Bài viết giới thiệu một số giá trị của tác phẩm truyền kỳ Ngọc thân ảo hoá.. Tác phẩm 玉 身 幻 化 Ngọc thân ảo hoá đã được một số nhà nghiên cứu nước ta gần đây liệt vào nhóm tiểu thuyết tru
Trang 1NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR 36-41
MộT Số ý KIếN Về GIá TRị CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ
NGọC THâN ảO Hoá (Từ BảN CHữ HáN)
NGUYễN THị HOA Lê (a)
Tóm tắt Bài viết giới thiệu một số giá trị của tác phẩm truyền kỳ Ngọc thân ảo hoá Đây là tác phẩm khuyết danh tác giả, ước đoán được viết vào đời Nguyễn Ngọc thân ảo hoá mang đầy đủ đặc điểm của tiểu thuyết truyền kỳ chữ Hán Cả nội dung
và nghệ thuật của Ngọc thân ảo hoá đều có nhiều giá trị, rất đáng được nghiên cứu
ác phẩm giúp chúng ta hiểu
thêm về thể loại tiểu thuyết
truyền kỳ viết bằng chữ Hán
của nước ta nói riêng và văn xuôi chữ
Hán nói chung
Tác phẩm 玉 身 幻 化 Ngọc thân ảo
hoá đã được một số nhà nghiên cứu
nước ta gần đây liệt vào nhóm tiểu
thuyết truyền kỳ Tác phẩm chưa được
giới thiệu trong Tổng tập tiểu thuyết chữ
Hán Việt Nam, Nxb Thế giới 1998
Trong bài viết này, trên cơ sở nguyên
tác chữ Hán, chúng tôi bước đầu giới
thiệu về tác phẩm
1 Văn bản
Ngọc thân ảo hoá được chép cùng
với Việt Nam kỳ phùng sự lục Hiện chỉ
có một bản viết tay duy nhất, mang ký
hiệu A.1006 tàng trữ tại Thư viện Viện
nghiên cứu Hán Nôm ở Học viện Viễn
đông Pháp có bản vi phim (chụp lại bản
A.1006) tập hợp trong cuốn Việt Nam
Hán văn tiểu thuyết tùng san, ấn hành
năm 1986
Sách gồm 51 tờ, viết trên giấy dó
dày còn khá mới, khổ 30 x 20 Mỗi tờ
được viết trên cả hai mặt a và b, mỗi
mặt 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ Việt Nam
kỳ phùng sự lục chép đầu sách, từ trang
1 đến trang 74, Ngọc thân ảo hoá tiếp
theo từ trang 75
Văn bản có một số đặc điểm như
sau:
- Sách không có tựa, bạt, không có mục lục Trang bìa và bên trong sách không có thông tin về năm soạn sách, năm sao chép, tác giả Cuốn sách được viết cùng một kiểu chữ, đoán là do một người chép, chữ chân phương dễ đọc Tất cả các chữ “thời 時” đều viết thành
“thìn 辰” (Kiêng huý tên của vua Tự
Đức)
- Một số chữ bị chép nhầm, như 涅
槃 (niết bàn) viết thành 湟 槃 (hoàng bàn) 魯 南 子 (Lỗ Nam Tử) viết thành 曾
南 子(Tăng Nam Tử), 住 (trú) viết thành
佳 (giai), 媚 醯 (Mị Ê) viết thành 娟 醢(Quyên Hải), 菩 提 (Bồ Đề) viết thành
苔 隄 (Đài Đê), 王 生 (Vương sinh) viết thành 王 羊(Vương dương), 金龟 (Kim Quy) viết thành 金(Kim Long), chữ
“quy” viết giản thể gần giống với chữ
“long” theo kiểu tục viết của chữ Nôm, ở
đây phải là Kim Quy mới đúng (tức chỉ
sứ giả Giang Thanh)… Nói chung những nhầm lẫn này đều do tự dạng gần giống nhau
- Có những nội dung không nhất quán, như địa điểm nơi chàng Vương chôn cất cô gái, lúc viết Quỳnh Lưu (瓊 留) thêm bộ ngọc (玉) bên chữ “lưu”, lúc lại viết Quỳnh Lôi (瓊 雷) có khi thêm bộ ngọc (玉) bên chữ “lôi”, có khi không
Nhận bài ngày 16/7/2008 Sửa chữa xong 29/8/2008.
T
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
- Có năm chỗ bị thiếu chữ, những
chỗ thiếu đều có dấu phết của người
chép biểu thị thiếu chữ
Từ những tình hình trên, ức đoán,
nhiều khả năng đây là bản sách do Học
viện Viễn đông bác cổ Pháp thuê chép
lại trong thời gian họ làm việc và sưu
tầm sách tại Việt Nam từ 1901 đến
1965
2 Niên đại tác phẩm
Niên đại tác phẩm được đoán định
với những cơ sở sau:
Thứ nhất, tác phẩm Ngọc thân ảo
hoá và Việt Nam kỳ phùng sự lục được
chép trong cùng một sách, Việt nam kỳ
phùng sự lục đã được dịch và giới thiệu
trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt
Nam nói trên Ở tổng tập này, Việt
Nam kỳ phùng sự lục được người dịch
đoán định thời điểm sáng tác vào
khoảng triều Nguyễn trở về sau So
sánh ngôn từ, giọng điệu, cách dụng
điển và cách xây dựng nội dung của tác
phẩm này với Ngọc thân ảo hoá, thấy có
những nét tương đồng, ức đoán hai tác
phẩm này do một người soạn Ngọc
thân ảo hoá cũng có thể được viết trong
thời gian triều Nguyễn trở về sau
Thứ hai, ở dòng 6 trang 96, Ngọc
thân ảo hoá viết: 妾 之 身 具 在 前 編
“Thiếp chi thân cụ tại Tiền biên” (Thân
thế của thiếp chép đầy đủ ở phần Tiền
biên) Từ Tiền biên ở đây gọi tắt tên một
bộ sử nào đó Khi tìm hiểu về các bộ sử
của ta, có Đại Việt sử ký tiền biên là bộ
Quốc sử thời Tây Sơn, ngoài ra còn có
Khâm định Việt sử thông giám cương
mục do Quốc sử quán triều Nguyễn
soạn cũng có phần Tiền biên Từ đây có
thể đưa ra hai giả thiết:
- Nếu chỉ Quốc sử ra đời vào thời
Tây Sơn thì tác phẩm được viết khoảng
đầu triều Nguyễn trở về sau
- Nếu chỉ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tác phẩm được viết khá muộn, tức phải sau năm 1881, bởi vì bộ sử này được biên soạn chủ yếu dưới thời Tự Đức, từ 1856 đến 1881 mới hoàn thành Như thế, thời điểm sớm nhất tác phẩm ra đời phải từ năm 1881
về sau
Đối với Ngọc thân ảo hoá cũng như Việt Nam kỳ phùng sự lục việc đoán
định niên đại và tác giả bây giờ chủ yếu dựa vào nội chứng, còn bằng chứng, hiện nay chưa thấy có manh mối Việc
đoán định niên đại tác phẩm được khu biệt bao nhiêu thì việc đoán định tác giả mới đỡ “mò kim đáy bể”
3 Tóm lược nội dung tác phẩm Ngọc thân ảo hoá kể về một thư sinh họ Vương ở huyện Quỳnh Côi Thái Bình lên kinh thành học Trên đường đi chàng gặp cô gái bán ngọc, hai người cùng nhau ngâm vịnh, rồi cùng hẹn ước
Đến kinh thành, cô gái dẫn thư sinh họ Vương vào trọ tạm ở chùa Càn Đà Sau vì yêu thích cảnh chùa thanh tịnh, Vương học sinh bạt cỏ tranh dựng nhà bên chùa để đọc sách Chàng vốn ra đi
từ tay trắng, mọi cái ăn cái tiêu đều nhờ nàng giúp đỡ Nàng có cuộc sống rất lạ, ngày chu toàn cho chàng việc cơm nước,
đêm quỳ lạy trước bàn thờ Phật Sau một thời gian, tình cảm của chàng Vương với cô gái bán ngọc trở nên sâu
đậm Chàng luôn mong ước cùng nàng thực hiện giấc mộng Vu Sơn, qua nhiều lần năn nỉ, nàng chấp thuận cùng chàng Vương ân ái, song không đến
được cuộc mây mưa Một hôm, sau khi tặng cho chàng viên ngọc minh châu quý báu, nàng bỗng thấy người khó chịu, bảo chàng lập đàn chay cầu đảo, xong rồi chết Chàng Vương thương tiếc khôn nguôi, chôn cất nàng xong, chàng
về quê, hàng ngày ngâm ngợi những di
Trang 3NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR 36-41
cảo của nàng, không chịu đến với ai
Sau này, nhờ có Đào Trác, là bạn học
với chàng Vương, cho biết cô gái chàng
gặp trước đây là Mỵ Châu hoá kiếp đến
giúp chàng Lúc đó Vương học sinh mới
chịu bán viên ngọc trai với giá rất cao
và lấy em gái của Đào Trác làm vợ, gia
đình trở nên giàu có Có người nói
Vương học sinh là kiếp sau của Trọng
Thuỷ
4 Một số giá trị tư tưởng và
nghệ thuật chủ yếu
Theo PGS Trần Nghĩa trong bài
Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - Danh
mục và phân loại (tạp chí Hán Nôm số
3 năm 1997): “Truyền Kỳ” hay “tác ý
hiếu kỳ”, có nghĩa là nảy ra ý định viết
để thoả mãn tính tò mò của người đọc
Loại tiểu thuyết này ra đời và phát
triển trên cơ sở tiểu thuyết chí quái,
nhưng khác với chí quái ở chỗ tác giả
truyền kỳ sử dụng “hư bút” một cách
hoàn toàn chủ động, có ý thức Nếu
công việc chủ yếu của chí quái là biên
chép, nhằm lưu lại cho đời một chuyện
lạ có ý nghĩa khuyên răn, thì công việc
chủ yếu của truyền kỳ lại là sáng tác,
muợn câu chuyện hiếm thấy để gửi gắm
tâm sự người cầm bút” Ngọc thân ảo
hoá là tiểu thuyết truyền kỳ Tác phẩm
được xây dựng mang nhiều yếu tố kỳ ảo
và tác giả đã “hư bút” một cách hoàn
toàn chủ động, có ý thức
Ngay trong tên tác phẩm đã có chứa
khái niệm này: Ngọc thân ảo hoá tức
Thân ngọc biến hoá “ảo hoá” còn được
phiên là “huyễn hoá”, nguyên là một
khái niệm của nhà Phật, như hoa trong
gương, như trăng dưới nước Cuộc đối
thoại sau của nhà sư và Vương học sinh
- những nhân vật trong truyện khả dĩ
giúp chúng ta hiểu được phần nào nội
dung từ ngữ này: Sinh nhân đó hỏi: “Mỗ
bình sinh thờ họ Khổng làm thầy,
thường bỏ điều quái nhưng tin thánh thần, thượng nhân quán thông chín giáo, hiểu thấu tam đồ, câu chuyện Mị Châu ảo hoá, có thể được nghe dẫn dụ chăng?” Nhà sư đáp: “Xét về bản chất, con người là do âm dương hợp lại thành cơ thể, trời đất hợp lại thành hình dáng Khi khí tụ thì động đậy mà sinh thành, khi khí tan ra thì tiêu đi mà giải thoát Song có lúc oan khiên uất kết thì khí này bàng bạc, lẩn quất mãi không tiêu tan, sau nhiều tháng năm hoá thành yêu quái” Vậy thì “ảo” có nghĩa là không có thực tính, và “hoá” nghĩa là biến hoá, nhờ vào sức mạnh thần thông Những yếu tố kỳ ảo, cái “tác ý hiếu kỳ” xuất hiện trong tác phẩm rất nhiều
Ví dụ đầu truyện là hình ảnh một quầng sáng ngùn ngụt bốc lên trên đỉnh vách đá bên phải tường thành vua Trùng Quang nhà Hậu Trần, sau nhờ nhà sư trụ trì ở ngôi chùa trên núi lập
đàn hoá giải, vầng sáng biến mất Mấy ngày sau có cô gái đẹp tự xưng là người
ở Dạ Sơn Đông Thành đến chùa cầu tự sám hối, cử chỉ dáng đi, nói năng rất lạ, rồi cô đi khắp nơi trong nước, tới đâu cũng ngâm nga ca hát và tự xưng là khách bán ngọc; hoặc chi tiết đang đêm cô dẫn Vương học sinh đến Cổ Loa để lấy viên ngọc minh châu, viên ngọc được
đào trên ngọn đồi nhỏ Lấy ngọc về, cô thấy người khó chịu, bảo chàng Vương lập đàn cầu đảo, bỗng có gió lạnh thoảng vào phòng, khí lạnh rờn rợn, cô ngã gục xuống chết Sau hai năm chàng Vương đến cải táng mộ, khi đào lên, trong áo quan không có gì, nhưng trên nắp áo quan thấy có đề bài thơ tứ tuyệt
Bên cạnh những yếu tố “hư” cũng có yếu tố “thực”, như chuyện xảy ra vào thời hậu Trần, tức vào triều vua Trần Trùng Quang, với những sự kiện như:
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
“Vừa lúc nhà Minh lập trường học ở
Giao Châu, chàng gói ghém đàn sách
lên đường”; “Bấy giờ người Minh chiếm
cứ nước ta, tìm ngọc đãi vàng, tham
lam vô độ, nghe nói đất Ngọc Sơn sản
sinh ngọc trai, liền bắt dân lặn xuống
nước tìm mò”; “Bấy giờ lại đúng lúc vua
Trùng Quang bị bắt ở phương Nam, đất
Bắc vướng việc binh lửa, nên chuyến đi
đến Cổ Loa (của chàng Vương) không
thành”… Các địa danh như quê quán
của các nhân vật và địa danh mà mà
nhân vật du ngoạn phần lớn đều có
thực Ví như: chàng Vương quê ở Quỳnh
Côi Thái Bình, Đào Trác quê ở Thuỵ
Anh, cô gái bán ngọc người Dạ Sơn,
Đông Thành, quê ở Cổ Loa Khi cô gặp
Vương học sinh, hai người theo sông Vị
Hoàng đi đến Thăng Long, vì đi theo
đường sông nên họ đã du ngoạn qua các
di tích như: miếu Vũ Nương ở Nam
Xương, miếu Mị Ê ở Lí Nhân, miếu Tiên
Dung ở Đa Hoà, lên tới kinh thành có
sông Bồ Đề, sông Tô Lịch… Đây là một
đặc điểm của tác phẩm truyền kỳ, tác
giả có ý thức gắn cái “hư” với cái “thực”
để làm tăng tính chân thực của tác
phẩm
Ngoài ra, tên và quê quán các nhân
vật cũng được tác giả xây dựngcó dụng
ý nghệ thuật rất sâu sắc Vì tác phẩm là
“Thân ngọc biến hoá”, “thân ngọc” ở đây
tức ám chỉ Mị Châu trong truyền
thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ, nên
ngoài việc vận dụng những địa danh
liên quan đến truyền thuyết này như
Cổ Loa chỉ quê hương của cô gái, và cô
gái còn có khi xưng là người ở Mộ Dạ
Đông Thành Nghệ An (tương truyền là
nơi Mị Châu bị An Dương Vương chém
chết), thì tên nhân vật và địa điểm
trong tác phẩm phần lớn đều dùng chữ
có bộ ngọc (玉) bên cạnh như: Vương
sinh quê ở Quỳnh Côi (瓊 瑰); Đào Trác
(陶 琢) quê ở Thuỵ Anh (瑞 英); thuật nhân Nễ Châu (你 珠); cô gái chết, được chôn ở Quỳnh Lưu (瓊 留)…Trong tác phẩm tác giả còn hay nói đến ngọc, dùng những điển tích, điển cố liên quan
đến ngọc, như ngọc Biện Hoà, đất Lam
Điền trồng ngọc, chuyện Giang Phi thoát bội… Hoặc chi tiết thân ngọc sau khi hoá thành chân thân được làm cô gái bán ngọc, lại hoá lần nữa làm tiên nữ cai quản châu ngọc dưới thuỷ cung, thuỷ cung dát đầy ngọc, tiên nữ làm lộ phí đi đường cho Đào Trác là mười viên ngọc nhỏ, trước khi chết tặng cho chàng Vương viên ngọc minh châu rất có giá trị, gửi cho chàng Vương tờ giấy ngọc… Tính chất hư cấu tự giác đã thể hiện rất rõ trong nghệ thuật xây dựng tác phẩm Bút pháp của tác giả đã hư hoá cái thực và thực hoá cái hư một cách rất thành công, làm cho các đối tượng các chi tiết trong tiểu thuyết cứ hư hư thực thực “cũng huyền, cũng sử” Cũng nhờ hư hoá cái thực và thực hoá cái hư mà tác phẩm mới trở nên sống
động, khêu gợi trí tưởng tượng và mĩ cảm cho độc giả
Tác phẩm được viết bằng văn xuôi,
đến những chỗ tả cảnh, tả người thì tác giả thường dùng văn vần và văn biền ngẫu Câu văn ngắn gọn, súc tích, bóng bẩy, có vần điệu Ví dụ, miêu tả cô gái bán ngọc khi vào cầu đảo sám hối ở chùa, viết rằng: “Phu cơ như ngọc, tú nhuận chiếu nhân, bích nhãn linh lung, kì quang khả giám, y thường diễm dã, hiển quyền quý trung nhân vật, thanh
âm khanh sảng, đính lễ cầu sám” (Thịt
da như ngọc, trắng loá mịn màng, mắt biếc long lanh như gương trong vắt, áo xiêm lộng lẫy, rõ người quyền quý, tiếng thưa trong trẻo, cúi đầu cầu sám) Sự dung hợp thể loại (văn xuôi, văn vần,
Trang 5NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR 36-41
văn biền ngẫu) cũng là một đặc điểm
của truyện truyền kỳ thời trung đại
Có khi tác giả vận dụng rất đắc địa
những câu trong sử sách, hoặc kinh
điển khác vào trong tác phẩm Chẳng
hạn cuộc đối đáp giữa chàng Vương và
cô gái bán ngọc khi lần đầu tiên gặp gỡ
ở trên đường:
Vương học sinh gặp nàng giữa
đường, vừa đi vừa đùa rằng: “Châu ngọc
tại tiền, giác ngã hình uế” (Châu ngọc ở
trước mắt, mới biết mình xấu xí.)(1)
Cô gái nói: “Công phi Biện Hoà, an
năng thức phác ngọc chi trung” (Ông
không phải Biện Hoà, sao có thể biết
được ngọc trong đá.)(2)
Chàng đáp: “Hữu mĩ ngọc vu tư,
tàng chi dư, ức cô chi dư?” (Có ngọc đẹp
ở đây cất đi chăng hay đem bán
chăng?)(3)
Cô gái trả lời: “Cô chi tai! Cô chi tai!
Đãi giá nhi cô giả dã” (Bán chứ! Bán
chứ! Đợi được giá thì bán thôi)(4)
Mặc dầu tác giả sử dụng ngôn từ
của người khác, là “tầm chương trích
cú” nhưng đó là thủ pháp nghệ thuật
ngôn từ độc đáo của văn ngôn Trong
đoạn đối thoại trên, nhân vật vận dụng
lời của người khác nhưng rất sinh động,
dù mới gặp gỡ song chàng và nàng đều
thể hiện được tâm ý của mình một cách
tế nhị
Trong thành ngữ Hán, kết cấu tứ tự
rất nhiều, vì vậy tác giả vận dụng khá
triệt để thành ngữ, làm cho câu văn
thêm hàm súc, đăng đối, vần điệu, ví
như: Tân nhân cựu cảnh; Tương kính
như tân; Tang điền thương hải; Phần
quế hấn châu; Mi thanh mục tú;
Thuyền quyên tàng kiếm; Hương phấn
tháo qua; Niên thâm vật cửu; Tuế cửu
niên thâm…
Để câu văn nhịp nhàng, trầm bổng,
có vần điệu, tác giả còn rất chú trọng sự
đăng đối, sự lặp lại các cấu trúc ngữ pháp Ví như: Nam oanh cù mộc, Đông vọng tiểu tinh, Đạo bàng khổ lý, Vãn cảnh phiếu mai, Cô phượng ngô đồng, thê thân chi thiếp dã, An Thạch chi ư Bạch Vân, Đông Pha chi ư Cầm Tháo,
Đào Cốc chi ư Quân Lan, Thẩm Ước chi sấu yêu, Trương Xưởng chi hoạ mi, Hàn Thọ chi thâu hương, Tương Như chi thiết ngọc; Nhãn tiền chi hoa dã, Chưởng thượng chi ngọc dã…
Sử dụng điển tích điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc thù được sử dụng phổ biến trong văn học cổ Trung Hoa và Việt Nam Đó là một biên pháp tu từ đặc thù để thể hiện tư tưởng tình cảm Các tích, điển trong tác phẩm phần nhiều đều lấy từ kinh
điển, sử sách Trung Quốc Phương diện
sử dụng rất phong phú và đa dạng, khiến cho người đọc luôn phải tiếp cận theo những hướng khác nhau để hiểu nội dung, ý nghĩa của các tình tiết trong tác phẩm Ví như điển tích trong câu:
“Dĩ nhi tiễn đăng tựu tẩm, ôi ngọc ỷ hương, nhi chỉ xích Đào Nguyên bất thí như Trịnh chi Hổ Lao, Thục chi Kiếm Các” (Sau đó, khêu đèn lên giường nằm, tựa ngọc kề hương, nhưng Đào Nguyên gang tấc mà không khác gì Hổ Lao nước Trịnh, Kiếm Các nước Thục)
Cũng như truyền kỳ đời Đường và một số truyền kỳ khác của ta như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, trong tác phẩm xuất hiện rất nhiều thơ Thơ để thể hiện tâm trạng nhân vật Tài thơ của tác giả chủ yếu được ký thác vào cô gái bán ngọc và chàng thư sinh
họ Vương
5 Kết luận Ngọc thân ảo hoá là một truyện truyền kỳ mang nhiều yếu tố hư cấu nghệ thuật đặc sắc, và có thể nói rằng
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008
Ngọc thân ảo hoá còn là một sự phát
triển từ lịch sử đến huyền thoại và tiểu
thuyết cổ Mỵ Châu-Trọng Thuỷ Qua
bài viết này, chúng tôi mong muốn giới
thiệu với độc giả một tác phẩm trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam chưa được giới thiệu rộng rãi
Chú thích:
(1) Tác giả lấy trong phần Dung chỉ sách Thế thuyết tân ngữ
(2) Biện Hoà: theo sách Hàn Phi Tử, Biện Hoà người nước Sở, tìm được viên đá có ngọc ở núi Kinh Sơn đem dâng Sở Lệ vương Vương cho là dối trá sai chặt chân bên trái Chu Vũ Vương lên ngôi, Hoà lại đem dâng, cũng bị coi là dối trá, sai chặt nốt chân phải Khi Văn Vương lên ngôi, Hoà ôm hòn ngọc ngồi khóc dưới núi Kinh Sơn Văn Vương hỏi, ông nói: “Tôi không buồn vì bị chặt chân Ngọc quý mà bị coi là đá, kẻ sĩ ngay thẳng lại mang tiếng dối trá, cho nên tôi buồn” Vua sai thợ mài thì quả được ngọc quý, bèn đặt tên là ngọc Biện Hoà
(3) Lời của Tử Cống trong thiên Tử Hãn sách Luận ngữ
(4) Lời của Khổng Tử đáp lại câu trên của Tử Cống, cũng trong thiên Tử Hãn sách Luận ngữ
TÀI LiệU THAM KHảO
[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội
1998, tập II, quyển IX - Kỷ Hậu Trần
[2] Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, NXB Khoa học Xã hội 1983
[3] Nguyễn Văn Tân, Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin, 1998
[4] Trần Nghĩa, Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - Danh mục và phân loại, Tạp chí Hán Nôm, số 3 /1997
[5] Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục
1999
[6] Từ nguyên, Hợp đính bản, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh 1999
[7] Việt Nam kỳ phùng sự lục, sách Hán, kí hiệu A.1006
SUMMARY SOME OPINIONS ABOUT THE VALUE OF MYTHOLOGY WORK
“NGọC THâN ảO HóA” (FROM CHINESE version)
This article introduces some values of mythology work “Ngọc thân ảo hóa” This work temporarily has an unknown writer and was predically written from The Nguyen Pynasty later on “Ngoc than ao hoa” completely reflects characteristies of Chinese characters mythology novel Both content and art of “Ngoc than ao hoa” have many values which need to be researched
The work helps us understand more about the kind of Chinese characters mythology novel of our nation and generally speaking Chinese characters literature