1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Khảo sát hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa của động từ tiếng Việt" pps

9 416 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 252,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 khảo sát hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt trên tư liệu Từ điển tiếng Việt, Từ điển thuật ngữ h

Trang 1

Báo cáo nghiên cứu khoa học:

"Khảo sát hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa của động

từ tiếng Việt"

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

khảo sát hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt

(trên tư liệu Từ điển tiếng Việt, Từ điển thuật ngữ hoá học phổ thông

và Từ điển sinh học phổ thông)

Ngô Phi Hùng (a)

Tóm tắt Bài viết này khảo sát sự chuyển đổi chức năng - nghĩa của động từ dựa

trên tư liệu là Từ điển tiếng Việt, Từ điển thuật ngữ hoá học phổ thông và Từ điển sinh

học phổ thông Bài viết chỉ ra các đặc điểm định lượng và định tính về sự chuyển nghĩa

từ nghĩa thông thường sang nghĩa thuật ngữ hoá học, sinh học của động từ tiếng Việt

1 Ngôn ngữ là hệ thống mở, đặc

biệt là hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa

Cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn

ngữ cũng phát triển biến đổi theo Khi

nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ,

người ta có thể xét ngôn ngữ ở nhiều

phương diện, như: con đường vay mượn,

con đường cấu tạo từ, hay con đường

phái sinh ngữ nghĩa,

Do số lượng các từ trong một ngôn

ngữ không thể tăng lên vô hạn tương

ứng với các nội dung cần biểu đạt nên

việc sử dụng các đơn vị có sẵn của hệ

thống để biểu thị cái vô hạn sinh động

trong thực tế khách quan đã trở thành

một phương thức hữu hiệu của ngôn

ngữ, dẫn đến cùng một hình thức ngữ

âm có thể dùng để biểu đạt nhiều nội

dung khác nhau Hơn nữa một ngôn

ngữ phát triển cũng là ngôn ngữ đa

dạng về phong cách chức năng và cách

thức diễn đạt, kéo theo đó là sự

chuyển đổi nghĩa, từ phạm vi chức năng

- nghĩa này qua phạm vi chức năng -

nghĩa khác Đây không chỉ là con đường

làm giàu vốn từ vựng - ngữ nghĩa một

cách tiết kiệm (hệ quả là làm cho ngôn

ngữ phát triển theo chiều sâu, tạo ra

các hiện tượng ngữ nghĩa như đa nghĩa, chuyển loại, ) mà còn là con đường làm cho hệ thống ngữ nghĩa từ vựng phát triển đa dạng về chức năng trong phạm

vi giao tiếp và trong lĩnh vực khoa học Cho đến nay, việc nghiên cứu sự chuyển đổi chức năng - nghĩa của từ ngữ trong Việt ngữ học chưa có nhiều, nhất là hướng nghiên cứu mới: xem xét

sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ phạm vi nghĩa thông thường sang nghĩa thuật ngữ và ngược lại Bài viết của chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu các thuật ngữ là động từ vốn là những từ thường nay kiêm thêm chức năng thuật ngữ hoá học và sinh học

Cũng như các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, động từ là một trong các từ loại cơ bản, có số lượng lớn sau danh từ

Do căn cứ vào những tiêu chí khác nhau nên từ loại động từ trong tiếng Việt

được các tác giả phân loại không hoàn toàn thống nhất Tuy nhiên, ở đây do tính chất của bài viết nên chúng tôi không bàn về vấn đề và kết quả phân chia động từ mà đi sâu tìm hiểu sự kiêm chức năng - nghĩa của động từ, do vậy chúng tôi không xét các động từ

Nhận bài ngày 24/11/2008 Sửa chữa xong 07/12/2008.

Trang 3

Ngô Phi Hùng .chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt, TR 27-34

tình thái, động từ chỉ quan hệ mang ý

nghĩa trừu tượng, mà chỉ xét những

động từ gắn với phạm trù vận động Ví

dụ, từ sao chép theo nghĩa thông thường

là “Chép lại đúng y như bản gốc Văn

bản sao chép [7, tr.848] Theo nghĩa

thuật ngữ sinh học, sao chép là “Cơ chế

tạo bản sao chính xác vật liệu di

truyền…” [6, tr.519]

Như vậy, cùng một chức năng định

danh nhưng nghĩa của từ được phân

biệt bởi nhiều dấu hiệu, phạm vi, thuộc

tính khác nhau Khi một đơn vị từ vựng

thông thường trở thành thuật ngữ,

ngoại diên của nó thu hẹp lại và nội

hàm của nó được mở rộng Trong đời

thường, từ cung cấp thông tin để người

ta hiểu không cần đạt đến độ chính xác

cao, còn trong khoa học từ cung cấp

thông tin một cách chính xác Tuy

nhiên độ chính xác này còn phụ thuộc

vào trình độ của con người ở từng thời

điểm nhất định

Việc những từ thông thường được

dùng với chức năng thuật ngữ diễn ra

khá phổ biến trong các lĩnh vực khoa

học Chúng tôi xin lần lượt phân tích

một số biểu hiện này qua hai lĩnh vực

hoá học và sinh học với các kết quả sau:

2 Kết quả phân tích định lượng

Chúng tôi đã thống kê các thuật

ngữ (từ đơn tiết và từ đa tiết) vốn là

những từ thường nay kiêm thêm chức

năng thuật ngữ trong Từ điển hoá học

phổ thông [5] và Từ điển sinh học phổ

thông [6] với kết quả như sau: Trong

374 thuật ngữ hoá học, có 42 thuật ngữ

là động từ (chiếm 11,3%), trong đó có 9

thuật ngữ là động từ đơn tiết (chiếm

21,4%), 33 thuật ngữ là động từ đa tiết

(chiếm 78,6%) Trong 1125 thuật ngữ sinh học, có 92 thuật ngữ là động từ (chiếm 8,2%), trong đó có 17 thuật ngữ

là động từ đơn tiết (chiếm 18,5%), 75 thuật ngữ là động từ đa tiết (chiếm 81,5%)

Ví dụ 1:

Trùng hợp (đg) Theo nghĩa thông thường, trùng hợp là:

1 Xảy ra trùng thời gian

Ví dụ: - Làm sao có thể giải thích các sự kiện đã trùng hợp ngẫu nhiên

về số phận bi thảm của các tổng thống

Mỹ được bầu lên trong những năm có số kết thúc bằng số 0? Các tổng thống Linconln (1860), Garfield (1880), McKinley (1900), Kennedy (1960) đều bị giết, Harrison (1840) chết vì viêm phổi, Roosevelt (1940) chết vì viêm tuỷ xám Harding (1920) bị nhồi máu nặng Tổng thống Reagan bị mưu sát vào năm

1980

Trong năm 2000 ông Bush bước vào Nhà Trắng Số phận đã bảo vệ bản thân ông, nhưng chính trong thời gian ông cầm quyền, tại Mỹ đã xảy ra vụ khủng bố ngày 11/9 khủng khiếp nhất trong lịch sử

[http://www.muctim.com.vn/Vietnam/Khoa-hoc-giaoduc/Khoa-hoc/2006/5-4/5078/]

2 Giống nhau, phù hợp với nhau Vd: Quan điểm của hai bên trùng hợp nhau.”

Theo nghĩa thuật ngữ hoá học, trùng hợp là “Sự tạo thành hợp chất polime có PTK lớn hơn từ quá trình cộng hợp liên tiếp nhiều phân tử nhỏ monome (cùng loại hay khác loại) và loại ra một số phân tử nhỏ khác (thường

là nước)” [5, tr.296]

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

Ví dụ 2:

Phát quang (đg)

Theo nghĩa thông thường, phát

quang là “Phát sạch cây cối để làm cho

sáng sủa, không còn bị che chắn ánh

sáng mặt trời” [7, tr.768,769]

Để ngăn ngừa bệnh sốt xuất huyết,

rất mong mọi người dân, hộ gia đình

hãy thực hiện tốt khẩu hiệu và hành

động: “Không có lăng quăng, không có

bệnh sốt xuất huyết ”bằng những việc

làm thiết thực như tích cực phát

quang cây cối xung quanh nhà, dọc các

tuyến đường giao thông nông thôn Tích

cực tham gia chiến dịch diệt lăng quăng

là trách nhiệm của toàn xã hội nhằm

không để dịch bệnh SXH có điều kiện

lây lan trong cộng đồng dân cư

[http://www.hocmon.hochiminhcity.gov

vn]

Theo nghĩa thuật ngữ hoá học, phát

quang là “sự phát ra ánh sáng mà

nguyên nhân không phải do tăng nhiệt

độ Thường nguyên tử sau khi bị kích

thích phát ra photon trong quá trình trở

về trạng thái cơ bản, tuỳ theo nguồn

kích thích, có tên gọi khác nhau: nếu

nguồn là photon thì gọi là phát quang

ánh sáng, là electron-phát quang điện

tử, là phản ứng hoá học như oxi hoá

chậm photpho- phát quang hoá học; nếu

cơ thể sống như đom đóm PQ gọi là

phát quang sinh học Trường hợp phát

quang tồn tại lâu dài gọi là phát quang

sinh học Trường hợp phát quang tồn

tại lâu dài gọi là lân quang, nếu không

là huỳnh quang” [5, tr.233]

Lân quang là một dạng phát quang,

trong đó các phân tử của chất lân quang

hấp thụ ánh sáng, chuyển hoá năng lượng

của các photon thành năng lượng của các electron ở một số trạng thái lượng tử có mức năng lượng cao nhưng bền trong phân tử để sau đó electron chậm chạp rơi về trạng thái lượng tử ở mức năng lượng thấp hơn, và giải phóng một phần năng lượng trở lại ở dạng các photon

[http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2n_q uang]

Ví dụ 3:

Đột biến (đg) Theo nghĩa thông thường, đột biến

là “Biến đổi đột ngột, thường bằng những bước nhảy vọt, làm cho sự vật chuyển hẳn từ trạng thái này sang trạng thái khác” [7, tr.347]

Giá dầu thô trên thị trường Mỹ ngày 22-9 đã tăng đột biến, vượt ngưỡng 120 USD/thùng Tại thị trường giao dịch hàng hoá New York Mercantile Exchange, giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 10-2008 có lúc tăng vọt 25,45 USD, lên 130 USD/thùng

http://vietbao.vn/The-gioi/Gia-dau-tho-dot-bien-len-tren-120USDthung/

Theo nghĩa thuật ngữ sinh học, đột biến là “Những biến đổi trong chất di truyền, xảy ra ở cấp độ phân tử (ở AND) hoặc cấp độ tế bào (ở nhiễm sắc thể) Do các tia phóng xạ, tia tử ngoại, sốc nhiệt, các loại hoá chất hoặc những rối loạn trong quá trình sinh lí, sinh hoá của tế bào Là những biến đổi gián đoạn, nhảy vọt của tính di truyền, ảnh hưởng đến các tính trạng của sinh vật, cung cấp nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá, trên cơ sở sao chép của gen Theo đặc điểm phát sinh có đột biến tự nhiên, đột biến nhân tạo Theo

đặc điểm tính trạng có đột biến hình

Trang 5

Ngô Phi Hùng .chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt, TR 27-34

thái, đột biến sinh lí, đột biến sinh hoá”

[6, tr.198]

Đột biến NST và đột biến gen gây

ra các bệnh di truyền nguy hiểm và các

dị tật bẩm sinh ở người Người ta có thể

nhận biết các bệnh nhân Đao, Tớcnơ

qua hình thái Các dị tật bẩm sinh như:

mất sọ não, khe hở môi - hàm, bàn tay

và bàn chân dị dạng cũng khá phổ biến

ở người Các bệnh nhân di truyền và dị

tật bẩm sinh ở người do ảnh hưởng của

các tác nhân vật lí và hoá học trong tự

nhiên, do ô nhiễm môi trường hoặc do

rối loạn trao đổi chất nội bào [Sinh học

9, 2005, tr.85]

Ví dụ 4:

Hấp thu (đg)

Theo nghĩa thông thường, hấp thu là

“Thu nhận và chịu ảnh hưởng sâu sắc

“nói về tư tưởng, văn hoá) Hấp thu

những tư tưởng tiến bộ Hấp thu một nền

giáo dục mới [7, tr.429]

Theo nghĩa thuật ngữ sinh học, hấp

thu là “Các chất thấm qua màng vào

trong tế bào ở động vật nguyên sinh,

hấp thu được thực hiện nhờ quá trình

ẩm bào và thực bào (bản chất ẩm bào và

thực bào là sự “nuốt” các chất cao phân

tử) ở động vật bậc cao qua hệ thống

phức tạp trong ống tiêu hoá làm nhiệm

vụ hấp thu Hấp thu các chất có thể

thực hiện nhờ quá trình khuếch tán,

thẩm thấu hoặc nhờ sự vận chuyển tích

cực các chất qua màng tế bào ngược

gradi - en nồng độ và điện hoá Hấp thu

ở người và động vật có xương sống có thể xảy ra ở tất cả các đoạn của ống tiêu hoá nhờ các tế bào lông nhung ở vách ruột” [6, tr.253]

Sữa là loại thức ăn giàu canxi nhất

và dễ hấp thu nhất nên trẻ không thiếu nguồn cung cấp canxi, trừ những trẻ bú

mẹ mà mẹ hay ăn uống kiêng khem làm giảm chất lượng của nguồn sữa [Báo

điện tử Tổ Quốc

Từ kết quả khảo sát, chúng tôi đưa

ra bảng tổng hợp dưới đây để so sánh tỉ

lệ thuật ngữ hoá từ thường trong động

từ của thuật ngữ hoá học, sinh học Qua kết quả khảo sát, chúng ta thấy khi một từ thông thường trở thành thuật ngữ cũng có nghĩa là cấp cho từ

đó một nghĩa mới nhằm biểu thị một khái niệm hoặc một sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn nào đó Nghĩa thông thường được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày, còn nghĩa thuật ngữ chỉ được dùng trong một lĩnh vực khoa học nhất

định, lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của một ngành khoa học, là phương tiện giao tiếp và tri nhận của các nhà khoa học cùng lĩnh vực Khi một từ thông thường trở thành thuật ngữ thì ý nghĩa của những từ này bị hạn chế và mang màu sắc chuyên môn để có thể diễn đạt chính xác một khái niệm hoặc một đối tượng khoa học mà chúng biểu thị

Các loại từ ST

1 TN Hoá học Động từ (11,3%) 42 9 (21,4%) 33 (78,6%)

2 TN Sinh học Động từ 92 (8,2%) 17 (18,5%) 75 (81,5%)

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

3 Kết quả phân tích định tính

Kết quả khảo sát của chúng tôi cho

thấy sự chuyển đổi chức năng - nghĩa từ

nghĩa thông thường sang nghĩa thuật

ngữ, khá đa dạng Không phải với các

từ có sự chuyển nghĩa kiểu này từ nào

cũng chỉ có một nghĩa thuật ngữ (như

dẫn trên) mà từ có thể có nhiều nghĩa

thuật ngữ Đáng lưu ý là các hiện

tượng:

3.1 Trường hợp cùng một lĩnh

vực chuyên môn, thuật ngữ có nhiều

chức năng - nghĩa khác nhau

- Cùng lĩnh vực hoá học, thuật ngữ

kiêm hai nghĩa khác nhau:

Ví dụ 1:

Ngưng tụ (đg)

Với nghĩa thứ nhất, ngưng tụ là “Sự

chuyển một chất từ trạng thái khí hoặc

hơi sang trạng thái lỏng hoặc rắn” [5,

tr.207]

Sương mù xuất hiện khi hơi nước

ngưng tụ trên một bề mặt lạnh và sau đó

hình thành các giọt nước tí hon do sức

căng bề mặt của nước Các phân tử nước

hút nhau tạo thành hình cầu Tuy nhiên,

nước cũng hút thuỷ tinh và nếu lực hút

này được tăng cường, nó có thể thắng lực

căng bề mặt Các loại màng phủ dioxide

titanium chống sương mù trước đây lợi

dụng đặc tính trên để tăng lực hút giữa

nước và thuỷ tinh, thắng sức căng bề mặt

để nước lan thành những màng mỏng

trong suốt

[http://vietnamnet.vn/khoahoc/quocte/2

005/08/484888/]

Với nghĩa thứ hai, ngưng tụ là

“Phản ứng tạo thành hợp chất từ các phân tử có PTK nhỏ hơn, đồng thời loại

ra phân tử đơn giản (H2O, NH3, HCl…)[5, tr.207]

- Cùng lĩnh vực sinh học, thuật ngữ kiêm hai nghĩa khác nhau:

Ví dụ 2:

Lột xác (đg) Với nghĩa thứ nhất, lột xác là “Lột theo chu kì lớp vỏ cứng cuticun ở động vật chân đốt, đặc biệt là côn trùng, giáp xác để con vật lớn lên Một số chất cần thiết trong lớp vỏ cũ được hoà tan và giữ lại Sau đó lớp vỏ nứt theo đường dọc để lộ ra bên trong một lớp vỏ cuticun mới, mềm Trong thời gian lột xác, con vật hút khí và nước vào cơ thể

và lớn lên nên khi lớp vỏ mới cứng lại thì kích thước con vật lớn nhất Lột xác ở tôm, cua, côn trùng do hoc-mon ecdyson điều khiển” [6, tr.358]

Với nghĩa thứ hai, lột xác là “Lột da theo chu kì của lớp biểu bì ngoài ở bò sát (trừ cá sấu) Rắn lột toàn bộ cơ thể, thằn lằn lột thành nhiều mảnh nhỏ Quá trình tương tự cũng xảy ra liên tục

ở thú kể cả người dưới dạng lớp vảy rất nhỏ của biểu bì bị bong ra” [6, tr.358] 3.2 Trường hợp một đơn vị ngôn ngữ kiêm những chức năng - nghĩa khác nhau trong những phạm vi chuyên môn khác nhau

Ví dụ 1:

ức chế (đg) Thuật ngữ này xuất hiện trong lĩnh

Trang 7

Ngô Phi Hùng .chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt, TR 27-34 vực hoá học và sinh học, ở mỗi lĩnh vực

thuật ngữ mang những chức năng -

nghĩa khác nhau

Trong lĩnh vực hoá học, ức chế là “Sự

làm giảm tốc độ của một phản ứng có

xúc tác hoặc hạn chế quá trình ăn mòn

bằng những chất gọi là chất ức chế

Trong các phản ứng sinh hoá mà chất

xúc tác là enzim, chất ức chế là chất có

khả năng liên kết với phần hoạt động

của enzim làm cho enzim mất hoạt tính

Nhiều chất độc cũng tác dụng theo cơ

chế này” [5, 298]

Trong lĩnh vực sinh học, ức chế là

“Kiềm chế các xung động thần kinh

Làm giảm hoặc làm ngừng hoàn toàn

hoạt tính của cơ quan phản ứng bằng

cách Ví dụ: ức chế phản xạ co trương

lực các cơ đối kháng trong lúc cơ xương

bị co Cơ chế này là do synap kiểm soát

hoạt động của hệ thần kinh trung ương

ức chế nội gen là sự phục hồi chức năng

do đột biến thứ hai xảy ra trong cùng

một gen với đột biến thứ nhất ức chế

tiếp xúc là việc ngừng tăng trưởng của

tế bào theo bề mặt của thuỷ tinh hay

plastic của dụng cụ nuôi cấy khi một lớp

màng đơn các tế bào đã được tạo ra tiếp

xúc với lớp bề mặt đó ức chế tương hỗ

là hoạt động của gen lấn át ngăn chặn

biểu hiện của gen khác (gen khuất)” [6,

tr.615, 616]

Ví dụ 2:

Lưỡng tính (đg)

Trong lĩnh vực hoá học: lưỡng

tính là “Nói về những hợp chất hay

ion vừa thể hiện cả tính axit, cả tính

bazơ” [5, tr.186]

Trong lĩnh vực sinh học: lưỡng tính là “Những sinh vật có cả cơ quan sinh dục đực và cơ quan sinh dục cái trên cùng cơ thể Hoa lưỡng tính là hoa có cả nhị và nhuỵ, giun đất trên cơ thể có cả 2 cơ quan sinh dục” [6, tr.371

Ví dụ 3:

Thẩm thấu (đg) Trong lĩnh vực hoá học, thẩm thấu

là “Sự khuếch tán của dung môi qua một màng bán thấm ngăn cách hai dung dịch có nồng độ khác nhau ” [5, tr.281]

Mặt nạ oxy giúp tăng khả năng thẩm thấu của các tế bào nuôi dưỡng

da, giúp bề mặt da sáng mịn, se khít lỗ chân lông và kích thích tế bào nuôi dưỡng da phát triển

[http://tim.vietbao.vn/thẩm_thấu/2/] Trong lĩnh vực vật lí, thẩm thấu là

“Hiện tượng khuếch tán của một chất (thường là dung môi) qua một màng bán thấm ngăn cách dung môi nguyên chất với dung dịch, hoặc ngăn cách hai dung dịch có nồng độ khác nhau Màng này chỉ cho dung môi thấm qua” [3, tr.168]

Laser giúp tăng dòng máu ở các phần được chiếu, kích thích sinh hồng cầu ở tuỷ sống, tăng độ thẩm thấu ở thành mạch Những tác dụng này có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cắt cơn nghiện bằng châm cứu và phục hồi sức khoẻ của người bệnh

[http://tim.vietbao.vn/thẩm_thấu/2/] Trong lĩnh vực sinh học, thẩm thấu

là “Sự thấm của nước qua màng bán

Trang 8

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 thấm từ một dung dịch có nồng độ thấp

sang dung dịch có nồng độ cao hơn, cho

đến khi nồng độ hai bên bằng nhau Có

vai trò quan trọng trong vận động nước

của cơ thể sinh vật” [6, tr.560]

Chất xơ có khả năng thẩm thấu

nước, kích thích nhu động ruột non, ruột

già, kích thích tiêu hoá nên chống táo bón

hiệu quả Nó còn có khả năng chống béo

phì, ngừa ung thư và rất tốt cho bệnh nhân

đái tháo đường

[http://tim.vietbao.vn/thẩm_thấu/2/]

4 Kết quả khảo sát trên cho thấy

quá trình thuật ngữ hoá từ thường là

một quá trình hiện thực trong tiếng

Việt ở đây bài viết chỉ đề cập đến động

từ nhưng chúng ta cũng thấy sự chuyển

chức năng - nghĩa diễn ra khá phổ biến

Nếu như nghĩa thông thường của từ

phản ánh những đặc điểm của sự vật,

đủ để phân biệt những đối tượng cùng

loại được khái quát trong ý nghĩa đó với

những đối tượng khác thì nghĩa thuật

ngữ lại phản ánh những thuộc tính bản

chất của sự vật, hiện tượng mang tính

chuyên môn khoa học Vấn đề khảo sát trên cho thấy cần nhìn hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong từ vựng với một phạm vi rộng hơn và không nên quá đối lập các lớp từ khi xét về chức năng Các ngành khoa học luôn tác

động mạnh mẽ tới đời sống xã hội và có

ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, vì vậy chuyển chức năng - nghĩa của từ là một tất yếu và sẽ có nhiều thuật ngữ được dùng trong các ngành khoa học khác nhau

Nghĩa của từ trong Từ điển tiếng Việt [7] chủ yếu được giải thích nghiêng

về hướng nghĩa thông thường, cách giải thích này phù hợp với số đông người sử dụng, nhưng đối với những người muốn tra cứu sâu thì chưa thể hài lòng với cách giải thích trên Để khắc phục tình hình đó, theo chúng tôi Từ điển tiếng Việt [7] nên đưa thêm nội dung giải thích nghĩa thuật ngữ bên cạnh nghĩa thông thường để phản đúng các nội dung nghĩa của từ và như thế sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập, nghiên cứu của người sử dụng

Tài liệu tham khảo

[1] Lê Thị Lan Anh, Về hiện tượng chuyển đổi chức năng - nghĩa trong danh từ tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ), Ngôn ngữ & Đời sống, số 6, 2007, tr 12-17

[2] Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, tập I, NXB GD, Hà Nội, 1999

[3] Dương Trọng Bái - Vũ Thanh Khiết, Từ điển vật lí phổ thông, NXBGD, Hà Nội,

2004

[4] Lê Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB GD, Hà Nội, 1999

[5] Nguyễn Thạc Cát (chủ biên), Từ điển hoá học phổ thông, NXBGD, Hà Nội, 2002

Trang 9

Ngô Phi Hùng .chức năng - nghĩa của động từ tiếng việt, TR 27-34

[6] Huỳnh Thị Dung - Nguyễn Vũ, Từ điển sinh học phổ thông, NXB Từ điển Bách Khoa

Hà Nội, 2005

[7] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2006

[8] Lê Quang Thiêm, Ngữ nghĩa học, NXB GD, 2008

SUMMARY

Investigating the phenomenon of Functional

transference - the meaning of Vietnamese verbs

(Basing on Vietnamese dictionary, general chemictry dictonary and general biology

dictionary) This writing investigated the functional transference - the meaning of verbs basing on Vietnamese dictionary, general chemistry dictionary and general biology dictionary It shows the quality and quantity features of the transference of meaning from general meanings to chemistry and biology ones of Vietnamese verbs

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w