Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Quan niệm mới về sự sống trong tập thơ "Bài ca những con chim đêm của Nguyễn Quang Thiều"... Bài báo đi sâu nghiên cứu những nét mới trong quan niệm về
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Quan niệm mới về
sự sống trong tập thơ
"Bài ca những con chim đêm của Nguyễn
Quang Thiều"
Trang 2Nguyễn thị hiền quan niệm mới về sự sống trong tập thơ ,tr 16-21
Quan niệm mới về sự sống trong tập thơ
Tóm tắt Bài báo đi sâu nghiên cứu những nét mới trong quan niệm về sự sống trong tập Bài ca những con chim đêm, một trong những tập thơ thành công nhất, thể hiện
rõ nét phong cách thơ Nguyễn Quang Thiều
trong những cây bút có đóng góp vào
công cuộc cách tân thơ Việt Nam đương
đại với sự đổi mới về tư duy, cảm xúc và
ngôn ngữ Một trong những nét mới
trong cảm xúc thơ Nguyễn Quang Thiều
chính là những suy ngẫm sâu sắc về sự
sống - cái chết, sự huỷ diệt - sự tái sinh
Có thể nói, thơ Nguyễn Quang Thiều là
“sự trăn trở về sự suy kiệt về cõi thế và
khả năng tái sinh của nhân loại”[1]
Trong các tập thơ Sự mất ngủ của lửa,
Người đàn bà gánh nước sông và Nhịp
điệu châu thổ mới, Nguyễn Quang
Thiều đã cảnh báo về sự tan rã của đời
sống tinh thần và sự khủng hoảng, cô
đơn của con người thời hiện đại Vẫn
tiếp tục mạch cảm xúc từ các tập thơ
trước nhưng ở Bài ca những con chim
đêm, cảm xúc ấy “chín” hơn, sâu sắc
hơn và có lẽ cũng chưa bao giờ thi sĩ cô
đơn như ở thi phẩm này Cô đơn vì
không tìm kiếm được tri âm, tuyệt vọng
vì sự tan rã của đời sống Cái tôi trữ
tình như giật mình thức nhận lại cuộc
sống và chính mình, nhận ra nỗi cô đơn
tuyệt vọng:
Phăng phắc một lá sen già
Đợi ta trên miền nước lặng
Hỡi người hái hoa kiếp trước
Kiếp này có hoá bình không
Phải đào ba tấc đất sâu
Mới tìm được người uống rượu?
Phải lên đến bảy tầng trời
Mới tìm được người hầu chuyện?
Ngẩng mặt một vầng mây đỏ
Nổ vang tiếng sấm lưng trời Cúi đầu một miền cỏ trắng
Nở xoè tám hướng bốn phương
Ngoái trông những tri âm từ kiếp trước, lặn xuống ba tấc đất sâu, bay lên
đến bảy tầng trời, ngẩng mặt, cúi đầu, mở cõi lòng ra bốn phương, tám hướng, tất cả
nỗ lực tìm kiếm tri âm cũng rơi vào hun hút hình ảnh con đường Bài thơ gợi ta nhớ đến nỗi niềm của Trần Tử Ngang xưa:
“Tiền bất kiến cố nhân Hậu bất kiến lai giả ” ở trường ca Nhân chứng của một cái chết, Nguyễn Quang Thiều cũng viết
về nỗi cô đơn của những thi sĩ: “Họ sinh ra trên xứ sở này như sứ mệnh và như sự đày
đoạ Đã bao nhiêu năm rồi họ nói nhưng quá ít người nghe tiếng họ Họ nói như phán xét, như tha thứ, như một bổn phận Khi đi ngang qua những đám
đông họ không bao giờ được cộng vào đông
và đám đông không cộng được họ” Những nhà thơ đã cảnh báo về sự tan rã của đời sống tinh thần nhưng thông điệp ấy đã không có ai đón nhận, thấu hiểu Để rồi cuối cùng “Họ vừa đi qua vừa than khóc, vừa ca hát, và khuất dần trong những cái chết xum xuê như một vụ mùa” “Thế gian rộng lớn là không có gì phân cách và mọi
âm thanh Chàng đều nghe bằng cái tai rộng lớn của cô đơn” (Nhà thơ) Trong một cõi đi về của nhân gian, có lẽ thi sĩ là người mang ám ảnh lớn nhất về nỗi cô
đơn Thơ Hoàng Hưng là một chuỗi rùng
Nhận bài ngày 23/9/2008 Sửa chữa xong 28/11/2008.
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập xxxviii , số 1b-2009 mình khắc khoải trước hư vô Hoàng Cầm
phiêu diêu giữa hai bờ thực - ảo, cuối cùng
cũng chạm phải “Trơ trơ mặt giấy sạm
màu cô đơn” Với Dương Kiều Minh, cuộc
đời như một nỗi niềm khó hiểu chơi vơi,
ngậm ngùi, như sự níu giữ những điều
thật mỏng manh, hư vô:
Tiếng gì đơn độc, xa hơn nỗi buồn
Ước vọng trườn trong thanh vắng
Đây là bài ca xưa, đây là vườn trăng xưa
Vẫn sống rêu phong mái cổ
Một tình yêu tìm đến tự tình
Thềm son lặng bóng mai già đổ
ừ niềm đau chẳng bao giờ nói
ừ hy vọng mong manh hơn cả kiếp người
(Củi lửa) Nguyễn Quang Thiều đau đớn nhận
ra rằng con người trong đời sống hiện đại
dễ có nguy cơ đánh mất mình Họ “gọi mãi
bóng mình bằng cái tên xa lạ” (Những
người lang thang), “lạc ngay trước cửa
ngõ nhà mình (Hồi tưởng tháng 9), họ
phải luôn nỗ lực để chống lại những ảo
ảnh:
Và tôi bắt đầu cuộc trò chuyện với
chính tôi để chống lại sự can thiệp
Của những gì không tôi mà lại giống tôi
Một đầu bàn tôi ngồi, đầu kia là ảo ảnh
Đó là cuộc đối thoại giữa “tôi” và “ảo
ảnh” ảo ảnh đó - chiếc bóng đó phải
chăng là những ký ức văn hoá, là hồn vía
ông cha? Con người hiện đại luôn phải lý
giải, phải tranh đấu để nhận ra những giá
trị đích thực Cuộc tranh đấu ấy không
khoan nhượng “một cái chết đang chờ
hoặc ảo ảnh hoặc tôi” Trong bài thơ Bức
thư đề ngày 25/12, Nguyễn Quang Thiều
đã miêu tả một đời sống trần tục Tác giả
sử dụng một loạt động từ: gào, khóc rống,
săn, tìm, xé, cắt, chửi, tranh giành, kết tội,
tố cáo để biểu lộ trạng thái dung tục,
xung đột và tan rã của đời sống và sự
thảm hại, “bi thương và hèn yếu” của con
người “Sự lừa dối” đã rót đầy vào đời sống
và tất cả rơi vào mê lầm, ngộ nhận Chỉ có một người nhìn ra được cảnh ngộ ấy:
Và lúc đó có người đứng dậy
Đi vào bóng tối
Và quay nhìn lại Thấy mình mẩy chúng ta cắm đầy giáo Phóng tới từ một đấu trường khác
2 Cảm hứng nhận thức lại hiện thực giúp nhà thơ có dịp suy ngẫm thấu đáo hơn về sự sống và cái chết, về lẽ tử sinh trong cõi đời vô lượng này Đoản ca về buổi tối là một bài thơ khá độc đáo cả về
ý tưởng và thủ pháp Nhà thơ chọn bối cảnh đêm: “Khi những ngọn đèn lần lượt tắt và chúng ta đi” Không chỉ riêng Nguyễn Quang Thiều mà rất nhiều nhà thơ đã dùng đêm để thể hiện ý tưởng Với Hoàng Cầm, Về Kinh Bắc bắt đầu bằng năm đêm: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là một nỗi đau xé ruột; với Trần Dần, đêm cũng bịt bùng và đầy bão tố “Tôi còn một mình kháng cự với mênh mông Tôi đứng thẳng trụ người đêm ngã bảy” ở đây, Nguyễn Quang Thiều chọn bóng đêm để tạo nên một thử thách đối với đời sống con người Khi bóng đêm đổ xuống cũng chính
là lúc “tất cả những người chết trở về” với thế giới của người sống Họ trở về mượn nhà cửa, đồ đạc của những người sống để tiếp tục sống lại những cuộc đời lỡ dở đã
đánh mất Và ở đó đã diễn ra cuộc tranh giành giữa các thế lực tối tăm và ánh sáng trong tâm hồn của con người:
Khi những ngọn đèn lần lượt tắt và chúng ta đi
Tất cả những người chết trở về thành phố Một cánh cửa khẽ rít lên, một cái cây chợt rung xào xạc
Một con chó bị xích bỗng sủa thảng thốt Những đám mây chầm chậm vắt ngang ánh sáng vầng trăng
Gió thổi những tấm rèm tung lên rồi tung xuống bất động
Trang 4Nguyễn thị hiền quan niệm mới về sự sống trong tập thơ ,tr 16-21 Những người chết trở về đông hơn
những người đang sống trong thành phố
Họ trở về và sống trong đời sống của
chúng ta
Những người chết đi lại lũ lượt ngó
nhìn mọi nơi
Họ ăn uống, tắm rửa, trò chuyện,
cười khóc
Họ tiếp tục sống một đời sống đột
ngột bị cắt đứt
Họ tiếp tục mơ những giấc mợ bị tan
biến giữa chừng
Những người chết trở về mượn thân
xác chúng ta, mượn giọng nói chúng ta
Những người chết trở về mượn
nhà cửa, đồ đạc và phương tiện của
người đang sống
Mượn công việc của người đang
sống, lời thù hận vẫn vang lên
Cùng với lời thú tội và lời xin lỗi
Cảnh náo loạn cuồng hoan của
những linh hồn chết chiếm một phần
lớn trong bài thơ Khi những linh hồn
chết (những “linh hồn thiện” và những
“linh hồn ác”) xuất hiện, họ khiến cho
những người đang sống phải run rẩy, sợ
hãi Đặc biệt là những linh hồn ác,
chúng dường như ngự trị, lấn át trong
đời sống, chúng xuất hiện và tranh
giành quyền sống với người sống để
kiểm nghiệm lại giá trị của đời sống
này Kết thúc bài thơ thật bất ngờ:
Từ những ngôi sao các thiên thần bay về
Đậu lên trán những đứa trẻ đang
say ngủ
Thành phố được chữa chạy, được
hồi sức trong buổi rạng đông
Bầu trời trên những mái nhà yên
tĩnh và xanh thẳm
Tất cả cửa đã mở, đã thức dậy những
đứa trẻ với gương mặt ngái ngủ
Những thiên thần đã mượn gương
mặt chúng, giọng nói và tâm hồn chúng
Để hiển thị và bày tỏ ở lại
Trong thành phố còn đầy lú lẫn và tội lỗi của chúng ta
“Các thiên thần bay về”, thế lực của cái ác đã không thắng được cái thiện Hay ít nhất cái ác đã không thể xâm phạm tới những đứa trẻ Bảo vệ những
đứa trẻ ấy tức là bảo vệ sự sống trong trắng, thiêng liêng và quí giá của tâm hồn con người Rạng đông đã lên và sự sống lại trở về yên tĩnh, thanh bình Những thiên thần đã ẩn náu trong tâm hồn trẻ thơ để “hiển thị và bày tỏ”cái thiện, cái đẹp trong thế giới “lú lẫn và tội lỗi của chúng ta” Đây cũng là một ý tưởng nhất quán của Nguyễn Quang Thiều trong các tập thơ
Bài ca những con chim đêm là bài thơ dài 150 câu thể hiện rõ nhất tinh thần đời sống của nhà thơ ở tập thơ này Nỗi cô đơn của đời sống hiện tại đã tạo nên những lỗ hổng vô cùng lớn trong tâm hồn con người Để lấp đầy khoảng trống đó, con người cần một cuộc sống “dày đặc” hơn, gấp gáp hơn
Đó là ý tưởng chủ đạo khiến cho mật độ hình ảnh trong bài thơ này rất cao thậm chí, tác giả còn tước bỏ cả không gian sống của chúng để tạo thêm sự
“dày đặc” đó nữa:
Như chỉ còn con tàu nhỏ ngủ im lìm trên bến
Như chỉ còn sóng rì rào, như chỉ còn lại nước
Như chỉ còn xa xăm, thiêm thiếp những quả đồi
Như chỉ còn gió đi qua rừng bạch đàn thẫm tối
Như chỉ còn một người già đau răng
âm ỉ .Như chỉ còn một con cá nhỏ bơi theo
ánh sáng vì sao Như chỉ còn người đàn bà ngủ vùi trong chiếc chăn xa lắc
Như chỉ còn mình tôi, như chỉ còn một bàn tay…
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập xxxviii , số 1b-2009
Điệp từ “như chỉ còn” lặp lại 13 lần đã
làm hiển hiện một thế giới trống rỗng,
các sự vật bị cầm tù, đơn độc Cuộc sống
được đổ đầy bằng từng đời sống riêng
biệt của sự vật Một thế giới tưởng
chừng như đã chết “Nhưng không, có
một tiếng, chợt vọng trong đêm Trôi dạt
trên mặt hồ mênh mông và dội vào bờ
đất Còn một tiếng, con chim đêm đập
cánh và vọng xuống ” Trong cõi âm u
và đổ nát ấy, tiếng chim đêm đã làm
bừng sáng, khơi thức, náo động sự sống:
làm hoảng sợ, làm phụt tắt, làm bật
tung, làm xúc động rung lên Và để
cho con người: nhận ra ngôi nhà, nhận
ra cơn mơ, nhận ra cuốn sách, nhận ra
lớp học, nhận ra một người… Để cho tất
cả sự vật vươn dậy một sự sống mới:
đứng dậy, thoát khỏi, vươn lên, mọc cao
hơn, cả một thế giới như vỡ bùng ra,
như chạy trốn… Tiếng chim đêm đánh
thức cả những linh hồn đã chết… Thế
giới đã bừng tỉnh trong tiếng chim khai
sáng, những giá trị trinh nguyên của
buổi ban sơ được phục sinh thoát khỏi
những ảo tưởng, ngộ nhận, tha hoá Thế
giới trở nên một cái nền thanh bình
tĩnh lặng để tiếng chim “xối vào không
gian” Cuối cùng, ngôi sao đã sáng, hồ
nước cũng sáng lên như một con mắt,
một “con đường sáng như một vệt phấn”
chạy lên đỉnh đồi: “mẹ hãy mang con
lên đỉnh đồi” là một bức thông điệp về
sự khao khát bình yên và bất tử
Nếu như Bài ca những con chim
đêm là bài ca về sức sống mãnh liệt và
quằn quại của cái đẹp, của thơ trước thế
gian tội lỗi và dung tục thì Nhân
chứng của một cái chết là bài ca về
sự hấp hối, đớn đau để tái sinh một đời
sống mới Trường ca này gồm 19 khúc,
được dựng lên như một vở kịch, một câu
chuyện có nhân vật, có diễn biến Theo
tác giả Quỳnh Nhi, ở trường ca này
Nguyễn Quang Thiều đã đưa ra một
thủ pháp khá táo bạo: “Trong năm tập thơ trước, sự bộn bề, viên mãn của đời sống được phát hiện và trình bày dưới
ánh sáng của cảm xúc thi ca Đời sống
đó được hiện lên khi nhà thơ nỗ lực khiến cho nó phải hiện lên trong ngôn ngữ của mình Nhưng ở tập thứ sáu này và đặc biệt trong trường ca Nhân chứng của một cái chết đời sống không còn bị nỗ lực cái tôi làm hiện lên nữa
mà nó phải đấu tranh với tự nó để giành quyền tồn tại Nguyễn Quang Thiều đã dùng một đời sống khác đổ vào đời sống như một chất men kích thích ” Mở đầu cho bản trường ca, nhà thơ đã biến đổi đời sống bằng một cơn mưa tuôn đổ từ trời:
Khi mưa đêm đổ xuống tấm huyền nhung của trời, tôi nhận ra dòng sông
đang chảy Tiếng rì rầm của nước đi về chân trời Tôi nghe tiếng thì thầm con cá cái nói với con cá đực: “nước đã cuốn trôi những tấm lưới vùi tận đáy bùn Và ngày của chúng ta đã đến”
Nhân vật “tôi” đóng vai trò “nhân chứng” để chứng kiến sự biến đổi của
đời sống trong cả 19 khúc ấy:
Có những ngày trong đời dài bất tận Chúng ta rã rời và thích nói về sự kết thúc
“Và ngày của chúng ta đã đến”, có phải là lời của con cá tiên tri Hay đó là tinh thần sông vang lên trong nhịp chảy lớn
Đời sống con người có lúc quá tù túng
và mục ruỗng Ngay cả đến giấc mơ cũng
“đầy sự xếp đặt và không dám bay lên những đỉnh cây” Lúc ấy “dòng sông đi qua đời sống nặng nề, cằn cỗi”, “bằng sự
im lặng khổng lồ, nước nhấn chìm mọi vật không có cánh” Nước cuốn trôi mọi thứ, những phù hoa hư ảo, những dục vọng tầm thường, những giấc mơ nhỏ nhen Mỗi khúc là một bối cảnh với những con người, những sự vật khác nhau: những
đứa trẻ, cô gái, người đàn bà, tôi và em, thi
sĩ, diễn viên kịch Cuộc sống hiện lên như
Trang 6Nguyễn thị hiền quan niệm mới về sự sống trong tập thơ ,tr 16-21 chính nó, để dòng nước cuốn trôi và tẩy
rửa những gì cũ kĩ Và cỗ xe khổng lồ cuồn
cuộn đi qua Có một cuộc đấu tranh dữ dội
giữa sự sống và cái chết: “Một sự sống
lặng câm dưới những đám mây mang theo
cái chết, bên cạnh một cái chết thét gào đòi
được phục sinh” Trong dòng nước lũ, bầy
chim đã ra đi “Có phải sự ra đi lần này là
di cư từ sự sống đến cái chết Hay là cuộc
di cư từ mặt đất lên trời” Cũng trong cơn
biến động dữ dội ấy: “Tôi nhìn lên một
ngôi sao xưa Vẫn như thủa tôi sinh ra
lặng lẽ sáng nhưng giờ tôi thấy gần gũi
hơn và tôi thấu hiểu” Tôi - nhân chứng
của cơn mưa lũ ấy đã nhận ra ngôi sao
bền bỉ sáng ấy để “không còn tuyệt vọng”
Khi tất cả tưởng chừng như gục ngã và bị
nhấn chìm, cuốn trôi bỗng hiện lên một
cây cầu ánh sáng:
Cây cầu vụt lên như ánh sáng
ánh sáng từ thị xã ra đi
Hay từ chốn xa xăm rọi về
Từ trong thị xã ngập nước
Họ đi lên cầu
Một người đàn ông và một người
đàn bà
“Người đàn ông và người đàn bà”- một
cặp tạo ra đời sống ấy đã sống sót qua cơn
lũ “Họ không còn khóc than Không còn
tuyệt vọng, không còn dày vò, về những
năm tháng đã đi qua Họ chỉ đang hình
dung Con đường sẽ dẫn họ về thị xã
Trong buổi bình minh Của một ngày chủ
nhật” Bài thơ kết thúc với một niềm tin
bất diệt vào tâm hồn con người Mọi thứ
tầm thường trong đời sống phàm tục này
sẽ tan biến, chỉ còn lại những giá trị nhân
bản vĩnh hằng Đó là thông điệp nhân văn
mà trường ca Nhân chứng của một cái
chết mang đến cho chúng ta
3 Tập thơ cuốn ta vào một bức tranh rộng lớn của cuộc đời mà ở đó ta có thể phiêu lưu với chính tâm hồn mình Cuộc sống đầy rẫy những cô đơn bất hạnh, khổ
đau và tuyệt vọng nhưng khi ở tận cùng của sự tan rã và tăm tối ấy, bỗng “cháy lên một đời sống mới” Có nhiều ý kiến cho rằng tập thơ này mang nhiều dấu vết, hơi hướng của tôn giáo khi nhà thơ giả định
ra một “ngày tận thế” và khải ca về sự
“phục sinh” của thế giới Nhưng có thể nói Nguyễn Quang Thiều không chịu ảnh hưởng cụ thể một tôn giáo nào cả Với nhà thơ chỉ có một đức tin duy nhất: đó là tin vào sự sống bất diệt, vĩnh hằng - đó là cái
Đẹp tuyệt vời, cái Đẹp hoàn hảo
Không bằng lòng với một kiểu khám phá hiện thực giản đơn, Nguyễn Quang Thiều “mất ngủ” để tìm ra những cách thức mới cho tiếng nói thi ca Từ chỗ tái hiện đời sống kí ức, anh đã xông thẳng vào hiện thực trần trụi, rồi lại chán ghét và khao khát biến đổi thành một hiện thực mới… đó là một quy luật tất yếu của đời sống, của sự vận động Nhưng những nỗ lực ấy lại buộc nhà thơ phải trả giá bằng sự cô đơn và tuyệt vọng của mình Xuyên suốt các tập thơ Nguyễn Quang Thiều là câu hỏi về ý nghĩa của đời sống Thi sĩ đã khát vọng
và hành động liên tục vì khát vọng đó Con lạc đà chở cát qua sa mạc liệu có về
đến đích hay không, chưa ai dám xác quyết chắc chắn nhưng hành động đó đã mang lại ý nghĩa lớn lao cho việc đánh thức giấc ngủ của loài người, hướng chúng ta
đến với “cây ánh sáng vĩnh hằng của sự sống”
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập xxxviii , số 1b-2009
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Đăng Điệp, Nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông, Tạp chí Nhà văn,
Số 2, 2000
[2] Quỳnh Nhi, Nguyễn Quang Thiều - nơi con sóng trăng đang vật vã, Báo Thể thao văn hóa, Số 23/1998
[3] Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình 1975-1990, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998
Summary The view point about life in the Bai ca nhung con chim dem of Nguyen quang thieu
The article has an indepth look into newness in the author’s view point about life in Bai ca nhung con chim dem, one of the most successful poetry books clearly expressing Nguyen Quang Thieu’s poetic style