1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Cách dùng số từ trong tục ngữ " ppsx

9 499 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 398,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 Cách dùng số từ trong tục ngữ vấn đề chính: vị trí của số từ có thể đi trước và sau danh từ để bổ sung ý nghĩa cho danh từ;

Trang 1

Báo cáo nghiên cứu khoa học:

"Cách dùng số từ trong tục ngữ "

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

Cách dùng số từ trong tục ngữ

vấn đề chính: vị trí của số từ có thể đi trước và sau danh từ để bổ sung ý nghĩa cho danh từ; số từ có khả năng kết hợp với danh từ, động từ, tính từ, đại từ; số từ xuất hiện trước danh từ, động từ, tính từ, có thể qui về 5 mô hình điển hình

1 Đặt vấn đề

Để khai thác, giải mã một văn bản,

chúng ta cần phải bám sát vào ngôn

ngữ tạo nên tác phẩm Nhờ chính bản

thân ngôn ngữ mà người tiếp nhận văn

bản mới có cơ sở mã hoá mặt ngữ nghĩa,

hiểu đúng dụng ý của người nói Số từ

trong tục ngữ có tư cách là một tín hiệu

thẩm mĩ tạo nên cái đẹp cái hay cho

phát ngôn Khi đi vào tục ngữ, số từ

không còn là những con số khô khan

của toán học mà biến thành những con

số "biết nói" Nó thể hiện cái mạnh mẽ,

dứt khoát về tư duy nhận thức, tư duy

khoa học và góp phần không nhỏ để tạo

nên cách biểu đạt "lời ít ý nhiều" của

ông cha Vì vậy, tìm hiểu cách sử dụng

số từ trong tục ngữ là một việc làm

thiết thực Tuy nhiên, những công

trình, đề tài đi sâu tìm hiểu việc sử

dụng số từ trong tục ngữ chưa nhiều mà

nhìn chung chỉ có từng phần nhỏ ở một

số bài nghiên cứu có liên quan đến số từ

như [2, tr.127-130; 3, tr.35; 7,

tr.90-103] Đó là lí do để bài viết của chúng

tôi đi vào tìm hiểu cách sử dụng số từ

để tạo nên giá trị ngữ nghĩa trong tục

ngữ

2 Cách sử dụng số từ trong tục

ngữ

2.1 Vị trí xuất hiện của số từ trong tục ngữ

nhiều vị trí khác nhau: đầu câu, giữa câu hay cuối câu: Một cái tóc, một cái tội; Buôn có một, bán có mười; Đòi nợ tháng ba, đốt nhà tháng tám; Hai vợ chồng son, đẻ một con thành bốn Số từ không chỉ xuất hiện một lượt mà có thể xuất hiện hai hay hơn hai lượt trong một câu tục ngữ ngắn gọn có khi chỉ bốn chữ (Nhất vợ, nhì trời)

2.2 Khả năng kết hợp của số từ Tuy tục ngữ có tính ngắn gọn, hàm súc nhưng số từ xuất hiện trong tục ngữ với số lượng khá lớn, chiếm tỷ lệ 12,1 % trong tổng số các từ loại nói chung Số

từ có khả năng kết hợp với một số từ loại sau đây:

a Khả năng kết hợp với danh từ

Số từ là từ loại có khả năng kết hợp phổ biến trước danh từ, như: Hai cha con theo bậc dốc bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lên không thấy người con trai đứng đó nữa (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Điều này cũng

được thể hiện rõ trong tục ngữ, số từ có thể kết hợp trước danh từ tổng hợp cũng như các tiểu loại khác của danh từ

để hạn định ý nghĩa số lượng cho danh

Nhận bài ngày 15/10/2008 Sửa chữa xong 07/11/2008.

Trang 3

Phan Thị Hà Cách dùng số từ trong tục ngữ, TR 13-20

từ đó: Hai vợ chồng son, đẻ một con

thành bốn (DT tổng hợp); Ba năm ở với

người đần, chẳng bằng một lúc đứng

gần người khôn (DT thời gian); Một con

tôm có chật gì sông, một cái lông có chật

gì lỗ (DT chỉ loại); Ăn tám lạng, trả nửa

cân (DT đơn vị) Có bệnh bái tứ phương,

không bệnh đồng hương không mất (DT

chỉ vị trí); Năm ngón tay, có ngón dài,

ngón ngắn (DT chỉ bộ phận cơ thể

người); Một mẹ nuôi chín mười con, chín

mười con không nuôi được một mẹ (DT

chỉ người); Nhất duyên, nhì phận, tam

phong thổ (DT trừu tượng); Thứ nhất

thiên tai, thứ hai hoả hoạn (DT chỉ thời

tiết); Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ

giống (DT chỉ chất liệu); Trăm trâu

cũng một công chăn; Một chạch không

đầy đồng (DT chỉ động vật)

Ngoài ra, ta có thể gặp số từ đứng

sau danh từ trong các kết hợp có tính

ổn định: Trai con một thì lấy, gái con

một thì đừng (chỉ xuất hiện trong

trường hợp con một mà không có con

hai hay con ba)

b Khả năng kết hợp với động từ

Trong tục ngữ, số từ kết hợp với

động từ để nêu lên những sự nhận xét

về cách thức ứng xử của con người trong

xã hội: Chín nhịn, mười ăn; Một mất,

mười ngờ; Trăm nghe không bằng một

thấy Lúc này, ý nghĩa của động từ được

chuyển hóa giống danh từ do khả năng

kết hợp sau số từ (Trăm nghe không

bằng một thấy) Ngoài ra, số từ có khả

năng kết hợp với động từ nhưng đứng

sau động từ: Ông thầy ăn một, bà cốt ăn

hai; Buôn có một, bán có mười; Khách

ăn ba, chủ nhà ăn bảy Trong những

câu tục ngữ này, ý nghĩa nhấn mạnh

thường rơi vào vế đứng sau, cái phụ nhiều hơn cái chính

c Khả năng kết hợp với tính từ

Số từ có khả năng kết hợp trước tính từ để nêu lên sự đánh giá đặc điểm của sự vật,đối tượng, như: Dù đẹp tám vạn nghìn tư, mà chẳng có nết cũng hư một đời Với kết hợp này thì ý nghĩa của số từ tương đương các phụ từ mức

độ để chỉ ý nghĩa là nhiều, rất Nếu thiếu nết thì dù rất đẹp thì cha ông ta cũng xem là không có giá trị Hoặc số từ thứ tự có khả năng kết hợp với tính từ theo quan hệ đề thuyết: Nhất // cận thị, nhị // cận giang; Nhất // lé, nhì// lùn

d Khả năng kết hợp với động từ có phó từ đi kèm

Trong tiếng Việt, phó từ chuyên đi kèm phía trước và sau động - tính từ

mà không đi liền với số từ ở tục ngữ, ta thấy số từ kết hợp với động từ mà trước

động từ có phó từ chỉ thời gian, phó từ phủ định: Bảy mươi chưa đui chưa què, chớ khoe rằng tốt; Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới

Hoặc số từ đứng sau phó từ ở phần Thuyết: Phúc// chẳng hai, tai // chẳng một

Từ sự xuất hiện của số từ xuất hiện với các từ loại đứng trước và sau nó, chúng tôi rút ra được những nhận xét sau:

- Số từ trong tục ngữ có khả năng kết hợp với nhiều từ loại khác nhau Nó còn có thể kết hợp được với nhiều tiểu loại của cùng một từ loại, đó là kết hợp

được với 11 tiểu loại của danh từ

- Số từ kết hợp với các yếu tố khác (phần lớn là thực từ) có quan hệ ngữ

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

pháp, ngữ nghĩa khá rõ ràng, cụ thể, dễ

hiểu, dễ hình dung Đặc biệt, nhờ kết

hợp với số từ mà trong tục ngữ có hiện

tượng chuyển hoá từ loại:

* Danh từ chỉ đồ dùng, vật dụng

của nghề nông chuyển hoá thành danh

từ chỉ đơn vị tính toán, đo lường như:

chén (Thí một chén nước, phước chất

bằng non), bát (Một bát cơm cha bằng

ba bát cơm rể; Một bát cơm rang bằng

sàng cơm thổi), đọi (Một lời nói, một đọi

máu), gánh (Một miếng lộc thánh bằng

một gánh lộc trần), sàng (Đi một ngày

đàng, học một sàng khôn), giành, sọt

(Gái rở một giành, gái lành một sọt),

niêu, lọ (Giàu một lọ, khó một niêu), nồi

(Vét nồi ba mươi cũng đầy niêu mốt),

kho, nang (Một kho vàng bằng một

nang chữ), thưng, đấu (Một thưng cũng

vào một đấu), nong (Một nong tằm là

năm nong kén, một nong kén là chín

nong tơ), bồ (Nam mô một bồ dao găm)

* Động từ chỉ hoạt động tập hợp các

cá thể thành một chỉnh thể chuyển hoá

thành danh từ chỉ đơn vị mang ý nghĩa

tập hợp như: nắm (Mỗi người một nắm

thời đắm đò ông), nạm (Một nạm gió

bằng một bó chèo), bó, nén (Con giàu

một bó, con khó một nén), gói (Một

miếng khi đói bằng một gói khi no),

gánh (Một gánh vàng một nang chữ)

Như vậy, số từ có vai trò chuyển

hóa một danh từ chỉ vật thành danh từ

đơn vị hoặc chuyển hóa một động từ

thành danh từ đơn vị Sự chuyển hoá

trên cũng thể hiện được lối tư duy dân

gian chất phác, cụ thể mà biến hoá linh

hoạt của người Việt

Một điều thú vị nữa là trong tục

ngữ, để thể hiện ý nghĩa nhân lên về số

lượng, về mức độ, người ta không cần

đến các phó từ chỉ mức độ cao như rất, quá, lắm mà sử dụng sự kết hợp số từ với các danh từ chỉ đơn vị biểu trưng số nhiều Sự kết hợp như vậy đem đến những kiểu nói có vẻ phi lôgic về mặt toán học nhưng lại thể hiện một cách nhìn độc đáo về đối tượng (Một đêm nằm, một năm ở; Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ; Một kẻ đứng đàng cả làng nhắm mắt; Một ngôi sao, một ao nước) Mặt khác, số từ còn giữ một vai trò nữa là tạo khả năng kết hợp sáng tạo cho các danh từ khác, mà nhìn bề ngoài

có vẻ phi logic song lại hợp lý khi người nói hướng đến một nhận thức nào đó Ví dụ: - Một nạm gió bằng một bó chèo Trong thực tế, nạm không thể dùng để

đo gió vì nạm là danh từ đơn vị chỉ một lượng vật chất rời có thể nắm bằng bàn tay, và gió là không khí Chúng thuộc hai phạm trù khác hẳn và không ai có thể lấy tay để nhốt gió ở đây, với số từ một phía trước, câu tục ngữ đã kết hợp

được hai phạm trù ấy lại, đem đến một kinh nghiệm của nghề sông nước: thuyền bề gặp gió sẽ thuận lợi rất nhiều

so với sức người bỏ ra chèo lấy

với yếu tố khác thì làm cho các yếu tố

đó mang nghĩa mới khác với nghĩa vốn

có của nó và làm cho cả câu tục ngữ mang nghĩa gián tiếp để diễn đạt trọn vẹn một nội dung, dụng ý của người nói Lúc đó, số từ không còn để chỉ lượng hay thứ tự mà mang nghĩa biểu trưng

Ví dụ: - Một tiền gà, ba tiền thóc Khi số từ một kết hợp với tiền gà và

số từ ba kết hợp với tiền thóc tạo nên cấu trúc sóng đôi thì tiền gà, tiền thóc ở

Trang 5

Phan Thị Hà Cách dùng số từ trong tục ngữ, TR 13-20

đây không còn là danh từ chỉ tiền tệ

dùng để tính toán nữa mà đã chuyển

sang nghĩa khác Tiền gà: chi phí cho

việc chính; tiền thóc: chi phí cho việc

phụ Nghĩa của cả câu này là: chi phí

cho việc phụ tốn kém hơn cả việc chính

Lúc này số từ một và ba không phải chỉ

một số lượng cụ thể mà nó chỉ sự đối lập

giữa ít và nhiều

hình của số từ trong tục ngữ

Như chúng ta đã biết: trong một

câu tục ngữ, số từ có thể xuất hiện một

lượt, hai lượt hay hơn hai lượt và mỗi

câu ấy đều chứa đựng một nội dung ngữ

nghĩa nào đó Có những cách kết hợp

của số từ thể hiện được dụng ý của

người nói Sau đây là các dạng xuất

hiện với một số mô hình tiêu biểu:

(1) - Số từ xuất hiện một lượt: Thí

một chén nước, phước chất đầy non;

Trăm hay xoay vào lòng

(2) - Cùng một loại số từ xuất hiện

sóng đôi hay sóng ba: Đi một ngày

đàng, học một sàng khôn; Có tiền chán

vạn người hầu, có bấc có dầu chán vạn

kẻ khêu

(3)- Số từ tăng dần theo thứ tự,

trình tự: Nhất tội, nhì nợ; Nhất duyên,

nhì phận, tam phong thổ; Nhất nước,

nhì phân, tam cần, tứ giống

- Số từ tăng không theo thứ tự,

trình tự: Ba tháng biết lẫy, bảy tháng

biết bò, chín tháng lò dò biết đi; Một

miệng kín, chín mười miệng hở

(4)- Số từ giảm dần theo thứ tự,

trình tự: Hai thóc mới được một gạo;

Quan hai, lại một; Phúc chẳng hai, tai

chẳng một

- Số từ giảm không theo thứ tự, trình tự: Chín đụn chẳng coi, một nồi chẳng có; Trăm cái đấm không bằng một cái đạp

(5)- Số từ vừa tăng vừa giảm: Hai

vợ chồng son, đẻ một con thành bốn

ở dạng <1>, số từ xuất hiện thành cặp sóng đôi không phải với số từ có vỏ ngữ âm đồng nhất mà với các danh từ chỉ đơn vị (DTĐV)

Mô hình 1:

Theo dạng mô hình này, ta có các ví dụ:

- Một giọt máu đào hơn ao nước lã

- Một người biết lo bằng kho người hay làm

- Một cây mít bằng sào ruộng

- Một nghề thì sống, đống nghề thì chết

Trong các câu trên, Một biểu trưng cho số lượng ít nhưng lại được đặt ngang hàng với các từ chỉ đơn vị thuộc phạm trù biểu trưng cho số lượng nhiều: ao, kho, sào, đống cho nên,

điều mà người nói muốn nhấn mạnh rơi vào con số một (ít) / nhiều: một giọt /

ao (máu đào / nước lã) là đề cao quan

hệ cùng huyết thống; một người / kho người (biết lo / hay làm) là đề cao người biết lo liệu, biết tổ chức công việc làm

ăn, có nghĩa là đề cao giá trị của trí tuệ

ở dạng <2>, ta có cặp từ một và một luôn xuất hiện thành cặp sóng đôi Mô hình 2 a:

Hay:

Một A, một B

A một B, C một D Một A, DTĐV B

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

- Một ngôi sao, một ao nước

- Một nạm gió bằng một bó chèo

- Của một đồng, công một nén

- Sai một ly, đi một dặm

ở dạng <2b>, ta có cặp từ ba và ba

luôn xuất hiện thành cặp sóng đôi

Mô hình 2b:

Ba A, ba B

Hay:

A ba B, C ba D

Ví dụ:

- Ai giàu ba họ, ai khó ba đời

- Bạc ba quan tha hồ mở bát, cháo

ba đồng chê đắt không ăn

- Chó ba quanh mới nằm, người ba

năm mới nói

ở dạng <3>, ta bắt gặp kiểu cấu

trúc so sánh thứ bậc, có số từ tăng dần

theo mức độ cần thiết từ thấp đến cao

Mô hình 3:

Số từ xuất hiện tăng dần theo thứ

tự, trình tự phản ánh sự sắp xếp một

cách lôgich của người Việt: Nhất cận

thị, nhị cận giang; Nhất canh trì, nhị

canh viên, tam canh điền; Nhất mẹ, nhì

cha, thứ ba bà ngoại; Nhất nước, nhì

phân, tam cần, tứ giống Trong cấu trúc

so sánh này, cái quan trọng được nói

trước, được đặt lên hàng đầu và được

khẳng định ở số từ một Như vậy, điều

mà tác giả dân gian muốn nhấn mạnh

là yếu tố đứng sau con số một

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp số từ xuất hiện theo thứ tự, trình tự chỉ mang tính chất ước lệ, nghĩa là người sáng tác quan tâm đến vần vè nhiều hơn là thứ tự về mức độ “quan trọng” của đối tượng được liệt kê Ví dụ: Câu nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò thì thứ ba học trò chủ yếu ví học trò nghịch ngợm tinh quái, như ma quỷ chứ không phải trong dãy liệt kê đó, học trò

đứng sau ma và quỷ Hay câu: Nhất bò tái, nhì gái đương tơ cũng không có sự phân biệt về thứ tự Theo quan niệm của người nói thì thịt bò tái hay gái

đương tơ đều ngon lành, hấp dẫn nhưng một bên là cái “ngon” của cảm giác thích thú về sự ăn uống, còn một bên là cái “ngon” của cảm giác khoái trá về sự chơi bời Trong những trường hợp này,

sự xuất hiện của số từ không có ý nghĩa phân biệt về thứ tự, trình tự nhưng nó

đóng vai trò quan trọng “ kết dính” các

vế với nhau để diễn đạt trọn vẹn một nội dung nào đó

ở dạng <4> và dạng <5>, con số một xuất hiện thành cặp sóng đôi với nhiều

số từ chỉ lượng (n là số từ lớn hơn một)

Mô hình 4 a:

Một A n B

Ta bắt gặp dạng cấu trúc này trong các ví dụ:

- Một con sa bằng ba con đẻ

- Một lần ngại tốn, bốn lần chẳng xong

- Một nong tằm là năm nong kén, một nong kén là chín nong tơ

- Một con cháu, ngã sáu người dưng

- Một lời nói dối, sám hối bảy ngày Nhất A, nhì B

Thứ nhất A, thứ nhì B

Trang 7

Phan Thị Hà Cách dùng số từ trong tục ngữ, TR 13-20

- Một miệng kín, chín mười miệng

hở

- Một người cười, mười người khóc

- Một ngày vãi chài bằng mười hai

ngày phơi lưới

- Một tiếng trống gióng nghìn quân

Cấu trúc cân đối Một A n B tạo cho

cặp số từ mang ý nghĩa biểu trưng - ý

nghĩa đối lập ít và nhiều, chứ không

đồng nhất với ý nghĩa chỉ lượng của

chúng Với những câu này, ý nghĩa

nhấn mạnh rơi vào vế thứ nhất, hay nói

một cách khác là nói đến vai trò, tầm

quan trọng của vế thứ nhất

Đặc biệt việc dùng số từ trong tục

ngữ đưa lại nhiều điều thú vị, độc đáo

về cách so sánh của người Việt

Mô hình 4b:

Một A bằng một B

Ta có các ví dụ:

- Một miếng khi đói bằng một gói

khi no

- Một miếng giữa làng bằng một

sàng xó bếp

- Một miếng lộc thánh bằng một

gánh lộc trần

Trong những trường hợp trên, thoạt

nhìn có vẻ như A bằng B khi A, B đều

có số từ một kết hợp đằng trước và có

chữ bằng ở giữa hai vế Nhưng ở đây, B

là danh từ chỉ đơn vị: gói, sàng, gánh

hơn hẳn A về lượng Như vậy, nếu xét

theo cái nhìn của toán học thì một B

phải lớn hơn một A Song tục ngữ lại

đặt chúng ngang hàng với nhau và điều

mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ,

gửi gắm chính nằm ở vế một A Do đó,

có thể nói cái bằng trong tục ngữ là cái

bằng của nghệ thuật ngoa dụ, nói bằng

mà nhiều khi không bằng là vậy

Cũng thuộc nhóm so sánh bằng nhưng thực chất tác giả dân gian lại khẳng định vai trò của vế có một đứng

đầu câu

Mô hình 4c:

Một A bằng ba B

ở dạng kết cấu này, vế muốn nhấn mạnh thường nằm ở một A, còn bằng ở

đây không hẳn là sự ngang bằng về số lượng, mà nhiều khi đó là sự ngang bằng về tính chất như:

Về lợi ích: Một năm chăn tằm bằng

ba năm làm ruộng

Về giá trị: Một sào nhà là ba sào

đồng; Một mẹ già bằng ba đứa ở; Một người siêng bằng ba người nhác

Về sự vất vả, tốn kém: Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy

Về sức lực: Một con sa bằng ba con

đẻ

Với cấu trúc so sánh trên, các số từ không còn là một con số xác định nữa

mà là con số biểu trưng hàm nghĩa chỉ

số nhiều và điều được nhấn mạnh lại rơi vào vế có con số một

Khi tục ngữ nói đến cái bằng thì nó cũng nói đến cái không bằng:

Mô hình 4d:

Một A không bằng một B

Ví dụ:

- Lợn đói một năm không bằng tằm

đói một bữa

- Một kho vàng không bằng một nang chữ

Trong thực tế, A lớn hơn B (năm lớn hơn bữa; kho lớn hơn nong) Nếu theo cái nhìn toán học thì một A lớn hơn một

Trang 8

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

B Còn tục ngữ cho ngược lại một A nhỏ

hơn một B để khẳng định vế một B

Mô hình 4 đ:

Ba A không bằng một B

Ta có các ví dụ:

- Chăn lợn ba năm không bằng

chăn tằm một lứa

- Ba tháng trông cây chẳng bằng

một ngày trông quả

- Ba năm ở với người đần, chẳng

bằng lúc ở gần người khôn

Mô hình 4e:

Trăm A không bằng một B

Ví dụ:

- Trăm nghe không bằng một thấy

- Trăm ông chú không bằng một mụ

bà cô

- Trăm đom đóm chẳng bằng một bó

đuốc

- Trăm ông sao chẳng bằng một ông

trăng

- Trăm cái đấm không bằng một cái

đạp

Với hai mô hình trên, mặc dù vế

một có số từ chỉ số lượng lớn hơn vế hai

thậm chí lớn hơn rất nhiều là trăm

nhưng vế hai vẫn được nhấn mạnh

Như vậy, kinh nghiệm được đúc rút dồn

ở số từ có con số thấp nhất là một

Ví dụ:

- Trăm đom đóm chẳng bằng một bó

đuốc > ý nói chất lượng quý hơn số

lượng

- Trăm nghe không bằng một thấy

> ý nói chứng kiến tận mắt, biết chắc

chắn, rõ ràng, cụ thể hơn nghe qua

nhiều người khác nói

Như vậy, với mô hình trên thì ý

nghĩa mà câu tục ngữ muốn gửi đến

người nghe lại nhấn mạnh, lại rơi vào

vế thứ hai

Dạng (5) có số từ được sử dụng thành cặp để biểu thị ý nghĩa vừa tăng vừa giảm:

Mô hình 5 Hai A một B bốn C Dạng mô hình này xuất hiện rất hạn chế Trong kho tàng tục ngữ, chúng tôi chỉ gặp một ví dụ: Hai vợ chồng son,

đẻ một con thành bốn

Tóm lại, không bị hạn chế về vị trí

đứng, số từ trong tục ngữ có thể kết hợp linh hoạt với nhiều từ loại, tiểu từ loại khác nhau (chủ yếu là thực từ) đã đem

đến nhiều mô hình cấu trúc sóng đôi cân đối, hài hoà Đặc biệt, chúng còn tạo ra nhiều kiểu kết hợp sáng tạo, mới

mẻ làm "vừa lòng" người tiếp nhận Đây cũng là một trong những truyền thống Ngữ văn tiêu biểu của người Việt: ưa sự

đối xứng, nhịp nhàng, thích nói cụ thể bằng những con số Những điều tục ngữ muốn khẳng định, nhấn mạnh hay gửi gắm thường rơi vào số từ chỉ lượng thấp, tập trung nhất vào con số Một Cùng với các yếu tố khác, số từ là phương tiện góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ biểu trưng của tục ngữ Muốn hiểu đúng, hiểu sâu những phát ngôn tục ngữ ấy, người nghe cần phải có

sự nhạy cảm với hiện thực khách quan, với kinh nghiệm thực tế

Để biểu thị sự so sánh giữa hai vế, bên cạnh việc sử dụng các từ so sánh quen thuộc như bằng, chẳng bằng, hơn, tục ngữ còn sử dụng các con số, các từ chỉ đơn vị, các danh từ chỉ vật chuyển loại thành danh từ đơn vị là một nét độc

đáo mà chỉ riêng tục ngữ Việt mới có

đặc trưng này

Trang 9

Phan Thị Hà Cách dùng số từ trong tục ngữ, TR 13-20

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Thị An - Nguyễn Thị Huế, Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001

[2] Nguyễn Văn Chiến, Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 2001

[3] Phan Thị Đào, Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, NXB Thuận Hoá, Huế, 2001 [4] Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,

2001

[5] Nguyễn Thái Hoà, Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997

[6] Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 1997 [8] Đỗ Thị Kim Liên, Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa - ngữ dụng, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006

[9] Lê Trường Phát, Thi pháp văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001

Summary

The usage of numbers in Vietnamese proverbs

In this article, we studied the usage of numbers in Vietnamese proverbs reflected in three main issues: place of members in sentences: they can stand before or after the nouns; the numbers can combine with nouns, verbs, adjectives and pronouns; the members with stand before nouns, verbs and adjectives can be classified into 5 typical models

(a) Cao học 14, chuyên ngành lý luận ngôn ngữ, trường đại học Vinh.

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm