiện tượng đời sống được phản ánh và
về tính chất của mối quan hệ của nhà
văn đối với các hiện tượng đời sống ấy
Thể loại văn học trong bản chất phản
ánh những khuynh hướng phát triển
vững bền của văn học Thể loại văn học
luôn vừa mới, vừa cũ, vừa ổn định, vừa
biến đổi Trong những giai đoạn phát
triển lịch sử của văn học, có những thể
loại luôn đảm bảo tính hạt nhân ổn
định, đồng thời thu hút các thể loại
khác để tạo nên khả năng phản ánh lớn
hơn
Thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ
Hán Việt Nam được xem là một hiện
tượng độc đáo của văn học Việt Nam
trung đại Ngoài tính nguyên hợp (Văn
- Sử - Triết bất phân), tính hòa đồng
bút pháp, tiểu thuyết chương hồi chữ
Hán Việt Nam còn là một môi trường
dung chứa nhiều thể loại văn học khác
Biểu hiện rõ nhất là sự chưa tách bạch
rõ ràng giữa bút pháp văn chương nghệ
thuật nghệ thuật và khoa học lịch sử,
sự đan xen giữa văn xuôi và các thể loại
văn học khác như thơ, bao gồm thơ tứ
tuyệt, thơ thất ngôn bát cú, thơ trường thiên, phú, câu đối,… Ngoài ra còn có các thể loại văn học mang chức năng như: minh, thư, sớ, chiếu, biểu, hịch, văn sách, sắc phong… vốn không thuộc các thể loại văn chương nghệ thuật, đều
có trong hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam
2 Theo chúng tôi, văn học Việt Nam trung đại có những tác phẩm tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán sau: Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị (thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh ở châu Hoan cổ soạn)1; Hoàng Việt long hưng chí do Ngô Giáp Đậu biên soạn2; Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái3; Nam triều công nghiệp diễn chí do Nguyễn Khoa Chiêm soạn4; Việt Lam xuân thu do Vũ Xuân Mai soạn, Lê Hoan nhuận sắc5: Tây Dương Gia Tô bí lục do Phạm Ngộ Hiên - Nguyễn Hòa
Đường - Nguyễn Bá Am - Trần Trình Hiến soạn6; Trùng Quang tâm sử do Phan Bội Châu soạn7
Qua thống kê, có đến 28 thể loại khác có mặt trong các tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam được nghiên cứu Bao gồm: Thơ (2 câu, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú), đối ngẫu, minh, phú, cáo, thư, chiếu, biểu, phổ, văn bia, sắc phong, kim sách, chế, văn
Nhận bài ngày 04/01/2008 Sửa chữa xong 16/6/2008.
Trang 2Vũ Thanh Hà Tính chất hỗn dung chữ Hán Việt Nam, TR 25-30
tế, tán, khải, cáo, sấm ngữ, dụ, hịch,
hành, ca dao, ngạn ngữ, đồng dao, địa
chí, sách văn, hát, sớ Tuy nhiên, việc
vận dụng các thể loại trong một tiểu
thuyết cụ thể không đều nhau Có tác
phẩm vận dụng đến 60 bài thơ thất
ngôn bát cú, có tác phẩm chỉ có 2 bài
Tính chung trong 6 tác phẩm, có 150
câu đối ngẫu, 142 bài thơ hai câu, 53
bài thơ tứ tuyệt, 70 bài thơ thất ngôn
bát cú, 1 bài thơ ngũ ngôn, minh 2 bài,
14 bài (hoặc đoạn) phú, 2 bài cáo, 23
bức thư, 5 bản chiếu, biểu 5, 1 bài phổ,
3 bài văn bia, 4 sắc phong; kim sách,
chế, hành, sớ, sách văn, địa chí, ngạn
ngữ, mỗi loại 1 bài; văn tế 2 bài, tán 2
bài, khải 4 bài, 2 tờ cáo thị, 2 câu sấm
ngữ, 2 tờ dụ, hịch 3 bài, ca dao 2 bài,
đồng dao 2 bài, hát 5 bài
Việc xuất hiện đan xen các thể loại
nhỏ (văn học nghệ thuật và văn học
chức năng) trong tiểu thuyết chương hồi
là một trong những đặc điểm để phân
biệt giữa một bên là tác phẩm lịch sử và
một bên là tác phẩm văn học Vận dụng
hợp lý các thể loại khác trong một thể
loại lớn như tiểu thuyết chương hồi thể
hiện mục đích của các tác giả là viết
văn chứ không phải chép sử Về phương
diện văn bản, có thể coi đây là dấu hiệu
của hiện tượng liên văn bản Việc đặt
hai câu đối ngẫu ở đầu các hồi để khái
quát nội dung và hai câu thơ có ý đánh
giá, bình luận ở cuối hồi đã tăng thêm
tính hấp dẫn của sự kiện được phản
ánh Chính điều này tạo nên một nét
đặc trưng của thể loại tiểu thuyết
chương hồi nói chung và tiểu thuyết
chương hồi chữ Hán Việt Nam nói
riêng
3 Biểu hiện thứ hai của tính chất
hỗn dung thể loại chính là sự giao thoa
giữa một ký sự lịch sử với một tiểu
thuyết chương hồi Ngay việc gọi chúng
là thể loại sử hay văn cũng là một vấn
đề đang còn nhiều ý kiến khác nhau, chứ chưa nói đến chuyện chúng là tiểu thuyết chương hồi hay là ký sự lịch sử Xin đơn cử những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu trong việc nhận diện đặc trưng thể loại của một tác phẩm cụ thể Với Hoàng Lê nhất thống chí chẳng hạn, tác giả Nguyễn Lộc cho rằng: “Không thể gọi Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết lịch sử được,
mà phải gọi nó là một tác phẩm ký sự mới đúng” và nhấn mạnh thêm “Quả thật nếu Hoàng Lê nhất thống chí không phải là một ký sự lấy việc ghi chép một cách trung thực, chính xác các
sự kiện, con người và năm tháng làm trọng tâm, mà là một tiểu thuyết, cho
dù là tiểu thuyết lịch sử đi nữa, thì chắc chắn với nhiều người viết và viết ở những thời điểm khác nhau như thế khó có thể nhất quán được”[3, 240-241] Trần Đình Sử cho rằng: “Văn học Việt Nam trung đại có ba bộ tiểu thuyết chương hồi, viết bằng chữ Hán Đó là bộ Nam triều công nghiệp diễn chí, còn gọi
là Việt Nam khai quốc chí truyện gồm 8 quyển do Nguyễn Khoa Chiêm, tước Bảng trung hầu soạn vào năm 22 đời chúa Minh Vương 1719 ở đàng Trong Tây Dương Gia Tô bí lục gồm 9 quyển
do tác giả Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa
Đường, Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiến soạn và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái”[9, 300] Trong công trình Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tác giả Trần Nghĩa đã tuyển chọn được 37 tác phẩm, trong đó có Hoàng Lê nhất thống chí Trong câu mở
đầu cho bài viết Tính cách điển hình trong “Hoàng Lê nhất thống chí”, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục đã khẳng định:
“Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
tiểu thuyết lịch sử hiện thực chủ nghĩa
vẽ lên một cách chân thực và sinh động
bức tranh xã hội - chính trị rộng lớn
thời Lê mạt…”[1, 57] Trong tác phẩm
Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại
những vấn đề văn xuôi tự sự, Nguyễn
Đăng Na cho rằng: “Có thể nói Hoàng
Lê nhất thống chí là tiểu thuyết đầu
tiên phá bỏ lối kể chuyện theo trình tự
thời gian”[4, 90] Nhà nghiên cứu B L
Riptin đã đưa ra một thuật ngữ khác:
“Như chúng tôi nghĩ, có lẽ hợp hơn cả là
dùng thuật ngữ tiểu thuyết - biên niên
sử để giải thích bản chất thể loại của
tác phẩm này”[8, 40] và trong công
trình nghiên cứu của mình, Riptin gọi
Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết
Phải chăng nên theo ý kiến của tác giả
Đặng Thanh Lê: “Có lẽ nên trở về với
quan niệm của người xưa về thể loại, về
tính chất thể loại Cần tránh cách làm:
lấy tính chất của thể loại ngày nay “đo
đạc” tác phẩm người xưa”[2, 12] Còn
theo ý kiến của Trần Nho Thìn: “Những
ý kiến khác nhau của một số nhà
nghiên cứu về bản chất thể loại của
Hoàng Lê nhất thống chí là một ví dụ về
sự không thích hợp của hướng tiếp cận
hiện đại hoá Người thì bảo đây là “tiểu
thuyết chương hồi”, người thì cho đây là
“truyện sử”, người thì nói đó là "ký sự
lịch sử" và có lẽ không có ý kiến nào có
cơ hội giành ưu thế bởi lẽ đơn giản đây
là "chí" như chính người xưa gọi, một
thể loại văn xuôi có tính nguyên hợp
của thời trung đại cần được khảo sát
trong tính hệ thống của nó là thể “chí”
Và thể “chí”cũng như các khái niệm
“truyện”, “sử”, “thi”, “phú”, “truyền
kỳ”, lại là những khái niệm vùng của
văn học trung đại rất khó lồng ghép vào
ba loại hình “tự sự”, “trữ tình”, “kịch”
của phương Tây”[10, 20] Với việc chọn
Hoàng Lê nhất thống chí để đưa vào
tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tác giả Trần Nghĩa đã khẳng định đặc trưng thể loại của tác phẩm này Trần Nghĩa cho rằng: “Về phương diện nghệ thuật, có thể chia tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam ra thành hai nhóm: nhóm lấy việc tả thực làm chính, gồm tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết bút ký, du ký; và nhóm lấy việc hư cấu làm chính, gồm tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình”[5, 37] Và “ở Hoàng Lê nhất thống chí, các tác giả đã biết kết hợp
“sử” với “văn” một cách hợp lý, làm cho tác phẩm tuy thực mà hư, tuy hư mà thực, nhờ vậy đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ,
có thể sánh ngang các bộ tiểu thuyết lịch sử ưu tú của các nước trong cùng khu vực”[5, 37] Hoan Châu ký lại là sự kết hợp giữa một nội dung của một cuốn gia phả với hình thức tác phẩm tiểu thuyết chương hồi Tính chất liệt truyện của tác phẩm này thể hiện một cách
đậm đặc trong tác phẩm khi tác giả của
nó say sưa đề cao công tích của các nhân vật thuộc họ Nguyễn ở đất Châu Hoan cổ bằng “những đoạn liệt kê đầy
đủ tên tuổi từng chi phái trong dòng tộc
và những đoạn kể “có đầu có đuôi” về thế thứ tông phái” Mục đích các tác giả
họ Nguyễn là muốn chép về một gia tộc
có “tám đời nhân nghĩa, bốn lớp trung cần” là những người “đã từng làm rạng
rỡ ông cha, tạo phúc cho con cháu”[6, 10]
Sẽ là cực đoan nếu cứ nhất nhất khẳng định đặc trưng thể loại của một tác phẩm văn học cổ khi bản thân chúng mang tính hỗn dung thể loại Hơn nữa, gọi chúng là thể loại gì cũng
là do cách nhìn nhận của từng người và tùy thuộc vào điểm nhìn của người nghiên cứu khi đứng trên quan điểm
“trung đại” hay hiện đại
Trang 4Vũ Thanh Hà Tính chất hỗn dung chữ Hán Việt Nam, TR 25-30
4 Thể loại tiểu thuyết chương hồi
chữ Hán Việt Nam được xem là có
nhiều trang liệt truyện về các nhân vật
nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Đây
cũng chính sự pha trộn thể loại liệt
truyện vào những tác phẩm tiểu thuyết
Biểu hiện dễ nhận thấy chính là việc
các tác giả vẫn dừng lại để giới thiệu về
nhân vật mình đang kể, nhằm giúp
người đọc dễ dàng hình dung về nhân
vật, tiện theo dõi diễn biến của câu
chuyện Kiểu như “Lại nói về bảy viên
phụ chính này Khang Quận công…
Hoàng Quận công… Tứ Xuyên
hầu…”[6, 538] hoặc “Mọi người đều reo
mừng hưởng ứng,và cùng nhìn về phía
kẻ mới nói, thì ra đó là viên Biện lại của
đội Tiệp bảo tên là Bằng Vũ Gã Bằng
Vũ này là người huyện…”[6, 542], hoặc
như “Nguyễn Khản người làng Tiên
Điền…”[6, 554], “ở ấp Tây Sơn có người
họ Nguyễn tên là Văn Nhạc, tổ tiên
nguyên là người Nghệ An…”[6, 573],
“An Tĩnh hầu có con tên là Nguyễn
Hoàng, bản tính thông minh mẫn
tiệp…”[6, 152], “Lại nói năm ấy, Thanh
Đô vương Trịnh Tráng xuống lệnh mở
khoa thi chọn học trò Bấy giờ có người
học trò quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc
Sơn, phủ Tĩnh Gia là Đào Duy Từ, tên
hiệu là…”[6, 221], “Lại nói Tống thị
nguyên là con gái của cai cơ Mậu Lễ
hầu sinh được ba con trai…”[6, 262],
“Lại nói bấy giờ ở Bắc triều có viên cựu
thần là Lại bộ thượng thư Tả đô đốc
Trạc quận công, người xã Thổ Sơn,
huyện An Lão xứ Hải Dương…”[6, 361],
“Lại nói đến năm Thống Nguyên
(1522-1527) có Mạc Đăng Dung người làng Cổ
Tế nổi lên cướp ngôi…”[6, 21], “Người
con trai cả là Cảnh Quế (mẹ họ Phạm,
con gái của Lai quận công) lấy Trịnh
Thị Ngọc Loan, con gái ”[6, 133], “Hiền
Vương (chúa Hiền), tên húy là Phúc
Tần, con thứ hai của Thượng Vương…”[7, 106], “Lại nói Nguyễn Văn Nhạc người ấp Tây Sơn huyện Phù Li phủ Quy Nhơn…:[7, 111], “Bấy giờ viên
Đội trưởng quân hầu vào báo có người nghĩa dân là Phan Văn Triệu xin vào yết kiến Triệu người ấp Bảo An trấn Vĩnh Long…”[7, 181], “Lại nói Trần Thiêm Bình nguyên là cháu của Trần Thánh Tông, con của Thiêm Minh…”[7, 376], “Lại nói Giản Định nguyên là con Trần Nghệ Tông; Quý Khoáng là cháu của Giản Định…"[7, 474], “Lại nói kẻ vén màn sụp lạy Lê Lợi chính là Nguyễn Trãi, người Nhị Khê, huyện Thượng Phúc…”[7, 537] v v
Những tác phẩm như Hoan Châu
ký, Việt Lam xuân thu, Hoàng Lê nhất thống chí chính là những “liệt truyện”
về những người tiêu biểu của dòng họ Nếu Hoan Châu ký là trang liệt truyện
về những người thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh ở Châu Hoan, giai đoạn anh em nhà Lê Lợi tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh thì Việt Lam xuân thu chính lại là liệt truyện về người anh hùng Lê lợi và nghĩa quân Lam Sơn Trong khi đó, Hoàng Lê nhất thống chí
là liệt truyện về các đời chúa Trịnh, các
đời vua cuối cùng của nhà Lê, về vị anh hùng áo vải Quang Trung Như trên đã nói, đấy là một cách nhận thức khác về lịch sử, về những nhân vật lịch sử Không chỉ là sự đề cao dòng dõi chính thống theo một quan niệm cố hữu của Nho giáo mà chính là vì các tác giả tiểu thuyết chương hồi muốn dùng một lối
kể khác với “chính sử” để đem đến cho người đọc những câu chuyện về những nhân vật quan trọng của lịch sử nước Nam Một trong những thành công của tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam là đã khắc họa được những hình tượng các anh hùng dân tộc như Lê Lợi
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
(Việt Lam xuân thu), Quang Trung
(Hoàng Lê nhất thống chí), Trần Quý
Khoáng (Trùng Quang tâm sử) ; hình
tượng các văn thần, võ tướng như Lê
Thiện, Nguyễn Trãi (Việt Lam xuân
thu), Nguyễn Hữu Dật, Đào Duy Từ,
Nguyễn Hữu Tiến (Nam triều công
nghiệp diễn chí), Ngô Văn Sở, Ngô Thì
Nhậm (Hoàng Lê nhất thống chí), Võ
Tánh, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng,
Bùi Thị Xuân (Hoàng Việt long hưng
chí) , kể cả hình tượng các nhân vật
phản diện như Hồ Quý Ly, Trương Phụ
(Việt Lam xuân thu), Nguyễn Hữu
Chỉnh, Tôn Sĩ Nghị (Hoàng Lê nhất
thống chí) v.v
Trong môi trường văn học trung
đại, tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam thường chưa tách bạch để
đảm trách những nhiệm vụ riêng biệt như trong văn học sau này Đấy chính
là chỗ phức tạp và khó khăn cho người nghiên cứu văn học trung đại Nhưng nếu nghiên cứu tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam trên quan điểm của
“văn học vùng” trong “tính hỗn dung thể loại” một cách sinh động, chúng ta
sẽ tránh được những nhận định áp đặt, khiên cưỡng Hy vọng chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác, ngõ hầu tìm hiểu sâu hơn những giá trị còn
ẩn chứa trong loại hình văn học này
Chú thích:
(1) Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, (tập III), NXB Thế giới,
Hà Nội, 1997
(2) Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, (tập IV), NXB Thế giới,
Hà Nội, 1997
(3), (4) Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, (tập III), NXB Thế giới, Hà Nội, 1997
(5) Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập IV), NXB Thế giới,
Hà Nội, 1997
(6) Tây Dương Gia Tô bí lục, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981
(7) Trương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập (tập 4), NXB Thuận Hoá - Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2001.
Tài liệu tham khảo
[1] Đỗ Đức Dục, Tính cách điển hình trong “Hoàng Lê nhất thống chí”, Tạp chí Văn học, số 9, 1968
[2] Đặng Thanh Lê, Nghiên cứu văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối quan hệ khu vực, Tạp chí Văn học, số 1, 1992
[3] Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), (Tái bản) NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001
[4] Nguyễn Đăng Na, Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại, những vấn đề văn xuôi
tự sự, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002
[5] Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 1, NXB Thế giới, Hà Nội, 1997
Trang 6Vũ Thanh Hà Tính chất hỗn dung chữ Hán Việt Nam, TR 25-30
[6] Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 3, NXB Thế giới, Hà Nội, 1997
[7] Trần Nghĩa (Chủ biên), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập 4, NXB Thế giới, Hà Nội, 1997
[8] B L Riptin, “Hoàng Lê nhất thống chí” và truyền thống của tiểu thuyết Viễn
Đông (Chu Nga dịch), Tạp chí Văn học, số 2, 1984
[9] Trần Đình Sử, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2005
[10] Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003
Summary
The mixed genre characteristics of chapter novel in
vietnamese - chinese
This writing studies “Mixed genre characteristics of chapter novel in Vietnamese - Chinese” This is a phenomenon of a huge genre, containing other several small genres, trace of unclear-cut into other literature genres to under-take peculiar functions of each genre