Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay - nhìn từ cội nguồn truyền thống"... trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XX
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Sự gia tăng của yếu tố
kỳ ảo trong truyện
ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay - nhìn từ cội nguồn truyền thống"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009
sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay- nhìn từ cội nguồn truyền thống
đinh Trí Dũng (a)
Tóm tắt Gia tăng yếu tố kỳ ảo đã trở thành một xu hướng vận động của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Bài viết của chúng tôi đi sâu làm rõ mối quan hệ giữa yếu
tố kỳ ảo trong truyện ngắn hiện nay với các yếu tố thần kỳ, kỳ ảo trong văn học trung đại, văn học 1930 - 1945 để thấy được sự vận động hợp qui luật của dòng chảy lịch sử văn học
khoảng sau 1986 đến nay, một bộ phận
quan trọng của truyện ngắn Việt Nam
đã mở rộng khả năng phản ánh hiện
thực bằng cách đưa thêm các yếu tố “kỳ
ảo” (Fantastique) để tạo nên những tác
phẩm văn chương vừa có tính hiện thực,
nhân văn, vừa kích thích óc tưởng
tượng tích cực của người đọc, tạo ra
những hình tượng đa nghĩa, trong đó
cái thực được chuyển tải qua bức màn
sương khói hư ảo của cái không thực,
nhờ thế mà đánh thức khả năng đồng
sáng tạo của người đọc ở những mức
độ khác nhau, có thể tìm thấy xu hướng
này trong các sáng tác của Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma
Văn Kháng, Lê Minh Khuê, Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị
Hảo, Lưu Sơn Minh, Lý Lan, Ngô Tự
Lập, Nguyễn Đình Bổn, Hồ Anh Thái
Trong một công trình nghiên cứu, qua
việc khảo sát 10 tập truyện ngắn tiêu
biểu xuất hiện sau 1975, tác giả
Nguyễn Minh Hồng đã thống kê được
50 truyện ngắn mà ở đó có sự tham gia
của yếu tố kỳ ảo ở những mức độ khác
nhau (1) Bùi Việt Thắng đã chính xác
khi khẳng định một đặc điểm của
truyện ngắn sau 1986: “Đã tái xuất loại
“truyện ngắn kỳ ảo” trong đó yếu tố
huyễn tưởng đã nâng cao trí tưởng
tượng của nhà văn, từ đó giúp bạn đọc
khám phá sâu hơn thực tại” (2) Trong
bài viết này, chúng tôi cũng dùng khái niệm cái “kỳ ảo”- tương đương với Fantastisque của phương Tây, khái niệm này khi chuyển sang tiếng Việt, các dịch giả thường dịch là kỳ ảo, kỳ dị, huyễn tưởng, huyền ảo Có lúc nó còn
được mở quá rộng biên độ thành Truyện
ma, truyện kinh dị Thuật ngữ này có nguồn gốc từ cái tên La tinh là Fantasticus, được Ampère - nhà phê bình văn học Pháp đưa ra khoảng năm
1828 nhằm giới thiệu với độc giả về Hoffmann, một nhà văn chưa hề có tên tuổi ở Đức lúc ấy (Theo chúng tôi, không nên lạm dụng khái niệm “kỳ ảo”
để chỉ mọi sáng tác mà ở đó có sự tham gia của yếu tố “ảo”, yếu tố ma quái Nếu mục đích chỉ là gợi sự hiếu kỳ, tò mò, thậm chí khiếp đảm, nhà văn rất có thể
sẽ trượt dần sang lãnh địa của truyện
ma quái, truyện kinh dị (ghost story), nơi có những tác phẩm khiến người ta phải e ngại về ý nghĩa nhân văn đích thực)
2 Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới với muôn vàn khó khăn, thử thách Cuộc sống bề bộn sau chiến tranh với bao nhiêu điều lạ lùng không thể giải thích bằng đầu óc duy lý thông thường, nhu cầu đi sâu khám phá thế giới nội tâm phức tạp, đầy bí ẩn của con người, quá trình tiếp xúc với hàng
Nhận bài ngày 13/02/2009 Sửa chữa xong 17/03/2009
Trang 3đinh Trí Dũng sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện , tr 5-8
loạt sáng tác kỳ ảo của J Joyce, T
Mann, F Kafka, Edgar Allan Poe được
dịch ra tiếng Việt là những lý do khiến
cho các truyện ngắn kỳ ảo có mặt nhiều
hơn trong đời sống văn học chúng ta
Đọc nhiều truyện ngắn Việt Nam sau
1986, người ta thấy xuất hiện nhiều thủ
pháp tương đồng với các thủ pháp của
truyện kỳ ảo thế giới Chảy đi sông ơi,
Con gái thuỷ thần, Trương Chi (Nguyễn
Huy Thiệp), Sự tích ngày đẹp trời (Hoà
Vang), Hồn trinh nữ (Võ Thị Hảo), Thư
gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Con hổ mun
(Đặng Thư Cưu) đã ảo hoá không -
thời gian, dùng những hình tượng thần
thoại và folklore đã được cải biến để tạo
ra những nhận thức bất ngờ cho người
đọc Nghệ thuật sử dụng cái nghịch dị
(Grotesque) được vận dụng để thể hiện
những nét dị biệt, khác thường ở nhân
vật Nguyễn Minh Châu là người sớm
đưa cái “dị biệt” vào văn học với nhân
vật Quì (Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành), lão Khúng (“Phiên chợ Giát”
và “Khách ở quê ra”) Mô típ nhân vật
“hoá thân”, nhân vật biến dạng được
thể hiện khá thành công thể hiện
những suy tư sâu sắc về sự méo mó, què
quặt ở con người: Lão Khúng có lúc thấy
mình hoá thành con bò Khoang Đen
Lão còn thấy con cái mình dường như
không còn là con lão mà là con của loài
cầy cáo, trăn beo nào đấy Trong Lên
ruồi của Đoàn Lê, nhân vật trong cơn
sốt nhà đất đã biến thành ruồi ngay
trước mắt đồng nghiệp và gia nhập vào
thế giới ruồi và ở đó anh ta cũng không
thể thoát khỏi sự phàm tục, phi lý (Câu
chuyện của Đoàn Lê gợi nhớ “Biến
dạng” của Kafka với hình ảnh người
biến thành con bọ) Hoan (Chạy trốn
-Phạm Ngọc Tiến) mường tượng mình và
con lợn có chung một kiếp Lão Tuế
trong Hoá kiếp (Tạ Duy Anh) không
hiểu con Sừng măng hay chính lão đang
được hoá kiếp Với bút pháp kỳ ảo, các tác giả đã có những suy tư sâu sắc về con người, về những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hiện tại Và đây cũng là một biểu hiện của sự gặp gỡ tất yếu giữa văn học Việt Nam đương đại với văn học hiện đại thế giới
3 Rõ ràng, không thể phủ nhận
ảnh hưởng của văn học nước ngoài, đặc biệt là ảnh hưởng của bộ phận văn học
kỳ ảo có truyền thống từ Hoffmann, Edgar Poe, Balzac (Miếng da lừa) đến J Joyce, Th Mann, Buzzati, văn học kỳ
ảo Mỹ la tinh Nhưng theo chúng tôi, căn nguyên sâu xa của việc gia tăng các yếu tố kỳ ảo thì phải xem xét trong truyền thống văn học dân tộc Về phương diện này, Bakhtin thật có lý khi
ông viết rằng mọi hiện tượng văn học
đều “bắt rễ rất sâu vào ký ức xa xôi” Nguyễn Đăng Mạnh cũng cho rằng:
“Mỗi thể loại, ngoài ý muốn của người
sử dụng nó, không bao giờ chịu quên tổ tiên của nó dù đã lùi rất xa vào thời viễn cổ” (3) Còn Nguyễn Tuân thì nói
đến cái “gen” của thể loại Có thể thấy mối dây liên hệ bền chặt giữa các yếu tố
kỳ ảo của văn học sau 1986 với thần thoại, cổ tích, đặc biệt là với truyền thống văn xuôi trung đại với hàng loạt tác phẩm kiểu chích quái, truyền kỳ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả Các tác phẩm này thường đem đến cho người
đọc một không khí hoang đường, lạ lùng, với những thần, phật, yêu quái, hồn ma nhan nhản khắp nơi đang hàng ngày, hàng giờ can thiệp vào cuộc sống con người Các tác giả truyền kỳ, bên cạnh niềm tin nhất định vào những yếu tố siêu nhiên còn chủ yếu muốn dùng cái kỳ ảo như một thủ pháp để thể hiện những nghịch cảnh trớ trêu, những số phận bi kịch, đồng thời để
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009
giáo hoá, răn đời Đến thời kỳ 1930 -
1945, hàng loạt tác phẩm có yếu tố kỳ
ảo xuất hiện trong các sáng tác của Thế
Lữ, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân, Nhất
Linh (Trại bồ tùng linh, Vàng và máu
của Thế Lữ, Đám cưới hai u hồn ở chùa
Dâu, Bóng ma nhà mệ Hoát của Vũ
Bằng, Lan rừng, Bóng người trong
sương mù của Nhất Linh, Rượu bệnh,
Xác ngọc lam, Loạn âm của Nguyễn
Tuân) Dường như lúc này, người viết
không còn muốn phúng dụ, răn đời mà
qua những cái hoang đường muốn tìm
một cách thức để “lạ hoá” văn chương,
cuốn hút người đọc bằng những cảm
giác khác lạ, thậm chí rùng rợn Đáng
chú ý trong số này là hàng loạt tác
phẩm “Yêu ngôn” của Nguyễn Tuân
xuất hiện trên các tờ Thanh nghị và
Trung bắc chủ nhật, tạo thành cả một
mảng sáng tác độc đáo của ông Nguyễn
Tuân - người hâm mộ Liêu trai chí dị
của Bồ Tùng Linh, bằng tài năng của
mình đã tạo ra cả một thế giới nửa
người, nửa ma, mà ma cũng là loại ma
tài hoa, tài tử, luôn khắc khoải đi tìm
cái đẹp, sống ở cõi âm nhưng vẫn hướng
về cõi trần để làm tiếp việc đền ơn, báo
oán, trả nghĩa, trả tình còn dang dở Có
lẽ cho đến nay, chưa có nhà văn hậu
sinh nào vượt được Nguyễn Tuân với
những tác phẩm ma quái, rùng rợn kiểu
Liêu trai như Xác ngọc lam, Lửa nến
trong tranh, Chùa đàn Sau cách
mạng tháng Tám, với truyền thống
nhấn mạnh tính hiện thực, tính tuyên
truyền, tính chính trị, các yếu tố kỳ ảo
có lúc bị xem như mê tín, dị đoan, phản
duy vật Vì thế nó dần dần trở nên lạc
loài trong đời sống văn học Sau thắng
lợi mùa xuân 1975, đặc biệt là sau
1986, yếu tố kỳ ảo lại dần dần xuất hiện
trở lại, ngày càng sâu đậm, phản ánh sự
vận động mang tính qui luật, khi chúng
ta biết rằng hiện thực cuộc sống và nội
tâm con người luôn luôn chứa đựng những điều bí ẩn và kỳ lạ, những điều
bí ẩn ấy không bao giờ cả khoa học lẫn văn chương có được lời giải đáp cuối cùng
Đọc các truyền ngắn kỳ ảo sau
1986, người ta dễ dàng nhận ra mối dây liên hệ bền chặt với truyền thống Truyện ngắn kỳ ảo Việt Nam không nhiều những tình tiết giống truyện kỳ
ảo thế giới như ký giao kèo với quỉ, tiếng hú trong đêm, xác chết gõ cửa, ứng nghiệm của lời phù chú…Ngược lại, truyện kỳ ảo của ta thường tìm về với cội nguồn truyền thuyết, cổ tích, dã sử hoặc truyện truyền kỳ dân tộc Đọc Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy “hiện diện vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân ca, tục ngữ và đó không đơn giản chỉ là những trích đoạn riêng rẽ hay sự mượn nhập các môtip mà là sự
ảnh hưởng, cách điệu hoá chúng” (4) Bản thân tác giả cũng xác nhận: “Khi viết văn, tôi luôn luôn tìm lại những giá trị truyền thống Tôi nghĩ một nhà văn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thuỷ nhất của dân tộc mình” (4)
Có lẽ vì thế mà nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp là những con người suốt đời đi tìm huyền thoại, tìm “giấc mơ ban ngày” về Mẹ Cả (Con gái thuỷ thần), về trâu đen (Chảy đi sông ơi), về hoa tử huyền (Muối của rừng) Nhiều truyện ngắn của Võ Thị Hảo như những truyền thuyết, dã sử, cổ tích viết lại, với những tiêu đề gợi màu sắc huyền ảo: Dây neo trần gian, Vũ điệu địa ngục, Hồn trinh nữ, Biển cứu rỗi , với các
khu rừng kia…”, “Ngày ấy…” Tạ Duy Anh, Lý Lan, Ngô Văn Phú, Ngô Tự Lập cũng đã tạo ra trong nhiều truyện ngắn những tình huống, những nhân vật bảng lảng sương khói, với những mô típ quen thuộc của dân gian
Trang 5đinh Trí Dũng sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện , tr 5-8
và văn xuôi truyền kỳ trung đại như âm
dương gặp gỡ (Hoa lạ - Nguyễn Đình
Bổn, Miêu Cẩm - Lưu Sơn Minh, Cặp bồ
với ma - Ngô Văn Phú, Giấc mộng tâm
giao - Lã Thanh Tùng); mô típ báo ân,
báo oán (Xác chết trả thù - Ngô Tự Lập,
Huyền thoại về người đẹp - Kiều Bích
Hậu, Bướm trắng - Ngô Văn Phú, Người
cùng phố - Nguyễn Anh Thư); môtip “sự
lạ” như cô bé mồ côi nhỏ bé nhấc được
hòn đá nặng chưa từng ai nhắc nổi
(Nàng Sinh - Nguyễn Huy Thiệp), bông
đại trắng trên tờ lịch bỗng biến mất
(Hoa đại trắng - Đức Ban) Quan niệm
về sự sống của linh hồn sau khi chết,
quan niệm về mối liên thông cõi âm và
cõi dương, quan niệm thiện giả thiện
báo, ác giả ác báo của cha ông xưa
đang sống lại trong những hình thức
hiện đại Và những niềm tin tâm linh
ấy quả là cần thiết để con người biết
dừng lại trước cái ác, biết sống nhân
hậu hơn với đồng loại
Tất nhiên, trong xã hội hiện đại, không ai lại chỉ nhắm mắt tin vào những điều bí ẩn, không ai tìm về quá khứ để chỉ sống với quá khứ Đưa cái kỳ
ảo vào văn học cũng chỉ là một con
đường trong nhiều con đường để nhà văn khám phá chiều sâu của hiện thực
đời sống Cũng còn chờ thêm thời gian
để nói rằng đã xuất hiện một khuynh hướng văn học kỳ ảo trong văn học Việt Nam Nhưng rõ ràng đây là một trong những hướng đi triển vọng của truyện ngắn, là sự gặp gỡ tất yếu giữa xu hướng hội nhập với bên ngoài và sự tìm
về những truyền thống văn học dân tộc Thạch Lam trong Theo dòng từng nói
đại ý rằng muốn tiến kịp nhân loại thì trước hết phải đi sâu vào tâm hồn dân tộc mình Rõ ràng, truyền thống văn học đang tiếp sức, đang bền bỉ, âm thầm tạo nên sức mạnh cho sự sáng tạo của các nhà văn nói chung, cho các cây bút truyện ngắn hôm nay nói riêng
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Minh Hồng, Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh, 2002
[2] Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, 2004, tr 341 [3] Nguyễn Đăng Mạnh, Lời giới thiệu Yêu ngôn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2000, tr 11 [4] TN Philimonova, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội,
2001, tr 59
SUMMARY
The INCREASE OF FANTASY IN VIETNAMESE SHORT STORIES
FROM 1986 UP TO NOW in the perspective of TRADITIONAL POSITION
Increase of fantanstic character has become a evident tendency of Vietnamese short stories in the period from 1986 up to now The paper deals with the relationship between fantanstic character in contemporary short stories and the one
in the middle time and the period from 1930 up to 1945 literature in the order to define indispensable movement of literature development
(a) khoa ngữ văn, trường đại học vinh