Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 16 trở lên và các chỉ số sinh học liên quan tại một số vùng dân cư thuộc Nghệ An."... 56-63 Thực trạng bệnh đá
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 16 trở lên và các chỉ số sinh học liên quan tại một số vùng dân cư thuộc
Nghệ An."
Trang 2Nguyễn Thị Oanh Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi , TR 56-63
Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi
từ 16 trở lên và các chỉ số sinh học liên quan
tại một số vùng dân cư thuộc Nghệ An
Nguyễn Thị Oanh (a)
Tóm tắt Điều tra thực trạng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) ở độ tuổi từ 16 trở lên
và các chỉ số sinh học liên quan tại một số vùng dân cư thuộc tỉnh Nghệ An (từ tháng 12/2007 đến tháng 08/2008) chúng tôi thu được: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại khu vực nghiên cứu trung bình là 6,7%, trong đó cao nhất là thành phố Vinh chiếm 13,3%, thấp nhất là huyện Tương Dương chiếm tỷ lệ 1,4% ở các độ tuổi từ 16 trở lên tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 1,5 -11,0% Tỷ lệ bị ĐTĐ ở các vùng miền khác nhau thay đổi từ 4,1
- 13,3% Các chỉ số sinh lý ở nhóm đối tượng bị ĐTĐ có biểu hiện nguy cơ bệnh về mạch máu và thận cùng với một số biến chứng thường gặp của bệnh ĐTĐ
I Đặt vấn đề
Đái tháo đường là một căn bệnh nội tiết do rối loạn chuyển hoá cacbohydrate xẩy ra khi hormon insulin của tuỵ bị thiếu hay giảm thấp hoặc mất cân bằng về tiêu hoá và chuyển hoá đường, biểu hiện bằng tỷ lệ đường trong máu luôn cao quá giới hạn bình thường, và đường sẽ bị thải qua thận theo con đường nước tiểu Bệnh đái tháo đường gây ảnh hưởng toàn diện đến cơ thể với nhiều biến chứng nguy hiểm như: biến chứng mắt, thận, thần kinh, tim mạch, huyết áp, Các biến chứng này sẽ dẫn đến tử vong hoặc tàn phế suốt đời nếu như không được điều trị kịp thời Năm
2006, toàn thế giới có 246 triệu người mắc bệnh đái tháo đường ước tính năm 2025 con số người bị đái tháo đường sẽ lên tới trên 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu) ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2007, tỷ lệ bị đái tháo đường trung bình trong cả nước là 4,78% Tại Nghệ An, theo điều tra của Trung tâm nội tiết tỉnh, năm 2005 tỷ lệ người bị đái tháo đường trên toàn tỉnh là 3,0%, tỷ lệ này
đang ngày một tăng nhanh cho tới hiện nay ở các độ tuổi khác nhau Để góp phần cung cấp dẫn liệu cho việc tìm hiểu và ngăn ngừa bệnh đái tháo đường ở các độ tuổi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 16 trở lên và các chỉ số sinh học liên quan tại một số vùng dân cư thuộc Nghệ An
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nam, nữ ở độ tuổi từ 16 trở lên gồm 3383 người thuộc 18 huyện và thành thị tỉnh Nghệ An trong thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 08/2008
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, đơn giản, hệ thống và phương pháp dịch tễ học cộng đồng
Nhận bài ngày 22/9/2008 Sửa chữa xong 20/10/2008.
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4A-2008
Tại các vùng chúng tôi chọn cỡ mẫu tương đương nhau cũng như về số lượng
và sự đồng đều về độ tuổi tương ứng
Trong quá trình nghiên cứu, khi tiến hành khám lâm sàng và các chỉ số nhân trắc học chúng tôi khám kết hợp với trung tâm y tế ở địa phương tại mỗi vùng và sự giúp đỡ về chuyên môn của y, bác sĩ Trung tâm Nội tiết tỉnh Nghệ An
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ: Theo tiêu chuẩn của ADA (American Diabetes Assocoation) được WHO chính thức ban hành năm 1998 theo Zimmet + Lâm sàng: Có 4 triệu chứng chính là ăn nhiều, sút cân, đái nhiều, uống nhiều + Cận lâm sàng: Chỉ số đường huyết sau khi uống 75g đường glucose trong 250ml nước ≥11,1mmol/l
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh rối loạn dung nạp glucose (RLDNG), theo tiêu chuẩn của ADA được WHO chính thức ban hành năm 1998, chỉ số đường huyết sau khi uống 75g đường glucose trong 250ml nước ≥7,8mmol/l và <11,1mmol/l
2.2.2 Các chỉ số sinh học
Chỉ số hóa sinh máu, creatinin và albumin:
- Lấy máu tĩnh mạch: Máu được lấy vào 5-8 giờ sáng (đối tượng chưa ăn sáng), mỗi đối tượng nghiên cứu được lấy 3 ml máu, chống đông bằng EDTA 3%, bảo quản ở nhiệt độ 0oC Xét nghiệm máu ở thời điểm 2 giờ sau khi uống nước đường và ghi kết quả lần 2
- Xác định cholesterol toàn phần và tryglicerides, HDL-C, LDL-C sau khi lấy máu bằng phương pháp phản ứng màu Liebermann-Burchar, Salkowski trên máy sinh hóa đa năng Eosbsavo của Italia tại Trung tâm nội tiết tỉnh Nghệ An
- Lấy mẫu nước tiểu: lấy nước tiểu ở thời điểm bất kỳ để đo độ thanh thải creatinin; lấy nước tiểu buổi sáng lúc đói để đo nồng độ albumin niệu Creatinin và albumin được xác định trên máy Eosbsavo
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý nhờ phần mềm Excel kết hợp với chương trình Epi.info 6.0
So sánh các chỉ số sinh học giữa các độ tuổi bằng hàm Test ANOVA
III Kết quả nghiên cứu
Bảng 1: Kết quả thăm khám lâm sàng bệnh ĐTĐ và RLDNG tại khu vực nghiên cứu
Tổng
TT Điểm điều tra
người khám
Số lượng Tỷ lệ (%)
Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 4Nguyễn Thị Oanh Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi , TR 56-63
Từ số liệu bảng 1 cho thấy:
- Tỷ lệ bị bệnh ĐTĐ tại khu vực nghiên cứu trung bình là 6,7%, trong đó cao nhất là thành phố Vinh chiếm 13,3%, thấp nhất là huyện Tương Dương chiếm tỷ lệ 1,4%
- Tỷ lệ RLDNG tại khu vực nghiên cứu là 14,6%, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất
là Thành phố Vinh 22,2%, thấp nhất cũng là huyện Tương Dương chiếm 6,5%
Bảng 2: Mối tương quan giữa ĐTĐ, RLDNG và độ tuổi
Tổng
Độ tuổi
người khám
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Bảng 2 cho thấy: ở độ tuổi từ 16 - 26, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chiếm 1,5%; tỷ lệ RLDNG là 3,8% ở độ tuổi từ 27 - 37, tỷ lệ ĐTĐ là 2,0%; RLDNG là 10,5%; độ tuổi từ
38 - 48, tỷ lệ bị ĐTĐ tăng lên 8,7% đồng thời tỷ lệ RLDNG cũng tăng là 15,8%; độ tuổi từ 49 - 59, tỷ lệ ĐTĐ chiếm 8,2%, RLDNG là 16,9%; độ tuổi từ 60 - 70, tỷ lệ bị
ĐTĐ là 7,7%, RLDNG là 16,2%; và đặc biệt lứa tuổi trên 70, tỷ lệ bị ĐTĐ và RLDNG tăng cao nhất tương ứng là 11,0% và 24,4%
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4A-2008
Tỷ lệ ĐTĐ tăng theo độ tuổi với mức tuyến tính chặt (hệ số tương quan r=0,89) Tỷ lệ RLDNG tăng theo độ tuổi cũng với mức tuyến tính chặt (r = 0,84)
7.7
11
3.8
10.5
24.4
0
5
10
15
20
25
30
16 - 26 27 - 37 38 - 48 49 - 59 60 - 70 > 70
Độ tuổi
RLDNG
Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ ĐTĐ và RLDNG theo độ tuổi Bảng 3: Tỷ lệ bệnh ĐTĐ theo giới tính ở các vùng miền khác nhau
Số người
Số người
Số người Vùng
khám
ĐTĐ
Tỷ
lệ (%) khám
ĐTĐ
Tỷ
lệ (%) khám
ĐTĐ
Tỷ
lệ (%)
Bảng 3 cho thấy:
Tỷ lệ bị ĐTĐ chung cho hai giới chiếm cao nhất là ở thành phố (13,3%), sau đó
đến vùng ven biển (8,6%), vùng đồng bằng (7,0%) và thấp nhất là vùng miền núi (4,1%), chung cho cả quần thể (6,7%)
Trang 6Nguyễn Thị Oanh Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi , TR 56-63
5.3
8.2
10.1
12.1
2.7
5.5
7.0
14.7
0
2
4
6
8
10
12
14
16
Vùng
Nữ
Biểu đồ 2: So sánh bệnh ĐTĐ theo giới ở các vùng miền Bảng 4: Một số chỉ số hóa sinh máu, chỉ số Creatinin và Albumin
của nhóm đối tượng bị ĐTĐ
Giới tính
Chỉ số
Nam (n = 137)
X± SD
Nữ
(n = 88)
X± SD
Chung (n = 225)
X± SD
P
Cholesterol (mmol/l) 4,29 ± 1,53 4,58 ± 1,70 4,40 ± 1,60 P > 0,05 Triglicerides (mmol/l) 2,07 ± 1,25 2,03 ± 1,36 2,05 ± 1,29 P > 0,05
Creatinin (àmol/l) 124,23 ± 74,82 111,91 ± 67,02 119,41 ± 71,97 P < 0,001
Glucose (mmol/l) 17,76 ± 4,57 18,15 ± 4,53 17,91 ± 4,55 P < 0,001 Ghi chú: HDL-C (High density lipoprotein - Cholesterol); LDL-C (Low density lipoprotein - Cholesterol); X (giá trị trung bình); SD (độ lệch chuẩn)
Một số biến chứng của bệnh ĐTĐ trong nhóm đối tượng bị ĐTĐ (225 bệnh nhân) là: Biến chứng về mắt chiếm 4,0%; biến chứng nhiễm trùng và hoại tử khô bàn chân chiếm 2,7%; biến chứng về bệnh tăng huyết áp chiếm 3,1%; biến chứng nhiễm toan ceton chiếm 0,9%
IV Bàn luận
Điều tra thực trạng bệnh ĐTĐ và RLDNG tại khu vực nghiên cứu, kết quả của chúng tôi thu được ở bảng 1 cao hơn so với nghiên cứu của một số tác giả khác như: Vũ Nguyên Lam và Cs điều tra dịch tễ học tại thành phố Vinh năm 2000;
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4A-2008
Phạm Thị Bích Trà (2005) khi nghiên cứu thực trạng bệnh và một số chỉ số sinh học của người mắc bệnh ĐTĐ ở khu vực thành thị tỉnh Nghệ An; Nguyễn Văn Hoàn và
Cs (2005) điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ ở tỉnh Nghệ An; Tống Sông Hương và Cs (2003) khi nghiên cứu tại tỉnh Sơn La Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Tạ Văn Bình và Cs (2004) khi nghiên cứu tại 3 địa phương ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng và Yên Bái [7], [10], [5], [6], [3] Kết quả từ bảng 1 cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Harris và Cs (1987), Heine và Cs (1996) ở người da trắng; Colagiuri (2001) nghiên cứu ở nhiều quần thể khác nhau trên thế giới; Tuomilehto
và Cs (2001) khi nghiên cứu tại Phần Lan [9]
Nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ ở những người RLDNG rất lớn và đặc biệt là ở những đối tượng cao tuổi Tại Nghệ An, với tỷ lệ 14,6% RLDNG là chỉ số báo
động Vì vậy cần quản lý, tư vấn về chế độ ăn uống, sinh hoạt, ăn hạn chế đường, ăn nhiều chất xơ để giảm nguy cơ mắc bệnh và phát hiện sớm những người mắc bệnh để
điều trị và phòng tránh các biến chứng do bệnh gây nên
Khi độ tuổi càng cao thì tỷ lệ ĐTĐ và RLDNG càng lớn, đó là nhận xét qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi được thể hiện rõ nét qua bảng 2, biểu đồ 1 Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết quả của Tô Văn Hải và Cs khi điều tra 2017 người trên 16 tuổi năm 2000 và phù hợp với kết quả điều tra của Tạ Văn Bình và Cs năm 2001 [4], [3] Chính vì bệnh gia tăng theo độ tuổi nên việc phòng bệnh và đặc biệt chú ý phát hiện bệnh ĐTĐ và RLDNG ở người cao tuổi là rất cần được mọi quốc gia quan tâm
Về tỷ lệ bệnh ĐTĐ theo giới tính ở các vùng miền khác nhau, ở đây chúng tôi chỉ so sánh về tỷ lệ phần trăm bị bệnh ĐTĐ tương ứng với số người khám chứ không
so sánh về cở mẫu nghiên cứu ở các vùng miền Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình điều tra về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ của các khu vực miền núi, đồng bằng, trung du, thành phố và cả nước năm 2000 là (thành thị 4,4%; đồng bằng: 2,7%; cao nguyên-miền núi 2,1%; trung du
và duyên hải 2,2%) [2] Kết quả này cũng cao hơn so với kết quả điều tra của Nguyễn Văn Hoàn và Cs tại Nghệ An năm 2005 là (thành thị 5,5%; ven biển: 2,3%; đồng bằng: 2,6%; miền núi: 2,2%) [5] Qua đó chúng ta có thể rút ra một nhận định cơ bản,
đó là những thay đổi quá nhanh về thói quen ăn uống, dinh dưỡng của người dân trong các năm qua có một ảnh hưởng lớn đến sự gia tăng bệnh ĐTĐ ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung
Đối với bệnh nhân ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ typ 2 là thuộc nhóm có nguy cơ cao
bị xơ vữa động mạch, trong đó rối loạn lipoprotein đóng vai trò quyết định, việc chẩn
đoán sớm rối loạn lipoprotein lúc đói là một xét nghiệm cần thiết Theo Hiệp hội xơ vữa mạch châu âu năm 1991 (EAS), các chỉ số lipid huyết bình thường là: cholesterol toàn phần < 5,2 mmol/l; triglicerides < 1,7 mmol/l; HDL-C (nam: > 0,9 mmol/l; nữ > 1,1 mmol/l); LDL-C: < 3,4 mmol/l Hiện tượng tăng cholesterol toàn phần, triglicerides, HDL-C, LDL-C sẽ dẫn đến nguy cơ xơ vữa động mạch[9]
Kết quả thu được ở bảng 4 cho thấy, giá trị trung bình về chỉ số cholesterol là 4,40 ± 1,06 mmol/l (P > 0,05), với chỉ số này tuy chưa phải là chỉ só biểu hiện tăng cholesterol (> 5,2 mmol/l) nhưng theo chúng tôi, đối với những người bị ĐTĐ ở trên cần khám và điều trị tốt nhất là luôn duy trì chỉ số cholesterol ở mức bình thường
Trang 8Nguyễn Thị Oanh Thực trạng bệnh đái tháo đường ở độ tuổi , TR 56-63
(< 5,2 mmol/l) hoặc thấp hơn mức bình thường Chỉ số triglicerides với giá trị trung bình là 2,05 ± 1,29 mmol/l (P > 0,05) cao hơn chỉ số bình thường (< 1,7 mmol/l), như vậy nhóm đối tượng bị ĐTĐ trên có hiện tượng tăng triglicerides Về chỉ số HDL-C, LDL-C của nhóm đối tượng bị ĐTĐ, giá trị trung bình HDL-C (nam: 1,67 ± 0,90 mmol/l; nữ: 1,80 ± 0,93 mmol/l); giá trị trung bình LDL-C (nam: 1,83 ± 1,30 mmol/l; nữ: 1,94 ± 1,13 mml/l) với P > 0,05 Như vậy nhóm đối tượng bị ĐTĐ ở trên cả hai chỉ
số này đều ở mức bình thường
Chỉ số creatinin và albumin là hai chỉ số liên quan đến biến chứng về thận và gan của bệnh ĐTĐ Khi bệnh nhân ĐTĐ có biểu hiện biến chứng thận hư và suy thận dẫn đến tăng creatinin và albumin [9]
Cũng qua kết quả bảng 4 cho thấy, giá trị trung bình chỉ số creatinin (nam: 124,23 ± 74,82; nữ: 111,91 ± 67,02 àmol/l) với P < 0,001 Như vậy chỉ số này cao hơn chỉ số của người Việt Nam bình thường (81,2 àmol/l) [1] nên nhóm đối tượng nghiên cứu trên có nguy cơ về bệnh thận rất cao Về chỉ số albumin, giá trị trung bình (nam: 38,13 ± 9,35; nữ: 38,82 ± 9,31 G/L) (P > 0,05), chỉ số này cao hơn chỉ số của người Việt Nam bình thường (35-45 G/L) [1], [8], không có hiện tượng mất quá nhiều albumin nên nguy cơ về bệnh thận và gan của nhóm đối tượng trên với chỉ số albumin là ít hơn
Chỉ số glucose ở đây chúng tôi chỉ đưa chỉ số sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose của bệnh nhân bị ĐTĐ vì các chỉ số lipid máu và creatinin, albumin phụ thuộc vào hàm lượng đường trong máu Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp với chỉ số
đường huyết lúc đói và một số triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh ĐTĐ
V Kết luận
1 Tỷ lệ bị bệnh ĐTĐ tại khu vực nghiên cứu chiếm 6,7% trong đó có sự phân hóa giữa các vùng nghiên cứu Vùng chiếm tỷ lệ cao nhất là thành phố Vinh (13,3%), thấp nhất là huyện Tương Dương chiếm 1,4%
2 ở các độ tuổi từ 16 trở lên, tỷ lệ mắc ĐTĐ và tỷ lệ RLDNG tương quan thuận với độ tuổi của các nhóm đối tượng nghiên cứu với mức tuyến tính chặt (hệ số tương quan tương ứng r = 0,89; r = 0,84)
3 Tỷ lệ ĐTĐ chung cho cả nam và nữ thuộc các vùng miền có sự phân hóa rõ rệt Vùng chiếm cao nhất là thành phố (13,3%), sau đó đến vùng ven biển (8,6%), vùng đồng bằng (7,0%) và thấp nhất là vùng miền núi (4,1%)
4 ở nhóm đối tượng bị ĐTĐ, các chỉ số Cholesterol toàn phần, triglicerides, HDL-C, LDL-C có biểu hiện nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch Chỉ số Creatinin của cả nam và nữ đều cao hơn so với chỉ số ở người bình thường nên có nguy cơ biến chứng về bệnh gan và thận
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Y tế, Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90-thế kỷ XX, NXB Y học, 2003
[2] Tạ Văn Bình, Bệnh đái tháo đường, NXB Y học Hà Nội, 2000, tr 3-78
Trang 9trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4A-2008
[3] Tạ Văn Bình và Cs (2003), Thực trạng bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ
ở 4 thành phố lớn của Việt Nam, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa lần thứ hai, NXB Y học,
2004, tr 510-526
[4] Tô Văn Hải, Điều tra dịch tễ học của bệnh đái tháo đường ở người từ 16 tuổi trở lên thuộc 3 quận huyện Hà Nội, Tạp chí nội tiết và các rối loạn chuyển hoá, số 5, NXB Y học Hà Nội, 2002, tr.19-27
[5] Nguyễn Văn Hoàn và Cs, Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại Nghệ An,
Đề tài nghiên cứu khoa học, Lĩnh vực điều tra cơ bản, 2005
[6] Tống Sông Hương và Cs (2003), Điều tra bệnh đái tháo đường ở đối tượng có nguy cơ và các yếu tố liên quan tại tỉnh Sơn La năm 2003, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa lần thứ hai, NXB Y học, 2004, tr 471-487
[7] Vũ Nguyên Lam và Cs, Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại thành phố Vinh năm 2000, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hóa lần thứ hai, NXB Y học, 2004, tr
376-387
[8] Hoàng Thị Bích Ngọc, Hoá sinh bệnh đái tháo đường, NXB Y học, 2001
[9] Đỗ Trung Quân, Biến chứng bệnh đái tháo đường và điều trị, NXB Y học, 2006 [10] Phạm Thị Bích Trà, Nghiên cứu thực trạng bệnh và một số chỉ số sinh học của người mắc bệnh đái tháo đường ở khu vực thành thị tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Vinh, 2005
Summary
Diabetes reality of people of sixteen and over and biological indexes related in many different areas in Nghe An province
Diabetes reality investigation of people of 16 and over and biological indexes related in many different areas in Nghe An province (from 12/2007 to 08/2008), the study showed that: Diabetes rate of researched region average is 6,7%, in which the highest rate is Vinh city (13,3%), the lowest rate is Tuong Duong district (1,4%) At the ages from 16 and over diabetes rate is between 1,5% to 11,0% The diabetes rate
in different regions is from 4,1% to 13,3% Physiological indexes at diabetes group are at risk of blood vessel, kidney etc go along with complication of diabetes
(a) Cao học 14, chuyên ngành Sinh học thực nghiệm, trường Đại học Vinh