Bài viết này khảo sát nhóm TNSS [t1 như B] nhằm giải thích lý do vì sao nhóm TNSS này có khả năng giải nghĩa cho từ láy [t 1], đồng thời khẳng định các vai trò khác của nhóm bổ sung danh
Trang 1Trần Văn Minh Nhóm Thành ngữ so sánh [t 1 như B] , TR 42-47
và việc giảI nghĩa từ láy tiếng việt
Trần Văn Minh (a) Tóm tắt Với cấu tạo đặc biệt của mình, các thành ngữ so sánh kiểu [t1 như B] có tác dụng giải nghĩa rất tốt cho từ láy Thành ngữ tiếng Việt là nguồn ngữ liệu quý cần khai thác triệt để nhằm bổ sung danh sách từ láy, từ đồng nghĩa và thành ngữ đồng nghĩa; đồng thời là nguồn dẫn dụ sinh động khi giải nghĩa từ trong từ điển và trong lời nói
1 Tiếng Việt có hàng ngàn thành
ngữ Theo cách hiểu thông thường,
"thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố
định, bền vững về hình thái - cấu trúc,
hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được
sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng
ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ" [3;
27] Trong vốn thành ngữ tiếng Việt,
thành ngữ so sánh (TNSS) chiếm tỉ lệ
đáng kể Trong số 3.225 thành ngữ do
tác giả Hoàng Văn Hành cung cấp [3;
180 - 273], có 494 TNSS (15, 31%)
Trong tư liệu của chúng tôi về
thành ngữ tiếng Việt, có 895 TNSS Số
TNSS này gồm 2 kiểu:
a) [t như B]: gồm 777 đơn vị (86, 81
%); ví dụ: ăn như hùm đổ đó; bắn như
vãi trấu; đẹp như cái tép kho tương;
câm như hến; chằng chịt như mạng
nhện; im ỉm như gái ngồi phải cọc; lầm
rầm như thầy bói nhầm quẻ; xì xồ như
giặc Ngô vỡ tàu; xúng xính như lính về
quê;…
b) [như B]: gồm 118 đơn vị (13, 19
%); ví dụ: như buồm gặp gió; như buồn
ngủ gặp chiếu manh; như lửa đổ thêm
dầu; như nắng hạn gặp mưa rào; như
nước đổ đầu vịt; như vịt nghe sấm; như
xẩm sờ voi; …
Trong đó, [t] là từ mở đầu nêu cơ sở
so sánh, [như] là từ so sánh, [B] là yếu
tố kết thúc nêu ra cái so sánh
Theo cấu tạo của từ làm yếu tố [t], các TNSS [t như B] lại gồm nhóm [t1 như B] (với [t 1] là từ láy đôi) và nhóm [t2 như B] (với [t2] là từ có cấu tạo khác) Bài viết này khảo sát nhóm TNSS [t1 như B] nhằm giải thích lý do vì sao nhóm TNSS này có khả năng giải nghĩa cho từ láy [t 1], đồng thời khẳng định các vai trò khác của nhóm (bổ sung danh sách từ láy, từ đồng nghĩa, thành ngữ
đồng nghĩa; làm nguồn dẫn dụ sinh
động khi giải nghĩa từ tiếng Việt)
2 Nhóm TNSS [t1 như B] gồm 148
đơn vị, chiếm 19, 04 % trong kiểu TNSS [t như B]
Qua khảo sát các yếu tố, nhất là xem xét kỹ từng dạng cấu tạo yếu tố [B] trong hình thái - cấu trúc của các thành ngữ trong nhóm, có thể thấy rõ lý do tại sao nhóm TNSS [t1 như B] có vai trò nổi bật: trực tiếp giải nghĩa cho từ láy [t1]
mở đầu mỗi thành ngữ trong nhóm 2.1 Yếu tố [t1]
Trong vai trò yếu tố [t1] nêu cơ sở so sánh, 114 từ láy đôi được dùng để mở
đầu cho 148 TNSS của nhóm [t1 như B] Trong đó, 82 từ láy có 1 lượt dùng, 28 từ láy có 2 lượt dùng, 2 từ láy có 3 lượt dùng và 1 từ láy có 4 lượt dùng Như vậy, có 31 / 114 từ láy được dùng trong hơn một TNSS Điều này rất đáng lưu
Nhận bài ngày 11/6/2008 Sửa chữa xong 19/8/2008.
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3b-2008
ý Nó vừa cho phép chúng ta xác định
thêm được các chuỗi và cặp thành ngữ
đồng nghĩa trong tiếng Việt, vừa cho ta
thấy sự đa dạng trong cách người Việt
dùng những yếu tố [B] (cái so sánh)
khác nhau sau cùng một từ láy (nêu cơ
sở so sánh) giống nhau nhằm trực tiếp
giải nghĩa cho từ láy đó
Trong 114 từ láy đôi, có 95 tính từ -
hầu hết là từ chỉ trạng thái (87 từ) - và
19 động từ Nghĩa của các từ láy này rất
mơ hồ, khó nắm bắt, do chỗ 94 / 114 từ
láy gồm 2 tiếng vô nghĩa (ví dụ: lúng
túng, lôi thôi, loay hoay, lừ đừ, léo nhéo,
vò võ, xì xồ, xúng xính,…); 20 từ láy còn
lại chỉ chứa một tiếng có nghĩa (ví dụ:
nem nép, ngây ngô, thì thầm, thì thụt,
vênh váo, nhăn nhó, quanh quẩn,…)
2.2 Yếu tố [như]
Tiếng Việt có nhiều từ ngữ khác
nhau để biểu thị quan hệ giữa cái được
so sánh và cái so sánh (như, tày, như
thể, như thể là, tựa, tựa như, là, v.v…)
Tuy vậy, trong 148 TNSS của nhóm [t1
như B], duy nhất từ như được dùng để
biểu thị quan hệ giữa [t] và [B]
2.3 Yếu tố [B]
[B] là yếu tố bắt buộc có mặt trong
cấu trúc so sánh nói chung và trong các
TNSS thuộc nhóm [t1 như B] nói riêng
Hiệu quả giải nghĩa cho các từ láy [t1]
mở đầu TNSS tỉ lệ thuận với tính xác
định về nghĩa của yếu tố [B] Đến lượt
mình, tính xác định về nghĩa của yếu tố
[B] lại do chính cách cấu tạo của yếu tố
này quyết định
Trong các TNSS [t1 như B], yếu tố
[B] thuộc các bậc cấu tạo khác nhau:
danh từ (có 7 TNSS), cụm danh từ (có
38 TNSS), cụm động từ (8 TNSS), cụm
chủ - vị (có 95 TNSS)
a) Trong số 7 danh từ làm yếu tố
[B], có 6 từ ghép chính - phụ (lêu đêu
như cò hương; lượt bượt như lễ sinh;
chằng chịt như mạng nhện; ỏn ẻn như quan thị; bầy nhầy như thịt bụng; lạch bạch như vịt bầu) nên nghĩa định danh của chúng rất rõ ràng, dễ hiểu Nghĩa của từ ngẫu kết bù nhìn (lơ láo như bù nhìn) cũng rất rõ, do dùng với nghĩa gốc("vật giả hình người dùng để dọa chim, thú hoặc hoặc dùng trong diễn tập chiến đấu" [6; 84])
b) Tất cả 38 cụm danh từ làm yếu tố [B] trong TNSS nhóm [t1 như B] đều có cấu tạo giống nhau Chúng chỉ gồm danh từ trung tâm và một định ngữ Các danh từ trung tâm đều gọi tên những sự vật quen thuộc trong đời sống người Việt Chính kiểu cấu tạo [danh từ chỉ sự vật + định ngữ] này đã làm cho yếu tố [B] (cái so sánh) mang nghĩa cụ thể và rất dễ nhận thức Ví dụ: dửng dưng như bánh chưng ngày tết; lì lì như
đì anh hàng thịt; khinh khỉnh như chĩnh mắm thối; lang thang như thành hoàng làng khó; nhung nhúc như rươi tháng chín; trơ trơ như cột nhà cháy; v.v
c) Cả 8 cụm động từ làm yếu tố [B] trong TNSS nhóm [t1 như B] cũng cùng một kiểu cấu tạo Chúng đều chỉ gồm một động từ trung tâm và một bổ ngữ trực tiếp (do các động từ trung tâm là
động từ ngoại động) Nhờ động từ trung tâm gọi tên những hoạt động quen thuộc trong đời sống hàng ngày cộng với
bổ ngữ chỉ những sự vật cụ thể nên yếu
tố [B] (cái so sánh) trở nên hết sức dễ hiểu Ví dụ: lằng nhằng như cưa rơm; lật lọng như trở bàn tay; lúng búng như ngậm hột thị; nháo nhác như gà lạc mẹ; the thé như xé vải; quanh quẩn như chèo đò đêm; thì thầm như buôn bạc giả; v.v
d) Hầu hết các cụm chủ - vị làm yếu
tố [B] đều được cấu tạo theo cùng một mô thức
Trang 3Trần Văn Minh Nhóm Thành ngữ so sánh [t 1 như B] , TR 42-47
[c - v - b], trong đó [c] là danh từ (hoặc
cụm danh từ) nêu ra sự vật (đồ vật,
người, động vật, thực vật,…) làm chủ
thể của hoạt động, [v] là động từ nêu
lên hành động của chủ thể, [b] là bổ ngữ
(trực tiếp hoặc gián tiếp) Ví dụ: đay
đảy như gái rẫy chồng ốm; hùng hục
như trâu húc mả; khép nép như dâu
mới về nhà chồng; lấc láo như quạ vào
chuồng lợn; lẩm cẩm như xẩm đi đường
cong; lẩy bẩy như Cao Biền dậy non; lèo
nhèo như mèo vật đống rơm, lộp bộp
như gà mổ mo; ngoe nguẩy như cua gẫy
càng; nhùng nhằng như hai thằng một
khố; rầu rĩ như đĩ về già; ró ráy như cáy
vào hang cua; tất tưởi như nợ đuổi sau
lưng; vênh váo như bố vợ phải đấm; xì
xồ như giặc Ngô vỡ tàu, v.v
Như vậy, chính đặc điểm cấu tạo
của yếu tố [B] là điều kiện tiên quyết
tạo nên tính cụ thể về nghĩa của nó, để
từ đó tạo nên hiệu quả giải nghĩa cho từ
láy [t1] (vốn có nghĩa rất mơ hồ) mở đầu
mỗi thành ngữ trong nhóm [t1 như B]
Có thể hình dung rõ hơn về hiệu quả
giải nghĩa này qua việc đối sánh hai
trường hợp: 1/ Nếu bị hỏi: "Thế nào là
lạch bạch ?", "Thế nào là len lét?", " Thế
nào là lúng búng ?", "Thế nào là lừ đừ
?", v.v thì mỗi chúng ta thật khó trả lời
gọn ghẽ, chóng vánh và chính xác 2/
Nhưng nếu được hỏi: "Lạch bạch (len
lét, lúng búng, lừ đừ, v.v…) như thế
nào?" thì chúng ta có thể tự tin dùng
ngay các thành ngữ trong nhóm này để
trả lời một cách thuyết phục: "Lạch
bạch như vịt bầu", "Len lét như rắn
mồng năm", "Lúng búng như ngậm hột
thị", "Lừ đừ như ông từ vào đền", v.v
2.4 Vần là một yếu tố ngữ âm khá
nổi bật của các TNSS nhóm [t1 như B]
Số liệu thống kê cho thấy 70 / 148
thành ngữ trong nhóm có hiện tượng
hiệp vần Theo vị trí các tiếng hiệp vần,
30 thành ngữ có vần cách một (lăn lóc như cóc đói; lắng xắng như nhặng bu phân; lanh chanh như hành không muối; …), 35 thành ngữ có vần cách hai (đay đảy như gái rẫy chồng ốm; lập cập như ông gặp bà; lật đật như ma vật ông vải; hùng hục như trâu húc mả; …), 3 thành ngữ có vần cách ba (lẩy bẩy như Cao Biền dậy non; lầm rầm như thầy bói nhầm quẻ; lúng búng như chó ăn vụng bột) và 2 thành ngữ có vần cách bốn (nơm nớp như cá nằm trên thớt; nháo nhác như gà phải cáo) Do có đến
90 % là vần chính (63 / 70) nên mức độ hòa âm trong các TNSS có vần thuộc nhóm TNSS này rất cao
Tính rõ nghĩa của yếu tố [B] trong tất cả các thành ngữ và tính vần vè trong gần một nửa số TNSS thuộc nhóm [t1 như B] đã tạo nên tính dễ nhớ,
dễ lưu truyền và dễ sử dụng của các thành ngữ này trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt từ xưa đến nay
3 Tác dụng giải nghĩa cho từ láy
mở đầu các thành ngữ của nhóm TNSS [t1 như B] là điều đã rõ Từ thực tế đó, các soạn giả từ điển tiếng Việt nên dùng nhiều hơn nữa các TNSS trong nhóm này làm dẫn dụ khi giải nghĩa cho các
từ láy âm ở mỗi mục từ hữu quan Đáng tiếc là cho đến nay, điều này chưa được quan tâm đúng mức
3.1 Trong Từ điển tiếng Việt, chỉ 7 /
114 từ láy được dẫn thành ngữ khi giải nghĩa chúng: bầy nhầy (6; 51), léo nhéo (6; 539), lúng túng (6; 573), nơm nớp (6;
719, ró ráy (6; 801), tiu nghỉu (6; 966), thỏ thẻ (6; 912) Ngay trong Từ điển từ láy tiếng Việt, với 114 từ láy thuộc nhóm TNSS [t1 như B], cũng chỉ 24 từ sau đây được dẫn thành ngữ khi giải nghĩa: dửng dưng (7; 113), hùng hục (7; 117), lạch bạch (7; 218), lanh chanh (7;
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3b-2008
234), lấc láo (7; 240), lẩy bẩy (7; 256),
lêu đêu (7; 268), lò dò (7; 278), lộp bộp
(7; 304), lụ khụ (7; 313), lúng búng (7;
321), lúng túng (7; 322), ngây ngô (7;
315), nhao nhác (7; 357), nháo nhác (7;
387), nhùng nhằng (7; 416), nơm nớp (7;
423), oai oái (7; 427), oang oang (7;
428), ró ráy (7; 467), the thé (7; 505),
thin thít (7; 509), tiu nghỉu (7; 522) và
thỏ thẻ (7; 510)
Giá như, chẳng hạn, sau lời giải
nghĩa 1 cho từ láy lôi thôi ("1 Luộm
thuộm, không gọn gàng, thường trong
cách ăn mặc"), Từ điển tiếng Việt dẫn
dụ thêm bằng chuỗi TNSS sau đây thì
nghĩa của từ này sẽ dễ hiểu hơn nhiều:
lôi thôi như cá trôi xổ ruột; lôi thôi như
con bạch tuộc; lôi thôi như mèo xổ ruột
3.2 Một chi tiết khác liên quan đến
hai từ điển nói trên, đó là một số từ láy
mở đầu TNSS thuộc nhóm [t1 như B]
chưa được đưa thành mục từ để giải
nghĩa Từ điển tiếng Việt không có 13
mục từ láy sau: lắng xắng (như nhặng
bu phân), lật vật (như quai sa vật vải /
như sa vật ống vải), lì lì (như đì anh
hàng thịt / như tiền chì hai mặt), lò khò
(như con cò bợ), ngầm ngập (như ông
gặp bà), ngun ngủn (như gà cụt đuôi),
ngũn ngỡn (như áo con thuyền chài, áo
ngắn mặc ngoài, áo dài mặc trong),
nhào nhào (như chào mào mổ đom),
nhao nhác (như ong vỡ tổ), nhăng
nhẳng (như chó cắn ma), tấp tửng (như
trẻ được tấm bánh), thin thít (như thịt
nấu đông), xờ rờ (như thầy bói cháy
nhà) Từ điển từ láy tiếng Việt [7] vắng
bóng 8 từ láy: lắng xắng (như nhặng bu
phân), lật vật (như quai sa vật vải / như
sa vật ống vải), lò khò (như con cò bợ),
ngun ngủn (như gà cụt đuôi), nhăng
nhẳng (như chó cắn ma), tấp tửng (như
trẻ được tấm bánh), xì xì (như chì đổ lỗ),
xờ rờ (như thầy bói cháy nhà)
Thực tế trên cho thấy cần đẩy mạnh việc sưu tầm kho tàng TNSS còn trôi nổi khắp nơi trong khẩu ngữ dân gian
để qua đó, vừa bổ sung số lượng từ láy cho từ điển, vừa có thêm nhiều dẫn dụ khi giải nghĩa các từ láy
4 Tác giả Hoàng Văn Hành đã xem chuyên khảo cuối cùng của mình như
"một thử nghiệm để tìm đường, nhằm góp phần làm rõ đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, hệ vấn đề, phương pháp, v.v… của thành ngữ học tiếng Việt." [3; 22] Trong sự phát triển của thành ngữ học tiếng Việt, ngoài các sưu tập và nghiên cứu về thành ngữ nói chung, còn cần biên soạn các sách như "Thành ngữ
đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt" Ngữ liệu cho cuốn sách như thế chỉ có được qua sưu tầm và khảo sát kỹ lưỡng toàn
bộ kho tàng thành ngữ tiếng Việt Trong số 114 từ láy đôi mở đầu TNSS nhóm [t1 như B], có 31 từ được dùng mở đầu cho hơn một thành ngữ Những TNSS có từ láy mở đầu giống nhau là những thành ngữ đồng nghĩa với nhau Như vậy, qua nhóm TNSS [t1 như B] này, chúng ta có 31 chuỗi hoặc cặp thành ngữ tiếng Việt đồng nghĩa dưới đây: 1) lúng túng như cá vào rọ (~ như ếch vào xiếc / ~ như gà mắc tóc / ~ như thợ vụng mất kim); 2) lôi thôi như cá trôi xổ ruột (~ như con bạch tuộc / ~ như mèo xổ ruột); 3) giãy nảy như đỉa phải vôi (~ như bị điện giật); 5) im ỉm như bà cốt uống thuốc (~ như gái ngồi phải cọc); 5) lang lảng như chó cái trốn con (- như chó phải dùi đục); 6) lăng xăng như thằng mất khố (~ như nhặng
bu phân); 7) lầm rầm như đĩ khấn tiên sư (như thầy bói nhầm quẻ); 8) len lét như chuột ngày (như rắn mồng năm); 9) léo nhéo như mẹ ranh (như mõ réo quan viên); 10) lêu đêu như cây tre đực (- như
cò hương); 11) lì lì như đì anh hàng thịt
Trang 5Trần Văn Minh Nhóm Thành ngữ so sánh [t 1 như B] , TR 42-47
(~ như tiền chì hai mặt); 12) lơ láo như
bù nhìn (- như chó thấy thóc); 13) lờ đờ
như đom đóm đực (~ như gà ban hôm);
14) lúng búng như chó ăn vụng bột (-
như ngậm hột thị); 15) ngất ngưởng
như trứng chồng (~ như xã trưởng mất
vía); 16) ngây ngô như chúa Tàu nghe
kèn (~ như gà mờ); 17) ngoe nguẩy như
chó vẫy đuôi (~ như cua gẫy càng); 18)
nguây nguẩy như ả quẩy tôm (~ như gái
rẫy chồng ốm); 19) nháo nhác như gà
lạc mẹ (~ như gà phải cáo); 20) nhăn
nhó như khỉ ăn gừng (~ như nhà khó
hết ăn); 21) nhởn nhơ như con đĩ đánh
bồng (~ như con phường chèo); 21)
nhùng nhằng như cưa rơm ( ~ như hai
thằng một khố; 22) nơm nớp như cá
nằm trên thớt (~ như kẻ cướp sắp vào
nhà); 23) oai oái như hai gái lấy một
chồng (~ như phủ Khoái xin cơm); 24)
rành rành như canh nấu hẹ (~ như
canh nấu thịt); 25) rầu rĩ như đĩ về già
(~ như đĩ phải tiêm la); 26) tất tả như
bà đá ông (~ như người đi ăn cỗ hậu);
27) te tái như gà mái nhảy ổ (~ như gà
mắc đẻ); 28) tiu nghỉu như chó cụt đuôi
(~ như mèo mất tai); 29) thì thầm như
buôn bạc giả (~ như kẻ trộm chia của);
30) vênh váo như bố vợ phải đấm (~ như
khố rợ phải lấm); 31) xúng xính như lễ
sinh (~ như lính về quê)
Các chuỗi hoặc cặp thành ngữ đồng
nghĩa này thể hiện sự quan sát đa diện
của người Việt khi chọn yếu tố [B] để biểu thị mức độ hoặc thể cách của [t] Trong nhóm TNSS [t1 như B] còn có
4 cặp thành ngữ mà yếu tố [B] trong mỗi cặp đều nêu hình ảnh cái so sánh giống nhau: 1) lằng nhằng như cưa rơm / nhùng nhằng như cưa rơm; 2) đay
đảy như gái rẫy chồng ốm / ngoay ngoảy như gái rẫy chồng ốm; 3) lập cập như ông gặp bà / ngầm ngập như ông gặp bà; 4) lơ láo như chó thấy thóc / ngông nghênh như chó thấy thóc Chúng tôi chỉ xem các từ láy trong hai cặp 1) và 2) là những cặp từ đồng nghĩa: lằng nhằng - nhùng nhằng; đay đảy - ngoay ngoảy Các từ láy trong hai cặp 3)
và 4) không phải là cặp từ đồng nghĩa vì tuy có yếu tố [B] giống nhau nhưng trong mỗi thành ngữ của cặp, [B] biểu thị thể trạng của những chủ thể khác nhau (lệ như, ông sung sức thì "ngầm ngập như ông gặp bà", còn ông già yếu thì đành "lập cập như ông gặp bà")
5 Tóm lại, qua khảo sát nhóm 148 TNSS mở đầu bằng từ láy, chúng ta hiểu vì sao các TNSS này có tác dụng giải nghĩa rất tốt cho từ láy mở đầu thành ngữ, đồng thời thấy rõ: thành ngữ là nguồn ngữ liệu cần khai thác triệt để nhằm bổ sung danh sách từ láy,
từ đồng nghĩa và thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt
Tài liệu tham khảo
[1] Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985 [2] Hoàng Văn Hành (chủ biên), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002
[3] Hoàng Văn Hành, Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2005
Trang 6tr−êng §¹i häc Vinh T¹p chÝ khoa häc, tËp XXXVII, sè 3b-2008
[4] NguyÔn Lùc - L−¬ng V¨n §ang, Thµnh ng÷ tiÕng ViÖt, NXB Khoa häc X· héi, Hµ Néi, 1993
[5] Du Yªn (tuyÓn chän), Thµnh ng÷, tôc ng÷ ViÖt Nam, NXB Tæng hîp §ång Nai,
2004
[6] ViÖn Ng«n ng÷ häc, Tõ ®iÓn tiÕng ViÖt, Trung t©m Tõ ®iÓn häc, NXB Gi¸o Dôc,
Hµ Néi, 1994
[7] ViÖn Ng«n ng÷ häc, Tõ ®iÓn tõ l¸y tiÕng ViÖt, NXB Gi¸o Dôc, Hµ Néi, 1994
Summary
and explanating reduplices words in vietnamese
Comparision idioms in the type [t1 as B], by their particular structure have a greate effect on explanating reduplices words at the beginning of the idioms Vietnamese idioms, on the one hand are valuable data to be exploited throughly for development of the lists of reduplices words, synonyms and synonymous idioms, on the other, are active examples to explain words in dictionaries and in speech
(a) Khoa Ng÷ V¨n, Tr−êng §¹i häc Vinh.