Sử dụng ngôn từ chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hằng ngày của đời sống là một trong những yếu tố làm nên giọng điệu dân dã, hóm hỉnh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải.. Nhà văn Nguy
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Dân dã, hóm
hỉnh - một sắc thái giọng điệu nổi bật trong truyện ngắn
Nguyễn Khải"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
Dân d, hóm hỉnh - một sắc thái giọng điệu nổi bật
trong truyện ngắn Nguyễn Khải
Cao Thị Anh Tú (a)
Tóm tắt Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu những yếu tố làm nên chất giọng dân dã, hóm hỉnh trong truyện ngắn của Nguyễn Khải Chính chất giọng này đã làm cho những tác phẩm vốn được xem là mang tính vấn đề, tính tư tưởng của nhà văn trở nên chân thực, tươi mới và dung dị hơn Một thứ giọng điệu bước đầu đã làm cho truyện ngắn của nhà văn trở nên dân chủ hơn trong mối quan hệ với bạn đọc Đây cũng là một trong những phương diện làm nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Khải
rong tác phẩm văn học nói
chung, giọng điệu của nhà văn
được tạo nên bởi rất nhiều yếu tố Nó
được thể hiện qua “Thái độ, tình cảm,
lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà
văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể
hiện trong lời văn quy định cách xưng
hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu, tình cảm,
cách cảm thụ xa, gần, thân sơ, thành
kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm
biếm” [2, tr 111] Một trong những yếu
tố hết sức quan trọng để tạo nên giọng
điệu riêng của mỗi nhà văn chính là yếu
tố ngôn ngữ được sử dụng trong đó Tìm
hiểu sáng tác của Nguyễn Khải, nhiều
nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số đặc
điểm về giọng điệu trong tác phẩm của
ông Bích Thu cho rằng giọng điệu chủ
yếu trong tác phẩm của ông là “giọng
triết lí, tranh biện”, “giọng điệu thể
hiện sự trải nghiệm cá nhân, tâm tình,
chia sẻ” “ giọng điệu hài hước, hóm
hỉnh” [3, tr 123] Tuyết Nga trong một
công trình nghiên cứu về văn xuôi
Nguyễn Khải cũng đã chỉ ra: “giọng kể
chuyện cà kê, hóm hỉnh và dân dã” [5,
tr 174] v v Mặc dù có bàn đến giọng
điệu dân dã và hóm hỉnh, nhưng những
tác giả vừa kể trên mới chỉ dừng lại ở
những nhận xét chung nhất, chưa chỉ
ra một cách cụ thể những yếu tố làm nên chất gọng đó Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu đi vào tìm hiểu một
số phương diện làm nên giọng điệu dân dã, hóm hỉnh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải Chính chất giọng này đã làm cho những tác phẩm vốn được xem là mang “tính vấn đề” của
ông trở nên hấp dẫn, sinh động hơn, lời văn vì thế cũng trở nên ý nhị và có duyên hơn Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Khải
1 Sử dụng ngôn từ chắt lọc từ lời
ăn tiếng nói hằng ngày của đời sống là một trong những yếu tố làm nên giọng
điệu dân dã, hóm hỉnh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải Ngôn ngữ được sử dụng hằng ngày của nhân dân vốn hết sức đa dạng và sinh động Việc vận dụng loại ngôn ngữ này vào trong tác phẩm đã làm cho văn phong Nguyễn Khải có một sức quyến rũ đặc biệt, đưa ta đến với một thế giới chân thực mà cũng hết sức sống động và đa dạng của đời sống Đúng như Lại Nguyên Ân đã nhận xét: “Thực ra đặc
Nhận bài ngày 30/10/2008 Sửa chữa xong 13/11/2008.
T
Trang 3Cao Thị Anh Tú Dân d&, hóm hỉnh truyện ngắn Nguyễn Khải, TR 85-92
sắc của thứ ngôn ngữ này là ở chỗ nó
miêu tả lời ăn tiếng nói ngoài đời, miêu
tả một ngôn ngữ sống chứ không chỉ
dùng ngôn ngữ ấy đơn thuần như một
phương tiện kể chuyện [1, tr 82] Chính
việc vận dụng ngôn ngữ đời sống một
cách tự nhiên, tưởng như không dụng
công gì cả vào trong tác phẩm đã tạo
nên nét linh hoạt, dí dỏm trong văn
chương Nguyễn Khải
Trong ngôn ngữ của đời sống hàng
ngày, khẩu ngữ là một thành phần hết
sức quan trọng Sử dụng khẩu ngữ là
một điều không thể thiếu được trong
sáng tác văn học, đặc biệt là khi tạo
dựng hội thoại Nhà văn Nguyễn Khải
là người dường như đã thâu tóm được
cái “hồn” của khẩu ngữ để vận dụng
một cách thật đặc sắc trong tác phẩm
của mình Trong Tầm nhìn xa, một
truyện ngắn rất thành công của
Nguyễn Khải, mỗi lời nói của nhân vật
đều mang đậm chất đời thường của cuộc
sống Từ trong những lời nói tưởng như
bình thường đó, những suy nghĩ, thái độ
của nhân vật đã được bộc lộ Biết Tuy
Kiền là người nhiều mưu mô, tinh khôn,
khi nói chuyện với anh cán bộ Ty kiến
trúc, Biền bóng gió: “Ông ấy vẫn chưa
dở cái ngón chính ra với anh đâu” Tuy
Kiền đã giận giữ đáp lại: “Còn ngón nào
nữa Anh đa nghi như Tào Tháo ấy”
Quả là trong những câu nói như vậy,
thái độ của mỗi nhân vật đã được nhà
văn chuyển tải một cách thật tự nhiên
Còn đây là lời của mấy anh xã viên nói
với cán bộ Biền khi bàn công việc của
hợp tác xã: “ừ, cũng phải nói từ gốc đến
ngọn chứ Em với thằng Bài mỗi thằng
gánh sáu nghìn con, toàn cá bốn năm
phân cả ” hoặc như “Ăn được bữa cơm
lại thiệt mẹ nó hai trăm đồng, bát cơm
quá bát yến” Khi một nhân vật trong tác phẩm hỏi Tuy Kiền với nội dung tối nay có được uống rượu không, thì Nguyễn Khải cũng đặt vào nhân vật một câu nói rất thú vị mà cái chất của
đời thường không thể lẫn vào đâu được:
“Tối nay có chén bác chén chú gì không
đấy?” Có thể nói rằng, trong tác phẩm của Nguyễn Khải, ngôn ngữ của nhân vật là thứ ngôn ngữ hàng ngày rất giàu
có về hình ảnh, hiểu nó thì thật đơn giản, mà lại còn rất thú vị nữa, nhưng
để có những câu nói có màu sắc hài hước, dí dỏm như vậy là kinh nghiệm, tích luỹ của cả một đời của cha ông, gói ghém trong đó cái chiều sâu văn hoá của một dân tộc Vận dụng một cách linh hoạt vào tác phẩm của mình, Nguyễn Khải đã làm cho mỗi lời nói như vậy mang cái “tạng” của nhân vật, tạo nên được cái chất giọng rất riêng trong tác phẩm của mình
Đọc Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy truyện của ông có một số lượng lớn những nhân vật là phụ nữ Mỗi người một số phận nhưng dường như đều giống nhau ở một điểm, đó là sự tận tụy, lòng hi sinh cho chồng con và người thân mà không bao giờ nghĩ đến chuyện
được đền đáp lại Tiêu biểu như chị Vách (Đời khổ), người vợ (Cặp vợ chồng
ở chân động Từ Thức) người mẹ và người bà (Mẹ và bà ngoại), bà Bơ (Nắng chiều), bà Tuất (Người của nghề), bà Mão (Mẹ và các con)… Nếu theo dõi, chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận ra, ngay trong loại nhân vật này ở truyện ngắn Nguyễn Khải cũng có một vốn ngôn ngữ rất riêng, gần với đời sống nhất Trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, người vợ của anh thương binh tên Toàn nói về nỗi lo canh cánh của mình đối với
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
chồng con như sau: “Mỗi lần váng mặt,
nhức đầu là em sợ lắm, chỉ lo bệnh nhẹ
hoá bệnh trọng, nửa chừng gãy gánh thì
bố con phải dắt nhau đi ăn mày” Trong
Chuyện tình của mỗi người, bà mẹ nói
với người con trai khi đau ốm: “Chiều
nay mẹ đã húp được lưng cháo, xem
chừng cái bụng đã êm” Chất dân dã ở
đây được tạo nên bằng cái duyên của
thứ ngôn ngữ mộc mạc được chưng cất
bởi nhiều khó nhọc của cuộc đời người
phụ nữ - một thứ ngôn ngữ khi đi vào
tác phẩm Nguyễn Khải đã hàm chứa
trong đó thái độ tin yêu, trân trọng của
người cầm bút
Ngôn ngữ hàng ngày của nhân dân
là vô cùng phong phú Đó là cả một thế
giới rộng lớn, thâm sâu để cho nhà văn
tự do lựa chọn Đọc văn Nguyễn Khải,
ta có cảm giác như ông không phải bỏ
công nhiều để lựa chọn lời nói cho nhân
vật Mỗi lời nói đều tự nhiên và hóm
hỉnh Nó được phát ra một cách tự
nhiên từ những suy nghĩ thiết thực và
cá tính của từng nhân vật Truyện
Nắng chiều nói về nhân duyên của một
người phụ nữ khi tuổi đã về già, thái độ
của bà Bơ khi được hỏi chuyện này được
tác giả miêu tả gián tiếp qua lời thoại
của một nhân vật như sau: “Giẫy nẫy
như đỉa phải vôi Mặt mũi đỏ nhừ đỏ tử
Gái chưa chồng nói chuyện hôn nhân ai
mà chả thế” Đọc những câu như vậy
mấy ai không mỉm cười Tác phẩm của
ông vì thế cũng như tươi lại, hấp dẫn
hơn rất nhiều Có thể tìm thấy rất
nhiều câu tương tự như vậy trong
truyện ngắn của Nguyễn Khải
Làm nên giọng điệu dân dã, hóm
hỉnh trong tác phẩm của Nguyễn Khải
không thể không kể đến việc vận dụng
những yếu tố của ngôn ngữ dân gian
như thành ngữ, tục ngữ, ca dao vào lời thoại của nhân vật Đây cũng là một nét đặc sắc trong phong cách của nhà văn Nguyễn Khải Điều này có lí do của
nó Con người trong sáng tác của Nguyễn Khải là con người được ngắm nhìn từ góc độ nhận thức, tư tưởng Để chuyển tải một vấn đề qua tác phẩm của mình, Nguyễn Khải đã thực sự chú
ý “cái đầu” của nhân vật hơn là khắc hoạ một “khuôn mặt” Và để làm được
điều đó, không có cách nào hữu hiệu hơn là chú ý đặc biệt vào lời nói của nhân vật, để nhân vật được tự do phát ngôn, tranh luận, triết lí, bộc bạch nỗi lòng, suy nghĩ của mình Nhân vật trong sáng tác của ông, ngoài tầng lớp trí thức như nhà văn, nhà báo, nhà giáo, những người thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc còn một số lượng lớn những người lao động chân tay thuần tuý Họ là những người không có điều kiện học hành tử tế, nhưng những gì
mà họ học được trong đời sống cũng đủ giúp họ có một bản lĩnh, một triết lí, một quan niệm sống cho riêng mình
Điều đó đã làm cho loại nhân vật này trong sáng tác của ông có một kiểu ứng
xử hết sức thông minh, dí dỏm thông qua những phát ngôn của mình, cái thông minh dí dỏm mang đậm màu sắc dân gian
Trong Mùa lạc, một tác phẩm rất xuất sắc của Nguyễn Khải ở thời kì đầu, người đọc không thể quên một cô Đào với lối ăn nói đầy cá tính, sắc sảo nhờ có một cái vốn ngôn ngữ dân gian
- Trâu qua xá, mạ quá thì, hồng nhan bỏ bị còn gì là xuân nữa hở các anh?
- Các anh đã biết đời em rồi đấy Mỗi năm một tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân
Trang 5Cao Thị Anh Tú Dân d&, hóm hỉnh truyện ngắn Nguyễn Khải, TR 85-92
đi Nồi nào vung ấy, em đã có bốn cháu
dưới xuôi rồi
- Huê thơm bán một đồng muời
Huê tàn nhị rữa giá đôi lạng vàng Giá
đôi lạng vàng chứ chưa vị tất đã bán
đâu anh Huân ạ
- Khi buồn non nước cũng buồn Khi
vui gánh đá lên nguồn cũng vui
Chính nhờ vào những câu nói giàu
chất liệu dân gian như vậy mà tính
cách nhân vật được bộc lộ một cách rõ
ràng hơn, hình tượng nhân vật trong
tác phẩm vì thế cũng trở nên sống động
hơn Dường như tác giả không phải mất
nhiều thời gian lắm trong khâu trần
thuật để làm rõ tính cách nhân vật
Trong truyện ngắn Đời khổ, một
truyện ngắn cũng rất tiêu biểu của nhà
văn, việc vận dụng rất nhiều lần thành
ngữ dân gian vào lời nói của nhân vật
cũng làm cho tác phẩm này có một cái
duyên rất riêng Chị Vách trong truyện
dù tự nhận mình là nông dân ít học,
nhưng tự trong mỗi lời nói của chị
chúng ta vẫn thấy vô cùng giàu có cái
vốn của đời sống Khi nói về bản thân
mình trong mối quan hệ với ông chồng
thiếu tá nhiều chữ nghĩa, chị Vách thổ
lộ:
- Quân tử ẩn hình, tiểu nhân lộ
tướng Ông ấy vẫn phê bình tôi nói
năng vô chính trị, không được như các
bà cán bộ của tỉnh
- Giàu vì bạn, sang vì vợ, có một bà
vợ như tôi ông chồng cũng hóa hèn
- Ông ấy học cao lắm chú ạ, một
rương vàng không bằng một nang chữ
Một đời chỉ biết đánh giặc và đọc sách
thôi
- Người khôn nhọc lo, người dại ăn
no lại nằm Tôi mới là người sướng chú
ạ Chị Vách nói về chuyện dạy dỗ con ở thành phố:
- Làm có chúa, múa có trống, một mình tôi dạy con ở quê thì được, chứ dạy ở tỉnh thì biết dạy những gì
Nuôi con lớn mà con chẳng nên người, chị bất lực mà than thở:
- Con thẳng da bụng, mẹ chùng da mắt, nuôi con hai chục năm trời mà con trả công cha mẹ thế này ư ?
Những câu nói như vậy trong tác phẩm đã làm cho hình tượng nhân vật sống động hẳn lên Nó mang cái “gu” rất riêng của nhà văn mà nhân vật lại rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày Bởi những con người ấy, lời nói ấy ta vẫn gặp hàng ngày, rất nhiều trong cuộc sống đời thường
Sử dụng ngôn từ chắt lọc từ đời sống là một trong những sở trường của Nguyễn Khải Đó là thứ ngôn ngữ mà
tự bản thân nó đã mang trong mình nét dân dã, hóm hỉnh Đây cũng là một thành công rất cần được ghi nhận ở Nguyễn Khải
2 Đối thoại là hình thức không thể thiếu được ở truyện ngắn Trong đó nhà văn phải luôn nắm vững được những vấn đề như quy tắc tương tác, qui tắc
đối đáp, quy tắc lượt lời Nhưng đó mới chỉ là cái tối thiểu nhất khi xây dựng
đối thoại Khả năng sáng tạo của tác giả, phong cách của nhà văn chỉ có thể
đạt được khi từ ngữ, cú pháp và đặc biệt
là ngữ điệu mà nhà văn đó sử dụng mang một dấu ấn riêng, không lặp lại Nguyễn Khải là nhà văn đã làm được
điều đó khi ông luôn tạo ra được trong tác phẩm của mình những cuộc hội thoại sinh động và giàu kịch tính, những cuộc đối thoại như kéo người đọc
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
lại gần hơn để cùng bàn bạc và trao đổi
bởi sự dân dã và hóm hỉnh trong đó
Trong truyện ngắn của Nguyễn
Khải, người đọc như nghe thấy “những
cuộc tranh cãi, những luồng suy nghĩ,
những luồng tư tưởng đang có thực ở
ngoài đời”[1, tr 59] Không khó để nhận
ra rằng nhân vật của Nguyễn Khải dù
là trí thức hay nông dân đều thích được
tranh luận và triết lí Đối thoại trong
tác phẩm Nguyễn Khải có khi được thể
hiện một cách trực tiếp nhưng có khi lại
được thể hiện gián tiếp xen cài vào
trong lời trần thuật Điều đặc biệt là
những đoạn đối thoại như vậy trong
sáng tác của ông thường vẫn rất sinh
động và giàu kịch tính nhưng cũng rất
hóm hỉnh, có một cái duyên rất riêng
Ngay từ tác phẩm đầu tay như
truyện ngắn Nằm vạ, đặc điểm này
cũng đã được hình thành Nói về cái
“truyền thống” nằm vạ của một bà già,
nhà văn rất thuận lợi để phát huy tính
hài hước, hóm hỉnh trong mỗi đoạn
thoại như vậy Đây là đoạn hội thoại
của những giáo dân trước tình trạng
“nằm vạ” của bà Bột:
- Bà ấy lại ăn vạ bộ đội đấy mà,
chứng nào vẫn tật ấy
- Ăn vạ bộ đội thì được cái gì, chết
cứng đờ kia kìa, không đánh sao chết?
- Đã chết đâu, thở rốc như con cá
mè kia! Hay:
- Đã chết đâu?
- Cũng sắp chết!
- Tự dạo xưa đến giờ đã chết mấy
lần nhưng có thấy đưa đám lần nào?
Những đoạn đối thoại như vậy tự nó
đã nói lên được chân thực và sinh động
tính cách nhân vật mà không cần phải
dài dòng, lắm lời trong trần thuật Hình
tượng bà Bột với thói nằm vạ đã hiển
hiện một cách rõ nét trong những mẩu hội thoại ngắn gọn
Một đoạn khác trong Nắng chiều, nói về cảnh lấy chồng của một bà chị họ
đã nhiều tuổi, nhà văn viết:
- Chúng tao định gả chồng cho bà Bơ, mày thấy thế nào?
Tôi hét lên:
- Sắp xuống lỗ rồi còn đi lấy chồng, các bà tính toán rõ hay!
Chị Đại vẫn nói dửng dưng:
- Chúng mày đều là quân ích kỉ Chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người Mày sợ xấu hổ à?
Còn đây là đoạn văn kể về mối nhân duyên của một bà cán bộ với một anh lính, chuyện tình cảm trai gái, vợ chồng mà cứ như nghe một cuộc hội nghị hay một cuộc thẩm tra lí lịch vậy:
“Quen nhau ít ngày thì cô ta hỏi thẳng tôi: “Anh có bằng lòng xây dựng gia
đình với tôi không? Tôi nói đùa “Cô muốn làm lẽ à, tôi sẵn sàng” Cô ta nói không cười: “Tôi đã điều tra lí lịch của anh rất kĩ, trừ phi anh nói dối tổ chức” Tôi nín lặng Cô ta lại nói tiếp: “Em và anh đều là cán bộ, là đảng viên, gia
đình thuộc tầng lớp nghèo, có lấy nhau cũng không ảnh hưởng gì đến sự tiến bộ của mỗi người” Đọc những đoạn như vậy, người đọc không thể không cười bởi cái hài được tạo ra ở những nghịch lí Nguyễn Khải không thiên về miêu tả ngoại hình, chân dung nhân vật như một số tác giả khác, ông thường có sở trường trong việc phát hiện đời sống tâm hồn, tư tưởng của nhân vật qua các màn hội thoại đầy sinh động như vậy
Đây là đoạn thoại giữa Tuy Kiền và người vợ của ông ta trong tình huống Kiền mới từ trụ sơ uỷ ban về với bao bực dọc trong lòng:
Trang 7Cao Thị Anh Tú Dân d&, hóm hỉnh truyện ngắn Nguyễn Khải, TR 85-92
- Thôi, tôi lại dứt khoát rồi đấy!
Vợ hỏi:
- Dứt khoát gì?
- Dứt khoát xin thôi chức phó chủ
nhiệm, xin thôi tất, làm anh viên xã
viên thường
Người vợ cười:
- Ông nói khẽ chứ, rồi sáng mai ông
có cắp mũ ra trụ sở cũng đỡ xấu hổ với
làng xóm
- ừ, cái tính mình nó vốn thều thào,
nhưng chết vì cái thều thào ấy mà
Chỉ một đoạn thoại như vậy, tính
cách của Tuy Kiền đã ít nhiều được bộc
lộ: đó là con người nóng nảy, dễ tự ái,
nhiều mưu tính nhưng cũng rất nhiệt
tình trong công việc
Có thể khẳng định rằng, đối thoại
trong truyện ngắn Nguyễn Khải diễn ra
hết sức đa dạng và sinh động như chính
các nhân vật của ông cũng vốn rất đa
dạng vậy Tạo dựng những cuộc hội
thoại cực kì sinh động, dí dỏm, nhưng
không vì thế mà chiều sâu triết lí trong
đó giảm đi, Nguyễn Khải dường như đã
làm được cái việc mà Pautôpxki gọi là
“dòng chảy ngầm” trong đối thoại ở
truyện ngắn
3 Trong tác phẩm của nhà văn
Nguyễn Khải, “người kể chuyện luôn là
một nhân vật quan trọng của câu
chuyện Anh ta chứng kiến, chia sẻ,
bình luận về mọi diễn biến và dẫn dắt
cốt truyện” [5, tr 174] Lời kể chuyện
trong tác phẩm của ông ít khi là lời trần
thuật trung tính Nhưng cũng cần phải
công nhận rằng, dù có vẻ luôn “lộ diện”
trong tác phẩm thì đó vẫn là một người
kể chuyện rất có duyên Cái duyên đó có
khi lại đươc tạo nên bởi lối nói tự trào,
đùa tếu của chủ thể trần thuật
Trong tác phẩm Nằm vạ, có đoạn miêu tả những hoài nghi của những người xung quanh về cái chết của bà Bột, ông viết: “Nhưng ai là người đã
đánh chết? Tiểu đội trưởng bộ đội chăng? không phải Anh chỉ cầm tay bà
cụ giữ lại Vậy ai thụi, ai đá, bắt người
đó ra nhận tội và xin lỗi Nhưng làm gì
có ai? Mà cũng không ai trông thấy sự hành hung đó để làm chứng Vậy làm
ngày, trước đám đông mà đã rắc rối, phức tạp không tìm ra đầu mối.”
Khi nói cái sự bén duyên của một
ông già, trong truyện ngắn Nắng chiều, Nguyễn Khải đã nói thật hài hước, nhưng đằng sau đó vẫn thấp thoáng niềm vui, sự sẻ chia và thông cảm: “Bà lão nấu ngon quá, nghề riêng mà nên chỉ mấy ngày sau ông lão lại mò đến xin
ăn một bữa nữa Rồi ngày nào cũng đến
đòi ăn, ăn bữa trưa Rồi ăn cả bữa tối Rồi đòi ngủ lại, vì say quá, vì trời tối quá, thiếu gì lí do xin nghỉ lại của một
ông già đang ngất ngưởng trước hạnh phúc mới ”
Trong truyện ngắn Sống giữa đám
đông, khi nhân vật chính của truyện là
ông Bột - “vụ trưởng của một bộ quan trọng”, một người vừa có tài lại vừa có tâm, nhưng “sống giữa đám đông” vẫn không được vị nể, nhà văn thắc mắc
“Nhiều người nói, bước đường hoan lộ của ông như thế là chậm Vì ông là người có học từ ngày xưa, lại nhạy bén
và chịu khó trong công việc, xử sự với bạn bè cấp dưới chân thật, thân tình Vậy mà một đời ông không được bạn bè, cấp dưới và cả vợ con nể trọng như ông xứng đáng được có Vì sao thế? Chẳng vì sao cả Ông chả có khuyết điểm gì cả Nếu có thì cũng rất nhỏ nhặt, không
Trang 8trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008
thành dư luận bao giờ Còn ưu điểm thì
nhiều, ai cũng bảo ông là một người có
thể chơi được, cộng tác được, nhờ cậy
được Mà lại không được xung quanh
kính trọng Lạ lùng nhỉ ” Đoạn văn
này có tính chất giống như một đoạn
“đặt vấn đề” trong tác phẩm và người
đọc cũng không khó khăn lắm khi có
thể “tự giải quyết vấn đề’ của tác phẩm
ở chính những đoạn như vậy Trong một
đoạn ngay sau đó, ông viết cũng với cái
giọng điệu như vậy, đằng sau những lời
lẽ đó là một nụ cười cảm thông “Một đời
hình như ông chưa làm ai giận, chưa
làm ai bực mình chứ chưa nói tới sợ
Nhưng hình như cái tính hiền lành,
biết điều quá mức của ông cũng khiến
những người xung quanh coi thường
ông thật Đến vợ con tôi là những người
tử tế hẳn hoi mà còn coi thường ông
huống hồ là người khác”
Từ sau những năm 1980, người kể
chuyện trong tác phẩm của Nguyễn
Khải thường xuất hiện ở ngôi thứ nhất
trong vai nhân vật “Tôi” Tất nhiên
cũng không nên đồng nhất nhân vật
này với chính nhà văn Nhưng điều
không thể phủ nhận là nhân vật “Tôi”
trong sáng tác Nguyễn Khải vẫn mang
đậm dấu ấn chủ quan tư tưởng, tình
cảm, tâm tư của tác giả Vậy nên cái
chất tự trào trong những tác phẩm của
ông ở giai đoạn sau lại đậm nét hơn bao
giờ hết Trong truyện ngắn Phía khuất
mặt người, nói về bạn văn, nói về nghề
mình mà ông cứ tưng tửng như đang
đùa cợt: “ còn tôi thì thuộc loại đang
hãnh tiến, muốn làm gì cũng được, đi ào
ào, viết cũng ào ào Văn của anh cũng
khác với văn tôi Văn buồn, chữ nghĩa
mệt mỏi nhưng đã đọc thì chữ nghĩa
không thể quên được, nó dính vào da
thịt mình cho đến tận bây giờ” Trong suốt cả truyện ngắn nói về mình, về những người đồng nghiệp của mình ở truyện ngắn này, Nguyễn Khải đều sử dụng cái giọng điệu tự trào, đùa tếu như vậy ở truyện Người ngu, ngay ở phần mở đầu tác phẩm ta đã bắt gặp
đoạn văn có tính chất tự trào như vậy:
“Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn ấm ức khi nghĩ đến cách xử sự của mình trong cái vớ vẩn đã xảy ra là đúng hay không
đúng, là người biết điều hay là một kẻ hết sức ngu Chắc là ngu thì đúng hơn vì tôi vốn là người nhút nhát, sợ người khác to tiếng vì họ phải chịu thua thiệt, chịu uất ức ” Rất nhiều lần trong tác phẩm của Nguyễn Khải, chúng ta vẫn gặp một “Tôi” tự nhận mình là “ngờ nghệch”, “ngây ngô”, “thuộc loại máu loãng” Tất cả đều được thể hiện qua một giọng văn có phần thản nhiên, phớt tỉnh nhưng cũng rất hài hước và dí dỏm
Không thể phủ nhận “tính vấn đề” trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải Nhưng điều thú vị là để chuyển tải những vấn đề có tính triết lí cao sâu
và nhân văn về con người, Nguyễn Khải
đã tạo cho tác phẩm của mình cái giọng
điệu dân dã, hóm hỉnh rất riêng, đầy sáng tạo mà cũng đậm chất “đời sống” Qua khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy rằng chất giọng dân dã, hóm hỉnh trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
được tạo nên từ việc vận dụng một cách
tự nhiên khẩu ngữ, những yếu tố của ngôn ngữ dân gian như thành ngữ, ca dao vào trong lời thoại, tạo dựng được những cuộc đối thoại sinh động, giàu kịch tính và đặc biệt là tác giả đã sử dụng môt lối nói tự trào, đùa tếu của chủ thể trần thuật Chính vì vậy mà
Trang 9Cao Thị Anh Tú Dân d&, hóm hỉnh truyện ngắn Nguyễn Khải, TR 85-92
câu chuyện ông đem đến cho người đọc
chân thực, tươi mới mà cũng thật dung
dị và thoải mái Đây cũng là yếu tố góp
phần làm cho sáng tác của Nguyễn Khải trở nên dân chủ hơn trong mối quan hệ với bạn đọc
Tài liệu tham khảo
[1] Lại Nguyên Ân, Sống với văn học cùng thời, NXB Văn học, 1998
[2] Lê Bá Hán (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
1997
[3] Nhiều tác giả, Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2004
[4] Nguyễn Khải, Tuyển tập truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, Hà Nôị, 2002
[5] Tuyết Nga, Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2004
Sumary
Popularity, humorous – an outstanding tongue aspect in
short stories of Nguyen Khai
In this article, we learn about the elements that made up a popularity and humorous writing style of Nguyen Khai This writing style itself made up works which are considored as problem, ideality of the writer become realer, fresher and easier It is a writing style that initially made short stories of the writer become more democratic in a connection with readers This is one of aspects that created a style in short stories of Nguyen Khai
(a) Cao học 14, chuyên ngành văn học việt nam, trường đại học vinh