Từ đây ta hiểu rõ thêm giá trị của các truyện đúng với đặc trưng thể loại của nó và hiểu thêm mối quan hệ giữa hai nền văn chương của văn học dân tộc được thể hiện trong một tác phẩm.. T
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Thánh Tông di
thảo" nhìn từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam
và từ đặc điểm
truyện truyền kỳ"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
GIAN VIệT NAM Và Từ ĐặC ĐIểM TRUYệN TRUYềN Kỳ
Vũ Thị Phương Thanh (a)
Tóm tắt Bài viết nghiên cứu Thánh Tông di thảo theo hai hệ quy chiếu của văn chương dân gian và của văn chương bác học Từ đây ta hiểu rõ thêm giá trị của các truyện đúng với đặc trưng thể loại của nó và hiểu thêm mối quan hệ giữa hai nền văn chương của văn học dân tộc được thể hiện trong một tác phẩm
hánh Tông di thảo [8] là tập văn
xuôi chữ Hán gồm 19 truyện và
phụ lục (nguyên tác đề là phụ
chép)Truyện con tằm vàng Phụ lục này
là văn bản ngắn nhất trong tập (dịch ra
tiếng Việt chỉ một trang) nhưng ý nghĩa
khá hoàn chỉnh, chúng tôi xem như một
truyện, như vậy có thể nói Thánh Tông
di thảo gồm 20 truyện
Các nhà nghiên cứu cho biết văn
bản Thánh Tông di thảo rất phức tạp
Có những danh xưng cho thấy nhiều
truyện được viết từ rất sớm, bên cạnh
đó lại có những địa danh, học vị đến thế
kỷ XIX mới có Liên quan đến vấn đề
văn bản là vấn đề tác giả Có những
truyện khẳng định được do Lê Thánh
Tông viết, lại có những truyện có thể do
người khác viết hoặc sửa chữa đáng kể
Và cho đến nay người ta cũng chưa biết
tác giả của những lời bình cuối truyện -
Sơn Nam Thúc - tên thật là gì Bài viết
này không bàn tiếp về những vấn đề
trên Chúng tôi sử dụng văn bản do
Nguyễn Bích Ngô dịch, Nguyễn Văn Tú
- Đỗ Ngọc Toại hiệu đính, Nhà xuất bản
Văn hoá ấn hành năm 1963
Các nhà nghiên cứu văn học nước
ngoài đã nhận thấy đặc điểm phổ quát
của các tác phẩm văn xuôi ra đời ở thời
kỳ đầu, các nền văn học trên thế giới
đều gắn bó chặt chẽ với văn học dân
gian và sử ký [6] ở Việt Nam, có nhà
nghiên cứu cũng nhận thấy tình hình
tương tự ở Thánh Tông di thảo: “Xét nguồn gốc thì người viết hoặc dựa vào truyện dân gian hoặc dựa vào những
sự kiện lịch sử có liên quan tới thời kháng chiến chống Minh và Lê Thánh Tông” [3]
Giới nghiên cứu văn học ngày càng nhận rõ vai trò của thể loại trong đời sống văn học, nói như M.M Bakhtin, thể loại là “nhân vật chính của lịch sử văn học” Bởi vậy nghiên cứu tác phẩm
từ đặc trưng thể loại là phương hướng nghiên cứu hiệu quả Về Thánh Tông di thảo, dễ dàng nhận thấy sự không thuần nhất về phương diện thể loại:
“xét về tính chất của loại hình thì có truyền kỳ, ngụ ngôn, tạp ký”[3]
Tóm lại, việc nghiên cứu tác phẩm này từ truyền thống truyện dân gian Việt Nam và từ đặc điểm của truyện truyền kỳ là có cơ sở và thích hợp với một tác phẩm ra đời sớm và có những phẩm chất như Thánh Tông di thảo Trước hết, chúng ta hãy nhìn nhận các truyện trong Thánh Tông di thảo từ truyền thống của truyện dân gian Việt Nam mà trực tiếp nhất là truyền thống của truyện cổ tích thần kỳ “Cổ tích thần kỳ là tiểu loại có số lượng nhiều nhất, có giá trị nghệ thuật cao nhất trong bộ phận truyện dân gian của mọi dân tộc”[1] Chúng tôi đề xuất nghiên cứu vấn đề này không chỉ xuất phát từ
định đề lý thuyết rằng, các tác phẩm
Nhận bài ngày11/11/2008 Sửa chữa xong 25/11/2008.
T
Trang 3Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78
văn xuôi bác học của một dân tộc nào đó
ra đời sớm thường có quan hệ mật thiết
với truyện dân gian của dân tộc ấy, mà
còn xuất phát từ một thực tế: kết quả
nghiên cứu ở phương diện này, sẽ góp
phần giúp chúng ta hiểu thêm mối
quan hệ giữa hai thành phần của văn
chương dân tộc - văn chương dân gian
và văn chương bác học, cũng như góp
phần nhận thức sự tương đồng và khác
biệt giữa cổ tích thần kỳ và truyện
truyền kỳ Đây là hai thể loại thuộc hai
hệ thống văn học - văn học dân gian và
văn học viết, nhưng giữa chúng có sự
tương đồng lớn, ở đó yếu tố kỳ (kỳ ảo, kỳ
dị, kỳ quái, siêu thực) đều là thuộc tính
thẩm mỹ của thể loại Phân biệt những
hiện tượng có đặc điểm gần gũi là công
việc khó khăn, nhưng vì thế lại càng có
ý nghĩa
Có một thực tế là ba truyện của
Thánh Tông di thảo đã được các chuyên
gia văn học dân gian đưa vào Tổng hợp
văn học dân gian của người Việt, tập
VI, Truyện cổ tích thần kỳ [4] Chuyện
chồng dê được coi là bản khác của Hoá
thành dê do Landes kể, truyện Hoa
quốc kỳ duyên (tức Duyên lạ nước hoa)
được coi là bản khác của Nợ duyên
trong mộng, Truyện tinh chuột được coi
là bản khác của Tinh con chuột Cả ba
truyện đều được ghi rõ là lấy từ Thánh
Tông di thảo Ba truyện này cũng được
nhiều tác giả khác xếp vào truyện
truyền kỳ
Thực tế này cho thấy có sự gần gũi
giữa một số truyện trong Thánh Tông
di thảo với truyện cổ tích thần kỳ của
người Việt, gần đến mức nhiều nhà
chuyên môn[4] không nhận ra sự khác
biệt giữa những tác phẩm văn học viết
này với những sáng tác dân gian
Chúng tôi thấy Chuyện chồng dê là gần
với truyện cổ tích thần kỳ hơn cả, còn
hai truyện kia có sự khác biệt khá lớn Truyện Hoa quốc kỳ duyên rất dài (bản dịch tiếng Việt tới 16 trang), không phù hợp với phương thức truyền miệng Các phương thức xây dựng nhân vật của văn học viết cũng bộc lộ rõ quan hệ của nhân vật không đơn tuyến mà phức tạp, thế giới nội tâm nhân vật được miêu tả nhiều Truyện tinh chuột có bố cục đơn giản hơn nhưng sự khác biệt lớn thể hiện ở nội dung Truyện đề cao quân quyền lộ liễu: “Cả triều đình bó tay, không nghĩ được phép gì để xét xử việc này
Ta bực mình tự nghĩ rằng: “Mình là người đứng đầu thần dân, nếu không xét cho ra cái án ma này, thì bố mẹ người thêm một đứa con ma, vợ người thêm một thằng chồng ma Đã gọi là
ma, sau này không khỏi sinh ra tai vạ khác”
Thế rồi ta thắp hương cầu khấn, nhờ Đổng Thiên vương giúp sức” Đề cao quân quyền như vậy không phải là cảm hứng thường thấy trong truyện dân gian mà chỉ thấy trong văn chương bác học, tác giả là nho sĩ
Quan hệ của Thánh Tông di thảo với truyện dân gian lỏng lẻo hơn ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thể hiện ở việc chất liệu văn chương truyền miệng được sử dụng ít hơn Nếu quả
đây cơ bản là văn chương của Lê Thánh Tông và sự sửa chữa chỉ ở phạm vi tiểu tiết thì chúng ta lại có thêm nhận thức nữa: mối quan hệ giữa hai bộ phận văn chương này không đơn thuần do yếu tố thời gian quyết định, mà cơ bản hơn là phụ thuộc vào quan điểm chính trị xã hội và quan niệm thẩm mỹ của các tác giả
Một đặc điểm phổ biến của nhân vật truyện cổ tích thần kỳ (không chỉ Việt Nam mà của thế giới nói chung) là
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
tính chất phiếm chỉ Đặc điểm này cũng
thấy ở nhân vật của một số truyện
trong Thánh Tông di thảo (ví dụ
Chuyện chồng dê) Đại đa số nhân vật
của tác phẩm này mang tính chất của
nhân vật văn học viết trung đại
Qua đây chúng ta cũng thấy rằng
trong thực tế nhiều truyện dân gian đã
được bác học hoá thông qua ghi chép và
sáng tạo của nho sĩ, ngược lại cũng có
nhiều truyện của các tác giả được dân
gian hoá Tuy nhiên, ở nước ta, truyện
dân gian được ghi chép muộn nên nhiều
trường hợp khó xác định chúng được
chuyển hoá theo hướng nào
Thi pháp thời gian và thi pháp
không gian của Thánh Tông di thảo
cũng có những đặc điểm gần gũi với thi
pháp thời gian và thi pháp không gian
truyện cổ tích thần kỳ Thời gian là thời
gian tuyến tính Không gian gồm không
gian trần thế và không gian siêu trần
thế, hai phạm trù này không đối lập mà
tiếp nối nhau Đây vừa là thuộc tính
của các phạm trù thời gian và không
gian trong truyện cổ tích thần kỳ vừa là
đặc điểm của các phạm trù tương ứng
trong văn xuôi trung đại thời kỳ đầu
Sau đây, chúng tôi sẽ nhìn nhận
Thánh Tông di thảo từ những đặc điểm
của truyện truyền kỳ Cho đến nay
quan niệm của các nhà nghiên cứu về
thể loại này còn khác nhau Có người
xếp vào đó tất cả những truyện có yếu
tố thần linh quái dị Hiểu như vậy thì
truyện truyền kỳ Việt Nam đã có từ
Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích
quái Các nhà nghiên cứu Trung Quốc
không xếp tất cả các tác phẩm văn xuôi
có yếu tố thần linh quái dị vào truyện
truyền kỳ, mà cho là một số thuộc
truyện chí quái Hai loại tác phẩm này
giống nhau ở chỗ đều có yếu tố kỳ và
cũng có những sự khác biệt Nhân vật
chính của chí quái là thần linh ma quỷ, còn của truyện truyền kỳ là con người; truyện chí quái nặng về ghi chép, còn ở truyện truyền kỳ vai trò của tác giả lớn hơn, nói như Lỗ Tấn là “ý thức làm tiểu thuyết” rõ hơn
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều cho rằng không phải tất cả mà chỉ một
số truyện trong Thánh Tông di thảo là truyện truyền kỳ, tuy nhiên con số đó là bao nhiêu thì ý kiến còn khác nhau Lê
Sĩ Thắng - Hà Thúc Minh cho là có 10 truyện: Yêu nữ châu Mai, Truyện hai gái thần, Duyên lạ nước hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài, Ngọc nữ về tay chân chủ, Truyện hai thần hiếu đễ, Truyện chồng dê, Truyện tinh chuột, Một dòng chữ lấy được gái thần, Người trần ở thuỷ phủ Phạm Văn Thắm cho là có 13 truyện Ngoài những truyện vừa kể trên còn có thêm: Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, Bài ký một giấc mộng và Phụ chép (tức Phụ lục)[7]
Một đặc điểm phổ biến của truyện truyền kỳ là sự dung hợp thể loại Ngoài tản văn (văn xuôi) là chính, nhiều truyện còn sử dụng vận văn (văn vần) và biền văn (văn biền ngẫu) Trong
số 13 văn bản thuộc loại truyện truyền
kỳ có tới 11 văn bản có sử dụng các bài
đoản thi Đặc biệt, truyện Người trần ở thủy phủ có tới 15 bài đoản thi và hai bài phú, chiếm khoảng một nửa số dòng của truyện Chức năng của phần văn vần hoặc văn biền ngẫu ở các truyện này cũng giống ở các truyện truyền kỳ khác Chúng là phương tiện để biểu hiện tính cách các nhân vật được tinh vi
tế nhị hơn, miêu tả phong cảnh một cách ý vị hơn, đáp ứng nhu cầu thẩm
mỹ đa dạng hơn của người đọc
Một biểu hiện của “ý thức làm tiểu thuyết” của tác giả truyện truyền kỳ thể hiện ở việc xây dựng cốt truyện Với
Trang 5Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78
tác phẩm tự sự xưa nay, cốt truyện
đóng vai trò quan trọng Nó vừa là thời
gian, vừa là không gian cho các tác giả
trình bày bức tranh của mình về thế
giới và con người Cốt truyện của truyện
truyền kỳ vừa tuân theo những nhu cầu
phổ biến của cốt truyện tự sự, vừa đáp
ứng những yêu cầu riêng Chúng tôi
thấy ở 13 truyện truyền kỳ trong Thánh
Tông di thảo có hai loại cốt truyện ở
những truyện có tính chất luận đề (Hai
Phật cãi nhau, Truyện con tằm vàng,
Bài ký một giấc mộng), cốt truyện đơn
giản, ít sự kiện và các tình tiết được sắp
xếp theo trình tự thời gian Cốt truyện
của 10 truyện còn lại đúng là những cốt
truyện điển hình của truyện truyền kỳ,
có nhiều chi tiết và chứa đựng những sự
biến ảo khó lường Tất nhiên, truyện
truyền kỳ cũng nằm trong phạm trù
truyện trung đại nên không thể đòi hỏi
cốt truyện của chúng được tổ chức theo
nhiều nguyên tắc đan xen như ở truyện
hiện đại Nhưng các cốt truyện ở đây có
thể nói phức tạp nhất trong cốt truyện
của truyện ngắn trung đại và đã thực
sự trở thành một đối tượng thẩm mỹ,
không đơn giản chỉ chuyên chở sự kiện,
nhân vật và tư tưởng như ở truyện dân
gian Mô hình phổ biến của các cốt
truyện truyền kỳ theo chuẩn mực trần
thế là theo các chuẩn mực phi trần thế
(ví dụ không thể trả lời được các câu hỏi
đại loại: ở hoàn cảnh đó người ta ăn gì
để sống, hô hấp ra sao ) Về đại thể,
các truyện đều có ba phần, tạm hình
dung bằng sơ đồ:
trần thế phi trần thế trần thế (với
những thay đổi) Ví dụ ở Truyện hai
thần hiếu đễ:
Đoạn 1: “ở Sơn Bắc có Nguyễn Tử
Khanh, cha mẹ mất sớm, chỉ có một
người anh
Khi ấy Tử Khanh đã 47 tuổi Một hôm
ra đi có việc buổi chiều mới về Giữa đường gặp mưa to gió lớn, bất đắc dĩ phải vào trú
ở một ngôi miếu giữa đồng”
Đoạn 2: “Đến giữa đêm, mưa tạnh gió yên, bóng trăng lờ mờ, Tử Khanh bỗng thấy trong miếu đèn lửa sáng trưng ”
Chính trong khung cảnh đó, nhân vật này gặp những người đã quá cố, kể cả người anh ruột
Đoạn 3: “Khi trời sắp sáng mình
đã đứng trước cửa nhà cũ rồi Đến kỳ thi, nhất nhất làm theo lời anh đã dặn Quả nhiên khoa ấy con cháu đều đỗ tú tài ”
Có thể nói như nhà Việt Nam học người Nga N I Niculin, đầu mối của mọi chuyện trong Thánh Tông di thảo
là “người bình thường rơi vào cảnh dị thường” Kiểu xây dựng cốt truyện như vậy phù hợp với lôgic nhận thức những chuyện kỳ lạ Nếu truyện đã có nhiều
sự lạ, lại kết thúc bằng những sự khác thường thì chỉ làm cho nó thêm xa cách
độc giả Mà, như chúng ta đều biết, sử dụng những yếu tố kỳ lạ là đặc điểm cốt
tử của truyện truyền kỳ, “phi kỳ bất truyền” (không kỳ lạ không lưu truyền), nghĩa là không phải truyện truyền kỳ
đích thực
Cũng như các tác giả truyện truyền
kỳ khác, tác giả Thánh Tông di thảo sử dụng nhiều yếu tố kỳ (người xưa còn gọi
là hư) nhưng luôn có ý thức làm cho người đọc tin là chuyện có thực Có nhiều cách nhằm tạo nên hiệu ứng tâm
lý này Phổ biến nhất là gắn các câu chuyện với thời gian và không gian xác
định, ví dụ: “Cuối niên hiệu Nguyên Phong đời nhà Trần ở châu Mai có một nữ yêu tinh ” (Truyện yêu nữ ở châu Mai); “Hồi ấy là năm thứ tư niên hiệu Thuận thiên” (Truyện hai gái thần)
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
Hoặc gắn chuyện với những di tích:
“Đến nay ở núi Vũ-Ninh có hai đền thờ
Nguyễn Sinh, vẫn còn linh ứng”
(Truyện hai thần hiếu đễ); thậm chí gắn
với một sự kiện quan trọng nào đó trong
cuộc đời tác giả: “khi ta còn ở Tiềm Để”
(Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc) Trong 13
truyện thì 11 truyện được mở đầu bằng
những chi tiết thuộc các loại như vậy
Điều này cho thấy đây thực sự là một
tín hiệu thuộc thi pháp thể loại truyện
truyền kỳ
Có thể nhận thức thêm sự tương
đồng và khác biệt của hai loại truyện
này qua phạm trù nhân vật “Trong một
tác phẩm văn xuôi, nhân vật là mối
quan tâm hàng đầu của nhà văn, biểu
hiện khả năng chiếm lĩnh thực tại, đồng
thời thể hiện lý tưởng thẩm mỹ, quan
niệm về đời sống và con người trong
toàn bộ tính đa dạng và phức tạp của
nó”[2]
Cách thức xây dựng nhân vật ở 13
truyện truyền kỳ trong Thánh Tông di
thảo đều thuộc hai phương thức xây
dựng nhân vật phổ biến của truyện
truyền kỳ, hoặc là nhân hoá, hoặc thần
kỳ hoá Sự nhân hoá thể hiện bằng việc
cho các loại con vật và sự vật nói năng,
hành xử như người, giao thiệp được với
con người (Hai Phật cãi nhau, Duyên lạ
nước hoa, Truyện chồng dê, Truyện tinh
chuột ) Sự thần kỳ hoá thể hiện ở việc
các nhân vật có thể tiên đoán, có thể
biến hoá và giao tiếp với những loài phi
nhân (Truyện yêu nữ châu Mai, Truyện
hai gái thần, Duyên lạ nước hoa, Hai
thần hiếu đễ, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc,
Một dòng chữ lấy được gái thần ) Thủ
pháp thần kỳ phổ biến hơn thủ pháp
nhân hoá, làm cho các truyện có thuộc
tính của truyện truyền kỳ đích thực,
“kỳ văn, dị sự” (văn lạ, việc lạ)
Truyện cổ tích thần kỳ nói riêng và truyện dân gian nói chung cũng sử dụng phương thức nhân hoá và thần kỳ hoá để xây dựng nhân vật Tuy nhiên ngay ở chỗ tương đồng này chúng ta cũng thấy sự khác biệt Truyện dân gian diễn tả sự biến hoá một cách ngắn gọn, ví dụ: “Chẳng bao lâu, ở chỗ chôn lông chim mọc lên một cây xoan đào thật đẹp”, hoặc “Bà cụ vừa đi khỏi nhà, thì một cô gái bé tí từ trong quả thị chui
ra, và chỉ phút chốc, cô bé đã trở thành cô Tấm xinh đẹp” [9] Truyện dân gian
kể hành động một cách vắn tắt và nêu ngay kết quả
Còn đây là một sự biến hoá mà Thánh Tông di thảo diễn tả: “Ngọa Vân thấy tình thế nguy bách quá, vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: “Biến!” Tức thì nàng hoá ra một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng, nằm chắn chỗ ngọn nước tràn vào” (Truyện lạ nhà thuyền chài) Chúng ta thấy cả hành động, cả kết quả
đều được tác giả miêu tả cụ thể hơn, sinh động hơn Điều này thích ứng với phương thức lưu truyền bằng văn tự và
đáp ứng thị hiếu của người thưởng thức
có học vấn cao hơn
Dù thuộc về hai thể loại của hai hệ thống văn học nhưng nhân vật trong Thánh Tông di thảo lại gần gũi với nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ là vì chúng đều thực hiện chức năng giáo huấn một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, so với nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, nhân vật của Thánh Tông di thảo đã có những biến đổi về chất do thuộc về văn học viết, với ý thức văn học cao hơn, với phương thức lưu truyền khác, kiểu tác giả và người đọc đều khác
N I Niculin cho rằng một thành tựu của tập sách này là “đã cắt đứt
Trang 7Vũ Thị Phương Thanh THáNH TÔNG DI THảO NHìN Từ , TR 73-78
những mối liên hệ truyền thống với sử
ký và đã xây dựng lên những nhân vật
hư cấu”[5] Đúng như nhà nghiên cứu
đã chỉ ra, một khi tác phẩm có thuộc
tính hư cấu là nó đã đi đúng quỹ đạo
của văn chương Đặc điểm của hư cấu ở Thánh Tông di thảo, như đã thấy, là chịu ảnh hưởng của hai truyền thống thể loại, trong đó nghiêng về phía truyện truyền kỳ
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Xuân Đức, Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, NXB KHXH, 2003 [2] Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, 2004,
tr 344
[3] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng VănTửu, Trần Hữu Tá, Từ điển học (bộ mới), NXB Thế giới, 2004, tr 1636
[4] PGS.TS Nguyễn Thị Huế chủ biên, Tổng hợp văn học dân gian của người Việt, tập VI: Truyện cổ tích thần kỳ,NXB KHXH, Hà Nội, 2004
[5] N I Niculin, Dòng chảy văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, 2006,
tr 186
[6] B.L Riptin, Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của phương
Đông theo phương pháp loại hình, Tạp chí Văn học, Số 2/1974, tr 108
[7] Phạm Văn Thắm, Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại, Luận án PTS, Hà Nội, 1996, tr 38
[8] Thánh Tông di thảo, NXB Văn hoá, 1996
[9] Nhiều tác giả, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, NXB Văn học, 1977
Summary
THaNH ToNG DI THaO - SEEN FROM TRADITIONNAL FOLK-TALES AND
FEATURES OF UNUSUAL STORIES
In the article, the author has studied Thanh Tong di thao following two systems
of reference: one appertaining to folklore; another - to scholarly literature By his doing so, we can understand more about the value of the stories, basing on the special features of their genre, and the relationship between the two literary bases
of the national literature which is expressed in the work
(a) Cao học 15, chuyên ngành lý luận văn học, trường đại học vinh