Trong bài này chúng tôi đưa ra một số kết quả về chăn nuôi 2 giống bò chủ lực ở Nghệ An là bò vàng và bò Laisind.. Nội dung điều tra Các nội dung điều tra theo phiếu câu hỏi đã có sẵn, r
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Một số vấn đề về hiện trạng của cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò ở Nghệ An"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
MộT Số VấN Đề Về HIệN TRạNG CủA CƠ CấU GIốNG
Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN
Nguyễn Kim Đường (a)
Tóm tắt Bài báo nhằm góp phần đánh giá tiềm năng của chăn nuôi bò ở Nghệ An Chúng tôi đã thu được các kết quả: (i) Bò vàng là giống bò được nuôi chủ lực (67,97%), bò Laisind và các giống khác còn ít (32,03%) (ii) Bò vàng ở vùng núi cao là 97,73%; bò Laisind vùng đồng bằng là 55,61%; vùng núi bò vàng là 65,85% và bò Laisind là 34,15%) (iii) Tỷ lệ bò cái trong đàn cao: 85,48% ở bò vàng và 86,83% ở bò Laisind; tỷ lệ bò đực trong đàn khá cao:14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind (iv) Bò được nuôi để cho sinh sản là chủ yếu: 58,73% ở bò vàng và 57,03% ở bò Laisind (v) Hoạt động sinh sản của đàn
bò là bình thường (vi) Khối lượng của bò cái vàng hơi cao hơn so với trước đây (179,74 kg/con và 216,59 kg/con); khối lượng của bò cái Laisind thấp hơn so với tiềm năng ưu thế lai của con lai này: 243,40 kg/con ở nhóm <3 năm tuổi và 264,65 kg/con ở nhóm >3 năm tuổi (vii) Điều kiện chăn nuôi đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát triển của bò vàng, chưa thật sự đáp ứng với bò Laisind (viii) Điều kiện chăn nuôi và yếu tố vùng sinh thái
ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển chăn nuôi bò ở Nghệ An
I ĐặT VấN Đề
Trong các vật nuôi hiện đang được nuôi ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, con bò có nhiều ưu thế hơn các vật nuôi khác và vì vậy nó giữ một vị trí quan trọng nổi bật Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 6,5 triệu con bò, trong đó ở Nghệ An là khoảng hơn 454.900 con (chiếm gần 1/12 đàn bò Việt Nam) ở Việt Nam đang tồn tại nhiều giống bò: Vàng, Laisind, H’mong, u đầu rìu, Sind, Brahman, Holstein Friesian (lang trắng đen
Hà Lan-HF), Jersey, các bò lai hướng sữa F1, F2, F3, Laisind và các bò lai hướng thịt F1,
F2, F3, Trong đã, bò vàng chiếm một tỷ lệ lớn, tiếp đến là bò Laisind ở Nghệ An đã
có giống nội là bò vàng khả nổi tiếng, và một tỷ lệ bò lai khoảng 34-35% tổng đàn (trong
đã chủ yếu là bò Laisind)
Các giống bò nội của Việt Nam có ưu thế về khả năng chịu đựng cao với sự khắc nghiệt của thời tiết khí hậu, không đòi hỏi dinh dưỡng và chăm sóc cao Tuy nhiên, chúng có tầm vóc nhỏ, khả năng cho sữa rất thấp, tỷ lệ thịt xẻ thấp Trong xu thế phát triển nâng cao số lượng và chất lượng đàn bò, nhiều nhóm bò lai đã được tạo ra Chúng đã góp phần cải tạo tầm vóc của đàn bò, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng
tỷ lệ thịt xẻ, Tuy nhiên, các con lai đòi hỏi số lượng và chốt lượng thức ăn cao hơn
và chăm sãc nuôi dưỡng, tổ chức quản lý tốt hơn
Để góp phần đánh giá tiềm năng của chăn nuôi bò ở Nghệ An, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò bền vững ở đây, chúng tôi đã tiền hành điều tra toàn diện về con bò và chăn nuôi bò ở Nghệ An Trong bài này chúng tôi đưa ra một
số kết quả về chăn nuôi 2 giống bò chủ lực ở Nghệ An là bò vàng và bò Laisind
II VậT LIệU, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1 Vật liệu
Đàn bò đang được nuôi trong các hộ chăn nuôi bò ở các điểm điều tra
Trang 3Nguyễn Kim Đường CƠ CấU GIốNG Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN, TR 35-41
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghệ An có 17 huyện, 2 thị xã và thành phố Vinh, trong đó 5 huyện vùng núi cao, 5 huyện vùng núi, 7 huyện đồng bằng, 2 thị xã và 1 thành phố Chúng tôi đã chọn 2 huyện đồng bằng, 2 huyện miền núi và 1 huyện vùng núi cao để điều tra Mỗi huyện chúng tôi chọn 3 xã (1 xã chăn nuôi bò khá, 1 xã trung bình và 1 xã yếu) Mỗi xã chúng tôi chọn ngẫu nhiên 50 hộ để thu thập số liệu
2.3 Nội dung điều tra
Các nội dung điều tra theo phiếu câu hỏi đã có sẵn, riêng khối lượng của bò
được tính bằng phương pháp ước lượng theo công thức của Viện Chăn nuôi (VCN 1980) trên cơ sở các số đo dài thân và vòng ngực mà chúng tôi đo được trực tiếp trên từng con bò
2.4 Xử lý số liệu
Các số liệu thu được chúng tôi xử lý trên phần mềm Excel
III KếT QUả Và THảO LUậN
Sau khi xử lý thống kê các số liệu điều tra thu được chúng tôi đã tập hợp các kết quả vào một số nội dung để đánh giá Các nội dung và các kết quả đó như sau: 3.1 Tình chung về các hộ chăn nuôi bò ở bò nuôi tại Nghệ An
Chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu với tổng số 1150 phiếu điều tra, xử lý thống kê các số liệu thu thập được chúng tôi có các kết quả như:
Số năm kinh nghiệm trong việc nuôi bò của các hộ là 9,12 năm (lâu nhất là 40 năm và ít nhất là 1 năm) Trung bình mỗi hộ nuôi 3,86 con bò, trong đó số hộ nuôi
>10 con là 5,30%, hộ nuôi nhiều nhất là 65 con và hộ nuôi ít nhất là 1 con Những hộ
có nuôi bò vàng: trung bình nuôi 3,33 con/hộ, hộ nuôi nhiều nhất là 35 con và hộ nuôi ít nhất là 1 con Những hộ có nuôi bò lai Laisind: trung bình 2,52 con/hộ, trong
đó số hộ nuôi >5 con là 5,45%, hộ nuôi nhiều nhất là 22 con và hộ nuôi ít nhất là 1 con Như vậy rõ ràng quy mô chăn nuôi bò trong các hộ là nhỏ
Phân tích cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò chúng tôi có các kết quả trên bảng 1a Bảng 1a: Cơ cấu về các giống và cơ cấu đàn bò đang nuôi ở Nghệ An
Giống bò Tổng số
hộ
Tổng số bò (con)
Bê theo mẹ (%)
Bò < 3 tuổi (%)
Bò > 3 tuổi (%)
Bò vàng 415 1600 22,00 30,09 47,91
Bò Laisind 257 754 23,50 28,48 48,02
Ghi chú: * không kể bò sữa, vì bò sữa giành cho một báo cáo riêng
Cơ cấu giống của đàn bò chủ yếu là 3 nhóm: Bò vàng (67,28%), bò Laisind (31,71%) và các giống khác (1,01%) Kết quả này cho thấy bò vàng vẫn là giống bò
được nuôi chủ lực ở Nghệ An (67,28%), bò Laisind và các giống khác chiếm 32,72%-
đây là tỷ lệ hơi thấp hơn các con số mà số liệu thống kê của tỉnh Nghệ An công bố (34-35%) Điều tất yếu có thể dự báo khi nhìn vào cơ cấu giống của đàn bò, đó là vần đề năng suất của đàn bò Bò vàng vốn dĩ là giống bò địa phương, nhỏ con, khối lượng thấp
và tỷ lệ thịt xẻ thấp Do vậy, một khi giống bò này chiếm tới hơn 3/4 đàn bò thì ảnh của nó đến năng suất và sản lượng là tất yếu và rất lớn
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
Cơ cấu đàn bò ở hai giống chính gần giống nhau: Bê theo mẹ ở bò vàng là 22% và
bò Laisind là 23,50%; bò <3 năm tuổi là 30,09% ở bò vàng, 28,48% ở bò Laisind; bò >3 năm tuổi ở bò vàng là 47,91% và bò Laisind là 48,02% Nhìn vào cơ cấu đàn bò như trên chúng ta có thể thấy thêm một số vấn đề như: Tỷ lệ bê theo mẹ ở cả 2 giống trung bình là 22,50%, điều đó có nghĩa rằng tỷ lệ đẻ của bò cái trong độ tuổi sinh sản hàng năm chưa cao và một vấn đề nữa là nạn “giết bê non để bán đặc sản bê thui” đang khá phát triển ở Nghệ An, do vậy sẽ làm cho tốc độ tăng đàn của đàn bò chậm
Đàn bò có tỷ lệ bò >3 năm tuổi cao (trung bình khoảng 48%), như vậy là đàn bò
có độ tuổi lớn - hơi già, có nghĩa là đàn bò chậm được thay thế
Khi xem xét cơ cấu giống của đàn bò theo vùng địa lý sinh thái (bảng 1b) chúng tôi nhận thấy, có sự khác nhau rất rõ rệt về cơ cấu giống của đàn bò giữa các vùng Bảng 1b: Cơ cấu các giống bò phân theo vùng địa lý sinh thái của Nghệ An
Bò vàng Bò Laisind Vùng đại diện Tổng
Đồng bằng (Quỳnh Lưu + Hưng Nguyên) 757 336 44,39 421 55,61
Miền núi (Thanh Chương + Nghĩa Đàn) 1025 675 65,85 450 34,15 Núi cao (Quỳ Châu) 572 559 97,73 13 2,27
Vùng đồng bằng bò Laisind chiếm tới 55,61% và bò vàng chỉ chiếm 44,39%; vùng núi bò Laisind chiếm tới 34,15% và bò vàng chiếm 65,88%; vùng núi cao bò Laisind chỉ chiếm 2,27% và bò vàng chiếm tới 97,73%
Qua các số liệu trên chúng ta có thể thấy, vùng núi cao bò vàng gần như chiếm
ưu thế tuyệt đối, điều này có thể do trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của người chăn nuôi hạn chế, khả năng đầu tư thấp, điều kiện tự nhiên không thuận lợi Tuy nhiên nhìn ở khía cạnh số lượng thì đàn bò ở vùng núi cao nhiều hơn ở vùng đồi núi và vùng đồi núi lại nhiều hơn vùng đồng bằng (572 con/3 xã điều tra ở Quỳ Châu so với
512 con/3 xã điều tra ở Nghĩa đàn hoặc Thanh Chương so với 378 con/3 xã điều tra ở Quỳnh Lưu hoặc Hưng Nguyên) Có kết quả này có thể do diện tích đất tự nhiên lớn ở vùng núi cao lớn hơn vùng đồi núi và vùng đối núi lại lớn hơn vùng đồng bằng Hơn thế nữa, thảm thực vật ở vùng núi cao phong phú và đa dạng hơn vùng đồi núi và vùng đối núi lại phong phú và đa dạng hơn vùng đồng Tất cả các điều kiện đó đẫn tới nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có ở vùng núi cao lớn hơn vùng đồi núi và vùng đối núi lại lớn hơn vùng đồng bằng
Ngược lại, ở vùng đồng bằng bò Laisind chiếm tới gần 2/3 và bò vàng chỉ chiếm hơn 1/3 một ít và quy mô đàn bò ở đồng bằng cũng nhỏ hơn vùng núi cao cũng như vùng đồi núi Mỗi hộ ở đồng bằng chỉ nuôi 1-2 con, không có hộ nào nuôi >10 con Có hiện trạng này
là vì diện tích đất tự nhiên ở vùng đồng bằng hẹp, mật độ dân số cao, do vậy nguồn thức
ăn tự nhiên sẵn có hạn chế, bò được nuôi nhốt ở nhà là chính, thức ăn cho chúng là cỏ trồng, cỏ cắt, tận dụng các nguồn phụ phế phẩm nông công nghiệp Song do trình độ hiểu biết khoa học của người dân khá cao, khả năng đầu tư tốt hơn vùng núi cao và vùng đồi núi, điều kiện tự nhiện thuận lợi hơn, nên về số lượng đàn bò thì hạn chế, nhưng chất lượng đàn bò cao hơn hẳn vùng núi cao và vùng núi
Trang 5Nguyễn Kim Đường CƠ CấU GIốNG Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN, TR 35-41
3.2 Tình hình số lượng đàn bò của bò nuôi tại Nghệ An
Để phân tích đàn bò chúng tôi nhận thấy cần đi sâu vào hai nhóm bò dưới 3 và trên 3 năm tuổi (bảng 2), qua phân tích chúng tôi thấy:
ở cả hai giống, tỷ lệ bò >3 năm tuổi đều cao hơn tỷ lệ bò <3 năm tuổi khá nhiều
Bò vàng bò >3 năm tuổi nhiều hơn bò <3 năm tuổi tới 22,86% và ở bò Laisind sự khác biệt này lên tới 44,12% Kết quả này một lần nữa cho thấy đàn bò được sử dụng trong thời gian khá dài và chậm được thay thế như chúng ta đã thấy khi phân tích các kết quả trên bảng 1b
Bảng 2: Tình hình của đàn bò ở Nghệ An theo độ tuổi và giới tính
Bò < 3 tuổi Bò > 3 tuổi Giống bò
n (con) % Đực (%) Cái (%) n % Đực (%) Cái (%)
Bò vàng 562 38,57 41,64 58,36 895 61,43 14,52 85,48 Laisind 216 27,94 30,56 69,44 357 72,06 13,17 86,83 Chung 778 35,53 39,34 60,66 1352 64,47 15,16 84,84
Tỷ lệ đực cái rất khác nhau ở cả hai giống và hai lứa tuổi Bò <3 năm tuổi đực chiếm 38,57% ở bò vàng và 27,94% ở bò Laisind; bò >3 năm tuổi đực là 14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind Có kết quả này là do bò Laisind có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, đạt khối lượng giết thịt ở tuổi trẻ hơn nên đã được giết thịt sớm làm giảm tỷ lệ nhanh hơn bò vàng, ngược lại bò vàng sinh trưởng chậm-khối lượng đạt thấp, giết thịt ở tuổi già hơn nên tỷ lệ giảm chậm hơn bò Laisind Bò >3 năm tuổi, tỷ
lệ bò đực tương đương nhau: 14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind Tỷ lệ bò đực trong đàn bò như vậy là khá cao, đặc biệt là ở nhóm bò vàng Từ các số liệu này chúng ta có thể thấy được rằng, bò cái vẫn được phối giống chủ yếu do nhảy trực tiếp,
điều đó có nghĩa là việc thụ tinh nhân tạo cho đàn bò còn hạn chế Tình trạng này dẫn tới hai kết quả: Tỷ lệ bò lai tăng chậm và đàn bò có thể bị đồng huyết do bò đực giống chăn thả phối giống trực tiếp cho bất kỳ bò cái nào khi chúng động dục do không quản lý được công tác phối giống
3.3 Tình hình sử dụng của bò nuôi tại Nghệ An
Phân tích đàn bò theo mục đích sử dụng (bảng 3) chúng tôi nhận thấy, đàn bò chủ yếu được dùng vào mục đích sinh sản và điều này là hoàn toàn phù hợp với những gì chúng ta thấy trên bảng 2, đó là tỷ lệ bò cái cao ở cả hai lứa tuổi (<3 năm tuổi là 58,36% ở bò vàng và 69,44% ở bò Laisind; >3 năm tuổi là 85,48% ở bò vàng và 86,83% ở bò Laisind)
Bảng 3: Tình hình sử dụng bò ở đàn bò Nghệ An Giống Tổng (con) Sinh sản (%) Nuôi lấy thịt (%) Cày kéo (%)
Bò Laisind 573 57,03 22,02 20,95
Bò được sử dụng vào mục đích lao tác (cày, kéo) không còn nhiều, chỉ là 14,62%
ở bò vàng và 20,95% ở bò Laisind Bò nuôi để lấy thịt cũng không có tỷ lệ cao, chỉ là 26,65% ở bò vàng và 22,02% ở bò Laisind Điều này là không hợp lý, có thể do số liệu chỉ phản ảnh đàn bò hiện đang nuôi, mà phần lớn bò đã được bán để giết thịt ở độ tuổi nhỏ (bê thui) và ở lứa tuổi lớn hơn thì chưa có sự vỗ béo Cả hai vấn đề này của
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
việc “giết thịt bò” đều dẫn đến một kết quả là năng suất thịt và sản lượng thịt thương phẩm của đàn bò bị hạn chế Tuy nhiên nhìn từ một khía cạnh khác, đó là năng lực chăn nuôi như khả năng đầu tư, đặc biệt là đầu tư về thức ăn cho đàn bò ở lứa tuổi và khối lượng lớn hơn còn hạn chế nên phải kết thúc (giết thịt) sớm
3.4 Tình hình sinh sản của bò nuôi tại Nghệ An
Xem xét khả năng sinh sản của đàn bò đang được nuôi tại Nghệ An chúng tôi
đã thu được các kết quả trên bảng 4
Các kết quả thu được cho thấy, hoạt động sinh sản của đàn bò là bình thường Tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu của bò vàng sớm hơn bò Laisind (18,74 tháng so với 20,35 tháng và 27,17 tháng so với 30,05 tháng) Thời gian có chửa trở lại sau đẻ của cả hai giống đều hơi chậm so với sinh lý sinh sản ở bò (sau khi sinh 30-60 ngày thì bò có thể có chửa trở lại), bò vàng có chửa trở lại sau đẻ ở thời điểm 69,
46 ngày và 75,71 ngày ở bò lai Laisind - nhìn chung là hơi muộn
Bảng 4: Khả năng sinh sản của đàn bò nuôi tại Nghệ An
Bò vàng (n = 402) Bò Laisind (n = 184)
Chỉ tiêu X± σ Cv% X± σ Cv% Tuổi phối giống lần đầu (tháng) 18,74 ± 1,73 9,23 20,35 ± 3,51 17,25 Tuổi đẻ lần đầu (tháng) 27,17 ± 2,29 8,43 30,05 ± 3,18 10,58
TG có chửa trở lại sau đẻ (ngày) 69,46 ± 7,83 11,27 75,71 ± 8,39 11,82 Khoảng cách 2 lứa đẻ (tháng) 12,14 ± 0,78 6,43 12,24 ± 1,11 9,07 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ không ngắn nhưng cũng không quá dài (370-375 ngày), so với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác là khoảng 360-390 ngày
Có các kết như vậy về các chỉ tiêu sinh sản của đàn bò là do, đây là số liệu thu thập trên cơ sở ghi chép hoặc trí nhớ của người chăn nuôi, đàn bò chủ yếu được nuôi theo lối chăn thả, phối giống tự do và trực tiếp không biết chính xác thời gian các bò cái được bò đực phối giống và có chửa Công tác quản lý, phát hiện bò động dục và phối giống (AI) cho đàn bò còn nhiều hạn chế, thiếu chính xác Hơn thế nữa, đây là số liệu
điều tra chứ không phải là một nghiên cứu theo dõi trực tiếp trên một đàn bò có sự quản lý khoa học, chặt chẽ
3.5 Tình hình sinh trưởng của bò nuôi tại Nghệ An
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn bò chúng tôi dựa vào khối lượng của từng cá thể trong hai lứa tuổi (< 3 và > 3 năm tuổi) bằng phương pháp ước tính theo các chiều đo dài thân và vòng ngực của chúng Các kết quả thu được có trên bảng 5
Bảng 5: Khối lượng của bò cái vàng và cái Laisind ở Nghệ An
Bò < 3 tuổi Bò > 3 tuổi
Bò vàng (kg) 47 179, 74 ± 37,76 21,06 69 216,59 ± 29,14 13,45
Bò Laisind (kg) 47 243,40 ± 44,28 18,29 46 264,65 ± 51,86 19,59 Với mục tiêu đánh giá khối lượng để trên cơ sở đó xem xét khả năng ghép đôi giao phối giữa bò vàng và bò Laisind với các giống ngoại trong chương trình lai cấp
Trang 7Nguyễn Kim Đường CƠ CấU GIốNG Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN, TR 35-41
tiến tạo giống bò chuyên dụng ở Việt Nam, chúng tôi chỉ ước tính khối lượng của các nhóm bò cái Bò cái vàng <3 năm tuổi có khối lượng 179,74 kg/con và >3 năm tuổi là 216,59 kg/con Theo Lê Viết Ly và cs (1999) thì bò cái vàng < 3 năm tuổi có khối lượng khoảng 168-181 kg (trung bình 175 kg) và > 3 năm tuổi có khối lượng khoảng 181-196 kg (trung bình 188 kg) So sánh kết quả thu được của chúng tôi với công bố của L.V Ly thì khối lượng bò vàng hiện nay có tăng lên ít nhiều Đặc biệt là nhóm
bò cái vàng >3 năm tuổi có khối lượng cao hơn trung bình khoảng 28 kg/con và với khối lượng như vậy thì chúng hoàn toàn đủ tiêu chuẩn để ghép đôi giao phối với bò Sind, Zebu theo quy định trong chương trình lai cấp tiến tạo giống bò chuyên dụng
ở Việt Nam
Bò cái Laisind <3 năm tuổi có khối lượng 243,40 kg/con và >3 năm tuổi là 264,65 kg/con Theo Võ Văn Sự và cs (2004) thì bò cái Laisind <3 năm tuổi có khối lượng khoảng 200-250 kg/con (trung bình 225 kg/con) và >3 năm tuổi là 275 kg Như vậy, các kết quả thu được của chúng tôi trên bò cái Laisind <3 năm tuổi là phù hợp với kết quả của V V Sự và cs., song bò cái Laisind >3 năm tuổi có khối lượng thấp hơn so với kết quả của V V Sự và cs
Các kết quả này cho thấy, chất lượng bò cái vàng đã được cải thiện đáng kể, song chất lượng bò cái Laisind >3 năm tuổi còn hạn chế Có được kết quả này có thể do: Các bò cái vàng đã có được hiệu quả nhất định của công tác chọn lọc bò cái nền trong công tác Laisind hóa và Zebu hóa đàn bò Mặt khác cũng có thể do điều kiện chăn nuôi trong các nông hộ ở Nghệ An đã có những cải thiện nhất định, nó đã đáp ứng tốt cho bò vàng (bò nội)-nhu cầu dinh dưỡng thức ăn thấp và có thể đáp ứng
được cho bò Laisind <3 năm tuổi-nhu cầu dinh dưỡng thức ăn chưa thật cao, song chưa đáp ứng được cho bò Laisind trên 3 năm tuổi-nhu cầu dinh dưỡng thức ăn cao
VI KếT LUậN
Qua các kết quả thu được ở trên chúng tôi xin đưa ra một số kết luận như sau:
- Bò vàng vẫn là giống bò được nuôi chủ lực (67,28%), bò Laisind và các giống khác còn ít (32,72%) Điều này cho thấy chăn nuôi bò ở Nghệ An năng suất còn hạn chế
- Bò vàng ở vùng núi là 96,70%; bò Laisind vùng đồng bằng là 56,61%; vùng núi bò vàng vẫn nhiều hơn bò Laisind (65,85% so với 34,15%) Điều này chứng tỏ trình độ chăn nuôi và vùng địa lý sinh thái có vai trò rất lớn trong phát triển chăn nuôi bò ở Nghệ An
- Tỷ lệ bò cái cao ở cả hai giống (85,48% ở bò vàng và 86,83% ở bò Laisind) Tuy nhiên, tỷ lệ bò đực trong đàn vẫn còn khá cao (14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind)
- Đàn bò được nuôi với mục đích khai thác sinh sản là chủ yếu (với bò >3 năm tuổi: 58,73% ở bò vàng và 57,03% ở bò Laisind), bò được sử dụng để cày kéo không còn nhiều (14,62% ở bò vàng và 20,95% ở bò Laisind)
- Hoạt động sinh sản của đàn bò là bình thường (tuổi phối giống lần đầu, tuổi
đẻ lần đầu của bò vàng sớm hơn bò Laisind), thời gian có chửa trở lại sau đẻ của cả hai giống đều hơi chậm, khoảng cách giữa hai lứa để không ngắn nhưng cũng không quá dài
- Khối lượng của bò cái vàng <3 năm tuổi và trên 3 năm tuổi tương ứng là 179,74 kg/con và 216,59 kg/con, hơi cao hơn so với trước đây Điều này chứng tỏ điều kiện chăn nuôi và chất lượng con giống bò vàng đã được cải thiện
Trang 8trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
- Khối lượng của bò cái Laisind <3 năm tuổi và >3 năm tuổi tương ứng 243,40 kg/con và 264,65 kg/con, thấp hơn so tiềm năng ưu thế lai của con lai Điều kiện chăn nuôi chưa đáp ứng được nhu cầu của bò Laisind
TàI LIệU THAM KHảO
[1] Nguyễn Kim Đường, Trần Đình Miên, Nguyễn Tiến Văn, Chọn giống và nhân giống gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1992
[2] Nguyễn Kim Đường, Lê Đình Phùng, Khả năng sinh sản của bò vàng và bò lai (vàng x Red Sindhi) nuôi tại 2 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của tỉnh Quảng Ngãi, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2003
[3] Nguyễn Kim Đường, Lê Đình Phùng, Khả năng sinh trưởng của bò vàng và bò lai (vàng x Red Sindhi) nuôi tại 2 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của tỉnh Quảng Ngãi NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2003
[4] Nguyễn Kim Đường, Lê Đình Phùng, Yếu tố giống và vùng sinh thái trong chăn nuôi bò ở Quảng Ngãi, Thông tin KH Đại học Vinh, số 30
[5] Lê Viết Ly, Hoàng Kim Giao, Mai Văn Sánh, Võ Văn Sự, Lê Minh Sắt, Bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam, Tập I: Phần gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,
1999
[6] Võ Văn Sự, Nguyễn Văn Thiện, Đặng Tất Nhiễm, Lê Viết Ly, Nguyễn Viết Hải, Hoàng Văn Tiệu, át lát các giống vật nuôi Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2004
SUMMARY
Some problems about cattle breeding and cattle herd
structure in cattle production in Nghe An
The aim of our study is to evaluate the situation and capacity of cattle and cattle production in Nghe An We he got results: (i) yellow cattle breed is the main breed raising (67,97%), Sind crossbred (32,03%) (ii) In high mountain yellow cattle is 97,73%; Sind crossbred in plain/lowland is 55,61%; in mountainous region-yellow cattle is 65,85% and Sind crossbred is 34,15%) (iii) High ratio of female in cattle herd: 85,48% in yellow cattle and 86,83% in Sind crossbred; ration of male in cattle herd rather high:14,52% in yellow cattle and 13,17% in Sind crossbred (iv) Female raising mainly for reproduction: 58,73% in yellow cattle and 57,03% in Sind crossbred (v) Reproduction of two breed are normally (vi) Live wieght of cattle female is hgher than before (179,74 kg/head and 216,59 kg/head respective to <3 and >3 year old) Live weight of Sind crossbred lower than heterosis capacity of this hybrid: 243,40 kg/head in <3 and 264,65 kg/head in >3 year old group (vii) The conditions of cattle raising is improveving, which satistify the demand of yellow cattle, still do not satistify for demand of Sind crossbred (viii) The conditions for cattle raising and geographical-ecological effect clearly to cattle production in Nghe An
(a) Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh