1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phường vải Nghệ Tĩnh." pps

9 613 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 220,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo đề cập đến từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, bao gồm: không gian sinh hoạt cộng đồng; không gian riêng tư; không gian gắn với địa danh.. Khi đi vào

Trang 1

Báo cáo nghiên cứu

khoa học:

"Từ ngữ chỉ không

gian nghệ thuật

trong hát phường vải

Nghệ Tĩnh."

Trang 2

Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr 30-37

Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phường vải Nghệ Tĩnh

Tóm tắt Bài báo đề cập đến từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, bao gồm: không gian sinh hoạt cộng đồng; không gian riêng tư; không gian gắn với địa danh Khi đi vào lời hát phường vải, việc lựa chọn từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật thường gắn với điểm nhìn của người nói Do vậy, lớp từ này mang

đậm màu sắc giới tính và chịu sự chi phối trực tiếp của ngữ cảnh trong quá trình giao tiếp.

1 Về không gian và không gian

nghệ thuật trong hát phường vải

Nghệ Tĩnh

Không gian là một mảng hiện thực

khách quan và tất yếu gắn với lời hát

của nhân vật nên trong ngôn ngữ, nhà

nghiên cứu có cách riêng để nhận diện

nó Không gian nghệ thuật (KGNT) là

phương tiện để tồn tại và triển khai thế

giới nghệ thuật và cũng là một trong

những phạm trù quan trọng của thi

pháp Khi đi vào tác phẩm nghệ thuật,

không gian vừa mang ý nghĩa địa điểm,

lại vừa gắn với trường nhìn, điểm nhìn

của nhân vật trữ tình Do đó, KGNT trở

thành phương tiện thể hiện ý nghĩa

riêng- biểu tượng nghệ thuật Không

gian trong ca dao dân ca (CDDC) nói

chung và trong hát phường vải Nghệ

Tĩnh (HPV) nói riêng không nằm ngoài

quy luật ấy

Trong việc khảo sát KGNT, người ta

thường phân biệt không gian vật lí

(KGVL) với không gian tâm lí (KGTL)

[8, tr 135-151] KGVL được hiểu là

không gian cụ thể, chỉ địa điểm, nơi các

nhân vật trữ tình gặp gỡ, trò chuyện,

tâm tình Cũng như trong kho tàng

CDDC của người Việt, KGVL trong

HPV là những không gian bình dị của

l à n g qu ê, có quy mô vừa phải và là

những hình ảnh vô cùng gần gũi, quen thuộc với người lao động như dòng sông, con đò, bến nước, mái đình, cây đa, ruộng lúa, bãi ngô, đường làng, ngõ xóm Còn KGTL là không gian thể hiện trạng thái tâm hồn của các chàng trai, cô gái phường vải, là phương tiện nghệ thuật để nhân vật bộc lộ tâm trạng Vì lẽ đó, trong HPV, kiểu KGTL xuất hiện nhiều hơn Do gắn với trường nhìn, điểm nhìn của nhân vật trữ tình, không gian trong HPV trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, mang

ý nghĩa cảm xúc tâm tưởng Sự xa cách, những khó khăn cách trở khiến nhân vật trữ tình cảm nhận được sự mênh mông vô cùng vô tận của không gian với mười hai bến nước, mười hai cửa biển, sông dài biển rộng, tam tứ núi, ngũ lục sông Nhân vật trữ tình dường như ít biểu hiện tình cảm trực tiếp mà thường gửi gắm qua những hình ảnh về không gian Trường nhìn, điểm nhìn của nhân vật trữ tình thường xuất phát từ nỗi lòng, cảm xúc nên không gian cũng chứa đầy tâm trạng Có khi, không gian

được dùng để đối sánh, liên hệ tới tình cảm của con người:

Bao giờ Ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, em đây mới hết tình

Nhận bài ngày 17/11/2008 Sửa chữa xong 30/12/2008.

Trang 3

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 Tuy nhiên, sự phân loại KGVL và

KGTL cũng chỉ mang tính chất tương

đối, rất khó có một sự chia tách rạch ròi

bởi xét cho cùng khi KGVL đi vào thơ ca

thì bản thân nó đã qua sự chọn lọc của

tâm trạng

Trông sao, sao sáng cả trời,

Trông anh, anh đã đến chơi em mừng

[Chặng I-1, C 53, tr 189]

Sao sáng cả trời là KGVL, nhưng

xuất hiện trong ngữ cảnh là nỗi vui

mừng của người con gái khi nhìn thấy

người yêu mà mình đang ngóng đợi thì

không gian ấy dường như đã nhuốm

đầy tâm trạng, lung linh rực rỡ muôn

sắc màu

2 Từ ngữ diễn tả không gian

nghệ thuật trong hát phường vải

2.1 Từ ngữ diễn tả không gian vũ

trụ

Hát phường vải thường diễn ra

trong một không gian cụ thể với khung

cảnh lao động của những cô gái làm

nghề kéo sợi, dệt vải Do vậy, từ ngữ

diễn tả không gian vũ trụ chiếm số

lượng không lớn Tần số xuất hiện

nhiều nhất là không gian trời (28 lượt

lời nam, 29 lượt lời nữ); không gian đất

(6 lượt lời nam, 17 lượt lời nữ); không

gian trăng, sao (13 lượt lời nam, 20 lượt

lời nữ) Tuy nhiên, khi đi vào ngôn ngữ

HPV, không gian vũ trụ cũng biểu đạt

nhiều tầng ý nghĩa, phong phú và sâu

sắc

a Không gian vũ trụ trong HPV với

ý nghĩa là không gian vật lí: trên trời,

cả trời, góc trời, trời mưa, giữa đất, dưới

đất, xuống đất, đất bằng, trăng lên,

trăng nghiêng

Cây đứng giữa đất nói cây đổ

Cây đứng một chỗ nói cây trôi,

Chàng mà đối được chàng lôi em về ?

[Chặng II-2, C 4, tr 237]

Với những cảm quan về không gian

vũ trụ khá độc đáo, các chàng trai, cô

gái phường vải còn đưa hình ảnh trời

đất, trăng sao vào các câu đố, câu đối (Đố: Cây chi trăm trượng tứ mùa có hoa? - đáp: Đèn trời trăm trượng tứ mùa

có hoa; đố: Anh về mua lụa bọc giời?-

đáp: Anh sai người thổi gió mây lên che trời; đố: Ai trổ trời cho chim bay?- đáp: Cái đó xin hỏi thấy bày ) Vấn đề ở đây

là các câu đố, lời xuất đối phần lớn là của bên nữ (chiếm 96,5% với 138/143 lời trong chặng hát đố, hát đối được khảo sát), điều đó cho thấy cảm thức về không gian vũ trụ trong HPV thường bắt đầu từ phía các cô gái với những ý tưởng thật độc đáo thông qua những vế

đố, vế đối bất ngờ, vừa mộc mạc vừa trí tuệ Do vậy, không ít câu đố đã khiến

đối phương lúng túng, hoặc chọn cách trả lời qua quýt (đố: Ai sinh ra trời?-

đáp: Ông trời cụ trời sinh ra); hoặc đẩy yêu cầu tìm câu đáp về phía đối phương (Đố: Mặt trời ở đó trốc (đầu) trời ở mô?-

đáp: Em về van đất đất ơi- Ra đây anh chỉ trốc trời cho em) Sự độc đáo, sáng tạo trong chặng hát đố hát đối của HPV

sẽ được chúng tôi đề cập tới kĩ hơn ở một bài viết khác

b Không gian vũ trụ với ý nghĩa là không gian tâm lí

(i) Không gian vũ trụ diễn tả các cung bậc cảm xúc

HPV là hát giao duyên Mỗi cuộc HPV đều qua các chặng các bước với hát dạo, hát chào hát mừng (chặng 1); hát

đố hát đối (chặng 2); hát mời, hát xe kết

và hát tiễn (chặng 3) Qua các chặng các bước ấy, trai gái phường vải chia sẻ với nhau bao tâm tư, tình cảm, bao nỗi niềm riêng: có vui - buồn, có hạnh phúc

- khổ đau, có yêu thương - hờn giận Những tâm trạng ấy thể hiện khá rõ qua các hình ảnh không gian vũ trụ thể hiện trong lời HPV Cảnh gặp gỡ, giao duyên gắn với hình ảnh gió mát trăng thanh, trời lạnh sương im, sao sáng cả

Trang 4

Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr 30-37 trời, trăng trong bóng nguyệt gió ngoài

đường phong, sao sáng trăng trong ;

Cảnh chia li, sự nhớ nhung, nỗi cô đơn

gắn với hình ảnh bơ vơ góc bể chân trời,

trăng thanh vằng vặc giữa trời, trăng

sáng sao thưa, nguyệt lặn sao dời,

nguyệt gác cành yên

Trời một vầng đêm dày vô hạn,

Mượn gió chiều hỏi bạn bên sông,

Thân em là gái chưa chồng,

Tơ duyên có chắc như dòng nước chăng!

[Chặng III-2, C 1006, tr 385]

Có khi không gian vũ trụ là hình

ảnh được dùng để diễn tả các cung bậc

cảm xúc Chẳng hạn như trong lời hát

sau, đất và trời mênh mang được đưa ra

ví với nỗi sợ hãi của người con gái khi

dự cảm về những bất ổn của mối tình

ngang trái:

Thấy anh, em muốn giao ca,

Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời,

Thấy anh em muốn trao lời,

Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan

[Chặng III-2, C 226, tr 300]

(ii) Không gian vũ trụ gắn với tín

ngưỡng, tâm linh và số phận

Cuộc sống trong thế giới của hát ví

phường vải cũng giống như thực tiễn

cuộc sống của người lao động, vừa ngập

tràn hạnh phúc, ước mơ nhưng cũng

đầy trắc ẩn với những hội ngộ - chia li,

những hợp - tan, còn - mất Vì vậy, từ

cảm thức của con người, không gian vũ

trụ (trời, đất) trong HPV cũng gắn với

tín ngưỡng, tâm linh qua lời cầu mong,

than thở hay trách móc Tuy nhiên,

ngoài những trường hợp coi trời như

một thế lực siêu nhiên có thể đem lại

những điều lành hay điều dữ cho con

người để rồi cầu xin (lạy trời, xin trời,

trông trời ), trách móc (trách trời), lời

hát nam thường nghiêng về than trách,

phán xét trong tư thế chủ động (trời ơi,

ông trời, đèn trời, trời cao có thấu không

trời ); còn lời hát nữ lại thường

nghiêng về cầu xin trong tư thế bị động

(khấn nguyền trời bụt, nhờ trời ) Cũng

có những trường hợp cùng một cách diễn đạt (tội trời) nhưng thái độ và ý nghĩa biểu đạt lại hoàn toàn khác nhau: Lời hát nam:

Thương ai cũng chỉ một người,

Em thương bậy thương bạ tội trời đó em [Chặng III-2, C 192, tr 427] Lời hát nữ:

Thương anh em cũng muốn thương anh, Bát cơm đã lỡ chan canh vô rồi, Nuốt vào khổ lắm anh ơi, Nhả ra thì sợ tội trời ai mang

[Chặng II-2, C 902, tr 374] Cùng đề cập tới vấn đề lấy trời làm yếu tố chứng giám cho sự chung thuỷ trong tình yêu (cả hai lời hát đều nói về

đối tượng được chứng giám là em), nhưng lời hát nam mang ý nghĩa cảnh báo, phán xét, nhắc nhở người (tội trời

đó em), còn lời hát nữ thực chất là lời than thở cho số phận, cũng là một hình thức tự ràng buộc mình (tội trời ai mang)

Cũng có trường hợp không gian vũ trụ xuất hiện trong lời thề nguyền: Em nói với anh nguyệt khuyết sao băng; Còn trăng còn gió thì còn đôi ta; Nói lời đã hẳn như giao- Dưới chân có đất trên cao có trời; chọc trời vạch đất lấy nhau lúc này Dường như chính không gian vũ trụ đã làm cho lời thề nguyền của các chàng trai cô gái có thêm sức thuyết phục Và nếu ai đó phạm lời thề thì việc đối mặt với không gian vũ trụ cũng là cách để tăng ý nghĩa trách móc, giận hờn:

Nhớ khi ăn miếng trầu trao, Nhớ khi nhận lễ ngày nào mới đây, Nhớ khi thề thốt những lời,

Bây giừ (giờ) em nghiêng ngửa, đất trời có chứng không

[Chặng III-2, C 154, tr 423] Bằng điệp ngữ nhớ khi, người con trai nhắc lại những mốc thời gian in

đậm kỉ niệm lứa đôi, những lời thề thốt

Trang 5

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 trong quá khứ, đồng thời đối sánh với

hiện tại (bây giừ em nghiêng ngửa-

nghĩa là không còn giữ trọn lời thề), và

cuối cùng đặt giữa không gian đất trời

với ý nghĩa chứng giám Dường như vì

vậy, lời ca càng làm tăng nỗi day dứt

trong lòng người nghe (em)

Bên cạnh đó, theo quan niệm của

dân gian, tình duyên là chuyện của con

người, nhưng cũng là số phận (duyên

phận) Vì lẽ đó, trong HPV, không gian

vũ trụ (trời, đất) cũng xuất hiện với ý

nghĩa tác động, chi phối số phận con

người, nhất là chuyện tình duyên đôi

lứa: trời xây(xoay) đất vần, nhờ tay tạo

hoá, con tạo xoay vần, ông trời đã

định

Vừa ra vừa kháp (gặp) anh đây,

Một là duyên kì ngộ, hai là trời xây

(xoay) đất vần

[Chặng I-1, C 83, tr 183]

2.2 Từ ngữ diễn tả không gian sinh

hoạt tập thể, cộng đồng

Không gian trong CDDC cũng như

trong HPV thường gắn với các sinh hoạt

xã hội, gắn với lao động, vui chơi, gắn

với hoạt động giao tiếp, do đó thường là

không gian diễn xướng

Nếu như hát quan họ Bắc Ninh hay

một số hình thức hát dân ca các miền ở

phía Bắc thường gắn với không gian lễ

hội, không gian sông nước lãng mạn và

tình tứ thì HPV Nghệ Tĩnh lại có một

không gian văn hoá riêng Lúc đầu, ở

chặng hát dạo-hát chào hát mừng-hát

hỏi và chặng hát đố hát đối là không

gian trong nhà (vai chủ) - ngoài ngõ,

ngoài đường (vai khách) Khi những

người khách đã vượt qua thử thách của

chặng hát đố hát đối thì được phe chủ

mời vào nhà cùng hát chặng cuối, và

không gian lúc này là trong nhà hoặc

một mảnh sân của chủ nhà [5, tr 88]

Tất cả các hoạt động giao lưu đều diễn

ra bên khung cảnh lao động quay xa kéo sợi của các cô gái

Em đang kéo vải giữa sân, Thấy chàng quân tử mười phần nhớ thương,

[Chặng I-1, C 20, tr 185]

Có lẽ vì thế mà không gian phường vải chủ yếu là không gian sinh hoạt

được giới hạn trong phạm vi hẹp Cụ thể là không gian nhà, cửa, ngõ, đường chiếm tần số cao: nhà (53 lượt lời nam,

73 lượt lời nữ); cửa (2 lượt lời nam, 13 lượt lời nữ); sân (3 lượt lời nam, 12 lượt lời nữ); vườn (19 lượt lời nam, 24 lượt lời nữ); ngõ (16 lượt lời nam, 17 lượt lời nữ); đường (đàng) (27 lượt lời nam, 45 lượt lời nữ) Mở rộng thêm là không gian làng xóm, ruộng đồng, bờ ao, cây

đa, mái chùa: làng, xã (1 lượt lời nam,

13 lượt lời nữ); chùa (7 lượt lời nam, 13 lượt lời nữ); ruộng, đồng (9 lượt lời nam,

6 lượt lời nữ); chợ (4 lượt lời nam, 7 lượt lời nữ); cầu (9 lượt lời nam, 8 lượt lời nữ) Trong một số trường hợp, không gian mở rộng hơn nữa, bao gồm cả núi non, sông nước Điển hình có câu hát sử dụng một loạt từ ngữ chỉ không gian:

Rú, rừng, núi, động, đèo, truông, Ngàn xanh cách trở, mây luồng cũng theo

- Bể, hồ, khe, hói, lạch, rào, Sông sâu nước lội ước ao kết nguyền

[Chặng II-2, C 57, tr 252] Một điều thú vị là sinh hoạt văn hoá phường vải ở xứ Nghệ thường gắn với các dòng sông Nghệ An có sông Lam, sông Giăng; Hà Tĩnh có sông La, sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố Đây cũng

là một trong những cơ sở để lí giải vì sao ở HPV, trong khi không gian núi non (bao gồm non, ngàn, rừng, núi, rú,

đồi, truông, đèo) chiếm tỉ lệ thấp (28 lượt lời nam, 45 lượt lời nữ) thì không gian sông nước được nhắc tới với tần số cao: rào, sông (giang), biển (43 lượt lời nam, 50 lượt lời nữ); nước, non nước (27

Trang 6

Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr 30-37 lượt lời nam, 39 lượt lời nữ); ao, hồ,

giếng, chuôm, đìa, bàu (18 lượt lời nam,

17 lượt lời nữ) Và không gian sông nước

trên bến dưới thuyền đã tạo cho những

cuộc HPV một sức hấp dẫn riêng, rộn

ràng, náo nức:

Nghe tin em hay hát hay hò,

Cho nên anh phải chèo đò tới đây

- Một chiếc ghe lui, năm bảy chiếc đò vào,

Ngọn cờ xanh cuộn lại, ngọn cờ đào kéo lên

Kéo lên ta hát cho liền,

Cho tình đằm thắm, cho duyên đậm đà

[Chặng I-1, C 36, tr 187]

Mặc dù vậy, cũng như trong cảm

thức chung của người Việt về sự tương

hợp sơn thuỷ hữu tình, lại gắn với mảnh

đất Nghệ Tĩnh địa linh non xanh nước

biếc, các chàng trai, cô gái phường vải

cũng thường ngẫu hứng với không gian

núi - sông trong sự song hành, tương

hợp, hài hoà, gợi lên khát vọng mãnh

liệt:

Mình em như con chim phượng hoàng,

Khi bay qua bể, khi đậu ngàn sơn lâm

[Chặng III-2, C 554, tr 334]

Đó là không gian núi-sông gắn với lời

thề lứa đôi sắt son, kiên định, vững vàng,

không gì lay chuyển được với lời sơn hải,

dặn núi thề non, sông cạn đá mòn:

Ba lời thề khở núi lấp sông,

Em quyết theo anh cho trọn đạo, kẻo

luống công anh đợi chờ

[Chặng III-2, C595, tr 340]

Không gian diễn xướng trong HPV

là không gian vừa có tính xác định, vừa

mang ý nghĩa phiếm chỉ như các loại

hình dân ca khác, do đó, trong lời hát,

các chàng trai cô gái còn đề cập tới yếu

tố không gian thông qua hệ thống từ chỉ

xuất không gian: đây (53 lượt lời nam,

51 lượt lưòi nữ); cảnh này, chốn này,

chốn ni, cõi này, chốn cũ (5 lượt lời nam,

13 lượt lời nữ)

Đến đây ngã nước chia ba, Muốn về bên Hạ lạy mẹ cha cùng chàng

[Chặng III-2, C 269, tr 304]

Đường dài ngựa ch1ạy cát bay, Chàng về chốn cũ mấy ngày đến nơi?

[Chặng III-3, C 91, tr 453] 2.3 Từ ngữ diễn tả không gian riêng tư

Người xưa thường đề cao quan hệ cộng đồng, quan hệ tập thể, không chú trọng nhiều tới bản ngã cá nhân Quan niệm ấy ảnh hưởng tới tâm lí, tính cách của họ, chi phối không ít đối với cách biểu đạt tình cảm trong giao duyên nam nữ Do đó, họ thường e dè, ngại ngùng khi nói tới cái tôi cá nhân, cái riêng tư của nỗi niềm, và lời tỏ tình yêu đương cũng thường được đặt trong không gian xã hội, không gian cộng đồng

Thực tế ấy lí giải vì sao so với không gian xã hội, không gian sinh hoạt cộng

đồng thì không gian riêng tư xuất hiện trong HPV không nhiều (14 lượt lời nam, 24 lượt lời nữ), thường gắn với những lời ca thể hiện tình cảm nam nữ

đã đến độ sâu đậm (hát xe kết, hát cưới hỏi), không còn là những buổi gặp gỡ ngày đầu Tuy nhiên, sự xuất hiện của kiểu không gian này có thể được coi là những “đột phá”, thể hiện khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi của con người Không kể đến các tổ hợp từ nhà anh, nhà em (đã được đề cập tới trong không gian diễn xướng ở trên), trong HPV, không gian riêng tư thường gắn với những từ ngữ, hình ảnh gợi lên cuộc sống lứa đôi Nếu như không gian riêng tư trong lời hát nữ gợi lên những ước mơ, mong muốn (chung chăn, chung nằm, chăn chung gối kề, tay gối đầu kề ), hoặc hàm ý trách móc, giận hờn (Chàng về chăn ấm gối êm sao đành; Chàng về chăn ấm gối ai mà về ) thì không gian riêng tư trong lời hát nam

Trang 7

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 lại thường mang ý nghĩa như một lời

mời, lời hứa hẹn (Chiếu giường đã trải

anh mong em về; Có về chăn ấm gối êm

thì về; chung nhà, đắp đôi giải yếm,

nằm một nơi )

Em đang kéo vải cạnh thềm,

Chàng về chăn ấm gối êm sao đành

- Hỡi người ngồi tựa cạnh thềm,

Có về chăn ấm gối êm thì về

[Chặng III-3, C 97, tr 454]

Một điều dễ nhận thấy là không

gian riêng tư nói về hạnh phúc lứa đôi

trong CDDC nói chung và HPV nói

riêng thường không phải là không gian

diễn xướng, không gian hiện tại Hạnh

phúc lứa đôi luôn là điều mong muốn,

khao khát của họ; và giữa cuộc đời đầy

trắc ẩn, ngang trái với bao sự ràng

buộc, cản trở từ xã hội (khoảng cách địa

vị, tuổi tác, sự cách núi cách sông ),

cản trở từ phía gia đình (mẹ cha ngăn

cản, ép buộc, hay cúc đã đóng khuy )

thì việc đạt được hạnh phúc lứa đôi đối

với các chàng trai cô gái phường vải

không hề đơn giản Nhưng hiện thực ấy

không ngăn cản được họ ước mơ, khao

khát, hy vọng Do đó, không gian riêng

tư nói về hạnh phúc lứa đôi trong HPV

thường gắn với các tổ hợp từ diễn tả

thời gian ở thì tương lai: ước gì, khi nào,

bao giờ:

Cơm chung bát, canh chung nồi,

Ước gì ta được cùng ngồi một mâm,

Ước gì trải chiếu ra nằm,

Chân ruỗi (duỗi) vào lòng đầu

gối cánh tay

[Chặng III- 2, C 137, tr 290]

Khi nào chiếu trải lác (cói) tròn,

Thì anh chung lưng lại, kiếm chút con

mà bồng [Chặng III-2, C 478, tr 327]

2.4 Từ ngữ diễn tả không gian gắn

liền với địa danh

Trong CDDC, không gian gắn với

địa danh thường không có tính cá thể

hoá trong sự miêu tả, nghĩa là có thể thay địa danh này bằng địa danh khác

mà nội dung vẫn phù hợp, miễn là nó tương ứng với hoàn cảnh, tâm trạng của chủ thể trữ tình (Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Đường vô xứ Huế quanh quanh ) Nói cách khác, tính chất phiếm chỉ là một đặc điểm trong miêu tả không gian ở CD Không gian phiếm chỉ thường tương ứng với nhân vật phiếm chỉ, mang tâm trạng chung, tình cảm phổ biến của cộng đồng, tập thể Với tần số xuất hiện tương đối nhiều (58 lượt lời nam, 79 lượt lời nữ), không gian gắn với địa danh trong HPV vừa có những đặc điểm chung của CDDC, lại vừa có những nét riêng của dân ca xứ Nghệ Là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, ở HPV, tính chất phiếm chỉ của kiểu không gian này thể hiện rõ qua việc đề cập tới những địa danh ước lệ, điển tích như Chương Đài, sông Ngân, Kim Lăng, cõi Thiên Thai, non Bồng (trường hợp này chủ yếu xuất hiện ở chặng hát dạo, hát chào, hát mừng) Ngay cả những địa danh thực là tên núi, tên sông, tên các địa giới hành chính cụ thể của nước Việt vẫn mang tính chất phiếm chỉ bởi ta có thể bắt gặp ở đâu đó trong CDDC các miền khác: bể Đông, bể Thái Bình, nước Nam, Hà Nội, chợ Đồng Xuân, cầu ái

tử, núi Vọng Phu, núi Ba Vì, núi Trường Sơn, sông Cửu Long, sông Hồng, sông Bạch Đằng, sông Cầu, sông Hương Giang (các địa danh này chủ yếu xuất hiện ở chặng hát đố, hát đối và hát

xe kết)

Sông Hồng nước đỏ phù sa, Cửu Long uốn khúc như là rồng bay, Bạch Đằng xác giặc chất đầy, Sông Cầu không chảy suốt ngày lửng lơ

[Chặng II-1, C 11, tr 228] Các địa danh thuộc về Nghệ Tĩnh chiếm tần số cao hơn Nhiều nhất là địa danh núi non (15 lượt lời nữ, 11 lượt lời

Trang 8

Nguyễn Thị Mai Hoa Từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật , tr 30-37 nam) với núi Hồng Lĩnh (non Hồng,

ngàn Hống), Hoành Sơn, Bằng Sơn,

Hùng Sơn, Nội Sơn, Tam Sơn, núi Dồi

Tiếp đến là địa danh sông nước (12

lượt lời nữ, 6 lượt lời nam) với sông Lam

(Lam Giang, Lam Thuỷ, sông Rum),

sông Giăng, sông Vịnh, sông Lường,

Phù Long, Đò Rồng, cầu Giằng Ngoài

ra phải kể đến địa danh chợ, địa danh

đình chùa, cầu, bến:

Chùa Vàng Chung Lĩnh án tiền,

Cự Trì tích thuỷ gái hiền chào xuân,

Kim Liên nổi búp hoa sen,

Núi Vân Hội đột mọc thiếp chàng

kết duyên [Chặng I-2, C 9, tr.194]

Một nét riêng trong HPV Nghệ

Tĩnh là nhiều không gian gắn với địa

danh có tên làng, tên xã, tên huyện

được xuất hiện trong các lời hát của các

nghệ nhân phường vải có tính danh cụ

thể, do vậy, đã thoát khỏi ảnh hưởng

của tính chất phiếm chỉ và mang dấu

ấn riêng của người hát

Một cô gái ở phường vải Võ Liệt,

Thanh Chương hỏi Phan Bội Châu:

Nam Đàn tứ hổ là ai,

Nói cho em biết để mai em chào?

[HPV, tr 142]

Phan đáp:

Nam Đàn tứ hổ là đây,

San, Song, Lương, Quý, một bầy

Gắn với giai thoại trên, địa danh

Nam Đàn không còn mang ý nghĩa

phiếm chỉ, cũng như các nhân vật được

nhắc đến trong lời hát (San, Song,

Lương, Quý) là hoàn toàn có tính danh

cụ thể, gắn với ngữ cảnh giao tiếp, quan

hệ giao tiếp cụ thể (2)

Khi có sự tham gia của các nhà nho

với vai trò là thầy bày, việc đưa không

gian gắn với địa danh trong HPV có

phần phức tạp, cầu kì hơn, thậm chí trở thành một trong những nội dung đố nhau Khi thì gắn địa danh với chơi chữ

dựng- Thanh Thuỷ có vũng nước trong; khi thì gắn địa danh với chơi chữ cùng trường nghĩa: Cô Xuân mà đi chợ Hạ- Mua một con cá thu về chợ hãy còn

đông Có trường hợp ẩn tên nhiều huyện trong một câu hát:

Hỡi anh nguyên khách văn chương,

Đàn đưa đôi giọng, quỳnh tương tự

3 Kết luận Tóm lại, trong bài viết này, chúng tôi tập trung xem xét từ ngữ chỉ không gian của hát ví phường vải Nghệ Tĩnh

từ góc độ ngôn ngữ hành chức Kết quả khảo sát dù chưa thực sự toàn diện nhưng bước đầu đã cho thấy ở thể hát ví này, sự lựa chọn từ ngữ chỉ không gian, nhất là không gian tâm lí chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: Về hoàn cảnh giao tiếp, HPV là hát giao duyên gắn với công việc lao động, lại thường diễn

ra vào thời điểm ban đêm; Về mục đích giao tiếp, các chàng trai cô gái đến với phường vải là để gặp gỡ - làm quen - giao duyên nên tình nên nghĩa; Về vai giao tiếp: phe nam luôn trong vai khách, phe nữ lại trong vai chủ; Về yếu

tố thể thức của cuộc hát phường vải: cuộc hát thường diễn ra theo trình tự các chặng, các bước Do đó, từ ngữ chỉ không gian nghệ thuật cũng được sử dụng một cách linh hoạt, phong phú và

đa dạng, chúng vừa mang đậm màu sắc dân gian chung của các thể hát ví lại vừa có nét riêng biệt của làn điệu dân

ca xứ Nghệ

Trang 9

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009

(1), (2) San là Phan Bội Châu; Quý là Vương Thúc Quý, người làng Kim Liên, bạn chí thân của Phan Bội Châu; Lương là Trần Văn Lương, cũng quê ở Kim Liên; Song là Nguyễn

Đình Song, người Xuân Hồ Trong 4 người, sau này có một người đỗ tiến sĩ, ba người đỗ cử nhân Vì vậy, hồi đó ở Nam Đàn, nhân dân ca ngợi bốn người tuấn kiệt: “Mẫn tiệp bất như San - Thông minh bất như Quý - Cường kì bất như Lương - Thâm thuý bất như Song

(3) 6 huyện: Anh Sơn, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Tương Dương

Tài liệu tham khảo

[1] Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2005

[2] Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, 2001

[3] Nguyễn Đức Dân, Những giới từ không gian: sự chuyển nghĩa và ẩn dụ, Ngôn ngữ, Số 9 (196), 2005, tr 42-50

[4] Ninh Viết Giao, Hát phường vải, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2002

[5] Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB Giáo dục, 1999

[6] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội,

2000

[7] Vi Phong (chủ biên), Hát phường vải ở Trường Lưu, NXB Hà Nội, 1997

[8] Phạm Thu Yến, Thời gian và không gian nghệ thuật, Những thế giới nghệ thuật

ca dao, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr 135-151

Summary words of art space in Phuong vai Nghe Tinh songs

This article studies the words of art space in phuong vai Nghe Tinh songs, including the space of community life, space of person life and space of place name

In phuong vai Nghe Tinh songs, choosing words of art space combines with observing point of speakers Thus, these words always have their sex features and are directly ruled by the contexts of communication

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm