1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " "Thánh Tông di thảo" nhìn từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam và từ đặc điểm truyện truyền kỳ" ppt

7 946 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 153,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đây ta hiểu rõ thêm giá trị của các truyện đúng với đặc trưng thể loại của nó và hiểu thêm mối quan hệ giữa hai nền văn chương của văn học dân tộc được thể hiện trong một tác phẩm.. T

Trang 1

Báo cáo nghiên cứu

khoa học:

"Thánh Tông di

thảo" nhìn từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam

và từ đặc điểm

truyện truyền kỳ"

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

GIAN VIệT NAM Và Từ ĐặC ĐIểM TRUYệN TRUYềN Kỳ

Vũ Thị Phương Thanh (a)

Tóm tắt Bài viết nghiên cứu Thánh Tông di thảo theo hai hệ quy chiếu của văn chương dân gian và của văn chương bác học Từ đây ta hiểu rõ thêm giá trị của các truyện đúng với đặc trưng thể loại của nó và hiểu thêm mối quan hệ giữa hai nền văn chương của văn học dân tộc được thể hiện trong một tác phẩm

hánh Tông di thảo [8] là tập văn

xuôi chữ Hán gồm 19 truyện và

phụ lục (nguyên tác đề là phụ

chép)Truyện con tằm vàng Phụ lục này

là văn bản ngắn nhất trong tập (dịch ra

tiếng Việt chỉ một trang) nhưng ý nghĩa

khá hoàn chỉnh, chúng tôi xem như một

truyện, như vậy có thể nói Thánh Tông

di thảo gồm 20 truyện

Các nhà nghiên cứu cho biết văn

bản Thánh Tông di thảo rất phức tạp

Có những danh xưng cho thấy nhiều

truyện được viết từ rất sớm, bên cạnh

đó lại có những địa danh, học vị đến thế

kỷ XIX mới có Liên quan đến vấn đề

văn bản là vấn đề tác giả Có những

truyện khẳng định được do Lê Thánh

Tông viết, lại có những truyện có thể do

người khác viết hoặc sửa chữa đáng kể

Và cho đến nay người ta cũng chưa biết

tác giả của những lời bình cuối truyện -

Sơn Nam Thúc - tên thật là gì Bài viết

này không bàn tiếp về những vấn đề

trên Chúng tôi sử dụng văn bản do

Nguyễn Bích Ngô dịch, Nguyễn Văn Tú

- Đỗ Ngọc Toại hiệu đính, Nhà xuất bản

Văn hoá ấn hành năm 1963

Các nhà nghiên cứu văn học nước

ngoài đã nhận thấy đặc điểm phổ quát

của các tác phẩm văn xuôi ra đời ở thời

kỳ đầu, các nền văn học trên thế giới

đều gắn bó chặt chẽ với văn học dân

gian và sử ký [6] ở Việt Nam, có nhà

nghiên cứu cũng nhận thấy tình hình

tương tự ở Thánh Tông di thảo: “Xét nguồn gốc thì người viết hoặc dựa vào truyện dân gian hoặc dựa vào những

sự kiện lịch sử có liên quan tới thời kháng chiến chống Minh và Lê Thánh Tông” [3]

Giới nghiên cứu văn học ngày càng nhận rõ vai trò của thể loại trong đời sống văn học, nói như M.M Bakhtin, thể loại là “nhân vật chính của lịch sử văn học” Bởi vậy nghiên cứu tác phẩm

từ đặc trưng thể loại là phương hướng nghiên cứu hiệu quả Về Thánh Tông di thảo, dễ dàng nhận thấy sự không thuần nhất về phương diện thể loại:

“xét về tính chất của loại hình thì có truyền kỳ, ngụ ngôn, tạp ký”[3]

Tóm lại, việc nghiên cứu tác phẩm này từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam và từ đặc điểm của truyện truyền kỳ là có cơ sở và thích hợp với một tác phẩm ra đời sớm và có những phẩm chất như Thánh Tông di thảo Trước hết, chúng ta hãy nhìn nhận các truyện trong Thánh Tông di thảo từ truyền thống của truyện dân gian Việt Nam mà trực tiếp nhất là truyền thống của truyện cổ tích thần kỳ “Cổ tích thần kỳ là tiểu loại có số lượng nhiều nhất, có giá trị nghệ thuật cao nhất trong bộ phận truyện dân gian của mọi dân tộc”[1] Chúng tôi đề xuất nghiên cứu vấn đề này không chỉ xuất phát từ

định đề lý thuyết rằng, các tác phẩm

Nhận bài ngày11/11/2008 Sửa chữa xong 25/11/2008.

T

Trang 3

Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78

văn xuôi bác học của một dân tộc nào đó

ra đời sớm thường có quan hệ mật thiết

với truyện dân gian của dân tộc ấy, mà

còn xuất phát từ một thực tế: kết quả

nghiên cứu ở phương diện này, sẽ góp

phần giúp chúng ta hiểu thêm mối

quan hệ giữa hai thành phần của văn

chương dân tộc - văn chương dân gian

và văn chương bác học, cũng như góp

phần nhận thức sự tương đồng và khác

biệt giữa cổ tích thần kỳ và truyện

truyền kỳ Đây là hai thể loại thuộc hai

hệ thống văn học - văn học dân gian và

văn học viết, nhưng giữa chúng có sự

tương đồng lớn, ở đó yếu tố kỳ (kỳ ảo, kỳ

dị, kỳ quái, siêu thực) đều là thuộc tính

thẩm mỹ của thể loại Phân biệt những

hiện tượng có đặc điểm gần gũi là công

việc khó khăn, nhưng vì thế lại càng có

ý nghĩa

Có một thực tế là ba truyện của

Thánh Tông di thảo đã được các chuyên

gia văn học dân gian đưa vào Tổng hợp

văn học dân gian của người Việt, tập

VI, Truyện cổ tích thần kỳ [4] Chuyện

chồng dê được coi là bản khác của Hoá

thành dê do Landes kể, truyện Hoa

quốc kỳ duyên (tức Duyên lạ nước hoa)

được coi là bản khác của Nợ duyên

trong mộng, Truyện tinh chuột được coi

là bản khác của Tinh con chuột Cả ba

truyện đều được ghi rõ là lấy từ Thánh

Tông di thảo Ba truyện này cũng được

nhiều tác giả khác xếp vào truyện

truyền kỳ

Thực tế này cho thấy có sự gần gũi

giữa một số truyện trong Thánh Tông

di thảo với truyện cổ tích thần kỳ của

người Việt, gần đến mức nhiều nhà

chuyên môn[4] không nhận ra sự khác

biệt giữa những tác phẩm văn học viết

này với những sáng tác dân gian

Chúng tôi thấy Chuyện chồng dê là gần

với truyện cổ tích thần kỳ hơn cả, còn

hai truyện kia có sự khác biệt khá lớn Truyện Hoa quốc kỳ duyên rất dài (bản dịch tiếng Việt tới 16 trang), không phù hợp với phương thức truyền miệng Các phương thức xây dựng nhân vật của văn học viết cũng bộc lộ rõ quan hệ của nhân vật không đơn tuyến mà phức tạp, thế giới nội tâm nhân vật được miêu tả nhiều Truyện tinh chuột có bố cục đơn giản hơn nhưng sự khác biệt lớn thể hiện ở nội dung Truyện đề cao quân quyền lộ liễu: “Cả triều đình bó tay, không nghĩ được phép gì để xét xử việc này

Ta bực mình tự nghĩ rằng: “Mình là người đứng đầu thần dân, nếu không xét cho ra cái án ma này, thì bố mẹ người thêm một đứa con ma, vợ người thêm một thằng chồng ma Đã gọi là

ma, sau này không khỏi sinh ra tai vạ khác”

Thế rồi ta thắp hương cầu khấn, nhờ Đổng Thiên vương giúp sức” Đề cao quân quyền như vậy không phải là cảm hứng thường thấy trong truyện dân gian mà chỉ thấy trong văn chương bác học, tác giả là nho sĩ

Quan hệ của Thánh Tông di thảo với truyện dân gian lỏng lẻo hơn ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thể hiện ở việc chất liệu văn chương truyền miệng được sử dụng ít hơn Nếu quả

đây cơ bản là văn chương của Lê Thánh Tông và sự sửa chữa chỉ ở phạm vi tiểu tiết thì chúng ta lại có thêm nhận thức nữa: mối quan hệ giữa hai bộ phận văn chương này không đơn thuần do yếu tố thời gian quyết định, mà cơ bản hơn là phụ thuộc vào quan điểm chính trị xã hội và quan niệm thẩm mỹ của các tác giả

Một đặc điểm phổ biến của nhân vật truyện cổ tích thần kỳ (không chỉ Việt Nam mà của thế giới nói chung) là

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

tính chất phiếm chỉ Đặc điểm này cũng

thấy ở nhân vật của một số truyện

trong Thánh Tông di thảo (ví dụ

Chuyện chồng dê) Đại đa số nhân vật

của tác phẩm này mang tính chất của

nhân vật văn học viết trung đại

Qua đây chúng ta cũng thấy rằng

trong thực tế nhiều truyện dân gian đã

được bác học hoá thông qua ghi chép và

sáng tạo của nho sĩ, ngược lại cũng có

nhiều truyện của các tác giả được dân

gian hoá Tuy nhiên, ở nước ta, truyện

dân gian được ghi chép muộn nên nhiều

trường hợp khó xác định chúng được

chuyển hoá theo hướng nào

Thi pháp thời gian và thi pháp

không gian của Thánh Tông di thảo

cũng có những đặc điểm gần gũi với thi

pháp thời gian và thi pháp không gian

truyện cổ tích thần kỳ Thời gian là thời

gian tuyến tính Không gian gồm không

gian trần thế và không gian siêu trần

thế, hai phạm trù này không đối lập mà

tiếp nối nhau Đây vừa là thuộc tính

của các phạm trù thời gian và không

gian trong truyện cổ tích thần kỳ vừa là

đặc điểm của các phạm trù tương ứng

trong văn xuôi trung đại thời kỳ đầu

Sau đây, chúng tôi sẽ nhìn nhận

Thánh Tông di thảo từ những đặc điểm

của truyện truyền kỳ Cho đến nay

quan niệm của các nhà nghiên cứu về

thể loại này còn khác nhau Có người

xếp vào đó tất cả những truyện có yếu

tố thần linh quái dị Hiểu như vậy thì

truyện truyền kỳ Việt Nam đã có từ

Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích

quái Các nhà nghiên cứu Trung Quốc

không xếp tất cả các tác phẩm văn xuôi

có yếu tố thần linh quái dị vào truyện

truyền kỳ, mà cho là một số thuộc

truyện chí quái Hai loại tác phẩm này

giống nhau ở chỗ đều có yếu tố kỳ và

cũng có những sự khác biệt Nhân vật

chính của chí quái là thần linh ma quỷ, còn của truyện truyền kỳ là con người; truyện chí quái nặng về ghi chép, còn ở truyện truyền kỳ vai trò của tác giả lớn hơn, nói như Lỗ Tấn là “ý thức làm tiểu thuyết” rõ hơn

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều cho rằng không phải tất cả mà chỉ một

số truyện trong Thánh Tông di thảo là truyện truyền kỳ, tuy nhiên con số đó là bao nhiêu thì ý kiến còn khác nhau Lê

Sĩ Thắng - Hà Thúc Minh cho là có 10 truyện: Yêu nữ châu Mai, Truyện hai gái thần, Duyên lạ nước hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài, Ngọc nữ về tay chân chủ, Truyện hai thần hiếu đễ, Truyện chồng dê, Truyện tinh chuột, Một dòng chữ lấy được gái thần, Người trần ở thuỷ phủ Phạm Văn Thắm cho là có 13 truyện Ngoài những truyện vừa kể trên còn có thêm: Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, Bài ký một giấc mộng và Phụ chép (tức Phụ lục)[7]

Một đặc điểm phổ biến của truyện truyền kỳ là sự dung hợp thể loại Ngoài tản văn (văn xuôi) là chính, nhiều truyện còn sử dụng vận văn (văn vần) và biền văn (văn biền ngẫu) Trong

số 13 văn bản thuộc loại truyện truyền

kỳ có tới 11 văn bản có sử dụng các bài

đoản thi Đặc biệt, truyện Người trần ở thủy phủ có tới 15 bài đoản thi và hai bài phú, chiếm khoảng một nửa số dòng của truyện Chức năng của phần văn vần hoặc văn biền ngẫu ở các truyện này cũng giống ở các truyện truyền kỳ khác Chúng là phương tiện để biểu hiện tính cách các nhân vật được tinh vi

tế nhị hơn, miêu tả phong cảnh một cách ý vị hơn, đáp ứng nhu cầu thẩm

mỹ đa dạng hơn của người đọc

Một biểu hiện của “ý thức làm tiểu thuyết” của tác giả truyện truyền kỳ thể hiện ở việc xây dựng cốt truyện Với

Trang 5

Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78

tác phẩm tự sự xưa nay, cốt truyện

đóng vai trò quan trọng Nó vừa là thời

gian, vừa là không gian cho các tác giả

trình bày bức tranh của mình về thế

giới và con người Cốt truyện của truyện

truyền kỳ vừa tuân theo những nhu cầu

phổ biến của cốt truyện tự sự, vừa đáp

ứng những yêu cầu riêng Chúng tôi

thấy ở 13 truyện truyền kỳ trong Thánh

Tông di thảo có hai loại cốt truyện ở

những truyện có tính chất luận đề (Hai

Phật cãi nhau, Truyện con tằm vàng,

Bài ký một giấc mộng), cốt truyện đơn

giản, ít sự kiện và các tình tiết được sắp

xếp theo trình tự thời gian Cốt truyện

của 10 truyện còn lại đúng là những cốt

truyện điển hình của truyện truyền kỳ,

có nhiều chi tiết và chứa đựng những sự

biến ảo khó lường Tất nhiên, truyện

truyền kỳ cũng nằm trong phạm trù

truyện trung đại nên không thể đòi hỏi

cốt truyện của chúng được tổ chức theo

nhiều nguyên tắc đan xen như ở truyện

hiện đại Nhưng các cốt truyện ở đây có

thể nói phức tạp nhất trong cốt truyện

của truyện ngắn trung đại và đã thực

sự trở thành một đối tượng thẩm mỹ,

không đơn giản chỉ chuyên chở sự kiện,

nhân vật và tư tưởng như ở truyện dân

gian Mô hình phổ biến của các cốt

truyện truyền kỳ theo chuẩn mực trần

thế là theo các chuẩn mực phi trần thế

(ví dụ không thể trả lời được các câu hỏi

đại loại: ở hoàn cảnh đó người ta ăn gì

để sống, hô hấp ra sao ) Về đại thể,

các truyện đều có ba phần, tạm hình

dung bằng sơ đồ:

trần thế  phi trần thế  trần thế (với

những thay đổi) Ví dụ ở Truyện hai

thần hiếu đễ:

Đoạn 1: “ở Sơn Bắc có Nguyễn Tử

Khanh, cha mẹ mất sớm, chỉ có một

người anh

Khi ấy Tử Khanh đã 47 tuổi Một hôm

ra đi có việc buổi chiều mới về Giữa đường gặp mưa to gió lớn, bất đắc dĩ phải vào trú

ở một ngôi miếu giữa đồng”

Đoạn 2: “Đến giữa đêm, mưa tạnh gió yên, bóng trăng lờ mờ, Tử Khanh bỗng thấy trong miếu đèn lửa sáng trưng ”

Chính trong khung cảnh đó, nhân vật này gặp những người đã quá cố, kể cả người anh ruột

Đoạn 3: “Khi trời sắp sáng mình

đã đứng trước cửa nhà cũ rồi Đến kỳ thi, nhất nhất làm theo lời anh đã dặn Quả nhiên khoa ấy con cháu đều đỗ tú tài ”

Có thể nói như nhà Việt Nam học người Nga N I Niculin, đầu mối của mọi chuyện trong Thánh Tông di thảo

là “người bình thường rơi vào cảnh dị thường” Kiểu xây dựng cốt truyện như vậy phù hợp với lôgic nhận thức những chuyện kỳ lạ Nếu truyện đã có nhiều

sự lạ, lại kết thúc bằng những sự khác thường thì chỉ làm cho nó thêm xa cách

độc giả Mà, như chúng ta đều biết, sử dụng những yếu tố kỳ lạ là đặc điểm cốt

tử của truyện truyền kỳ, “phi kỳ bất truyền” (không kỳ lạ không lưu truyền), nghĩa là không phải truyện truyền kỳ

đích thực

Cũng như các tác giả truyện truyền

kỳ khác, tác giả Thánh Tông di thảo sử dụng nhiều yếu tố kỳ (người xưa còn gọi

là hư) nhưng luôn có ý thức làm cho người đọc tin là chuyện có thực Có nhiều cách nhằm tạo nên hiệu ứng tâm

lý này Phổ biến nhất là gắn các câu chuyện với thời gian và không gian xác

định, ví dụ: “Cuối niên hiệu Nguyên Phong đời nhà Trần ở châu Mai có một nữ yêu tinh ” (Truyện yêu nữ ở châu Mai); “Hồi ấy là năm thứ tư niên hiệu Thuận thiên” (Truyện hai gái thần)

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

Hoặc gắn chuyện với những di tích:

“Đến nay ở núi Vũ-Ninh có hai đền thờ

Nguyễn Sinh, vẫn còn linh ứng”

(Truyện hai thần hiếu đễ); thậm chí gắn

với một sự kiện quan trọng nào đó trong

cuộc đời tác giả: “khi ta còn ở Tiềm Để”

(Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc) Trong 13

truyện thì 11 truyện được mở đầu bằng

những chi tiết thuộc các loại như vậy

Điều này cho thấy đây thực sự là một

tín hiệu thuộc thi pháp thể loại truyện

truyền kỳ

Có thể nhận thức thêm sự tương

đồng và khác biệt của hai loại truyện

này qua phạm trù nhân vật “Trong một

tác phẩm văn xuôi, nhân vật là mối

quan tâm hàng đầu của nhà văn, biểu

hiện khả năng chiếm lĩnh thực tại, đồng

thời thể hiện lý tưởng thẩm mỹ, quan

niệm về đời sống và con người trong

toàn bộ tính đa dạng và phức tạp của

nó”[2]

Cách thức xây dựng nhân vật ở 13

truyện truyền kỳ trong Thánh Tông di

thảo đều thuộc hai phương thức xây

dựng nhân vật phổ biến của truyện

truyền kỳ, hoặc là nhân hoá, hoặc thần

kỳ hoá Sự nhân hoá thể hiện bằng việc

cho các loại con vật và sự vật nói năng,

hành xử như người, giao thiệp được với

con người (Hai Phật cãi nhau, Duyên lạ

nước hoa, Truyện chồng dê, Truyện tinh

chuột ) Sự thần kỳ hoá thể hiện ở việc

các nhân vật có thể tiên đoán, có thể

biến hoá và giao tiếp với những loài phi

nhân (Truyện yêu nữ châu Mai, Truyện

hai gái thần, Duyên lạ nước hoa, Hai

thần hiếu đễ, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc,

Một dòng chữ lấy được gái thần ) Thủ

pháp thần kỳ phổ biến hơn thủ pháp

nhân hoá, làm cho các truyện có thuộc

tính của truyện truyền kỳ đích thực,

“kỳ văn, dị sự” (văn lạ, việc lạ)

Truyện cổ tích thần kỳ nói riêng và truyện dân gian nói chung cũng sử dụng phương thức nhân hoá và thần kỳ hoá để xây dựng nhân vật Tuy nhiên ngay ở chỗ tương đồng này chúng ta cũng thấy sự khác biệt Truyện dân gian diễn tả sự biến hoá một cách ngắn gọn, ví dụ: “Chẳng bao lâu, ở chỗ chôn lông chim mọc lên một cây xoan đào thật đẹp”, hoặc “Bà cụ vừa đi khỏi nhà, thì một cô gái bé tí từ trong quả thị chui

ra, và chỉ phút chốc, cô bé đã trở thành cô Tấm xinh đẹp” [9] Truyện dân gian

kể hành động một cách vắn tắt và nêu ngay kết quả

Còn đây là một sự biến hoá mà Thánh Tông di thảo diễn tả: “Ngọa Vân thấy tình thế nguy bách quá, vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: “Biến!” Tức thì nàng hoá ra một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng, nằm chắn chỗ ngọn nước tràn vào” (Truyện lạ nhà thuyền chài) Chúng ta thấy cả hành động, cả kết quả

đều được tác giả miêu tả cụ thể hơn, sinh động hơn Điều này thích ứng với phương thức lưu truyền bằng văn tự và

đáp ứng thị hiếu của người thưởng thức

có học vấn cao hơn

Dù thuộc về hai thể loại của hai hệ thống văn học nhưng nhân vật trong Thánh Tông di thảo lại gần gũi với nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ là vì chúng đều thực hiện chức năng giáo huấn một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, so với nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, nhân vật của Thánh Tông di thảo đã có những biến đổi về chất do thuộc về văn học viết, với ý thức văn học cao hơn, với phương thức lưu truyền khác, kiểu tác giả và người đọc đều khác

N I Niculin cho rằng một thành tựu của tập sách này là “đã cắt đứt

Trang 7

Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78

những mối liên hệ truyền thống với sử

ký và đã xây dựng lên những nhân vật

hư cấu”[5] Đúng như nhà nghiên cứu

đã chỉ ra, một khi tác phẩm có thuộc

tính hư cấu là nó đã đi đúng quỹ đạo

của văn chương Đặc điểm của hư cấu ở Thánh Tông di thảo, như đã thấy, là chịu ảnh hưởng của hai truyền thống thể loại, trong đó nghiêng về phía truyện truyền kỳ

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Xuân Đức, Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, NXB KHXH, 2003 [2] Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, 2004,

tr 344

[3] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng VănTửu, Trần Hữu Tá, Từ điển học (bộ mới), NXB Thế giới, 2004, tr 1636

[4] PGS.TS Nguyễn Thị Huế chủ biên, Tổng hợp văn học dân gian của người Việt, tập VI: Truyện cổ tích thần kỳ,NXB KHXH, Hà Nội, 2004

[5] N I Niculin, Dòng chảy văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, 2006,

tr 186

[6] B.L Riptin, Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của phương

Đông theo phương pháp loại hình, Tạp chí Văn học, Số 2/1974, tr 108

[7] Phạm Văn Thắm, Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại, Luận án PTS, Hà Nội, 1996, tr 38

[8] Thánh Tông di thảo, NXB Văn hoá, 1996

[9] Nhiều tác giả, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, NXB Văn học, 1977

Summary

THaNH ToNG DI THaO - SEEN FROM TRADITIONNAL FOLK-TALES AND

FEATURES OF UNUSUAL STORIES

In the article, the author has studied Thanh Tong di thao following two systems

of reference: one appertaining to folklore; another - to scholarly literature By his doing so, we can understand more about the value of the stories, basing on the special features of their genre, and the relationship between the two literary bases

of the national literature which is expressed in the work

(a) Cao học 15, chuyên ngành lý luận văn học, trường đại học vinh

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w