Trong văn xuôi TLVĐ và tiểu thuyết của Khái Hưng, ta nhận thấy các nhà văn rất chú ý thể hiện cuộc sống của con người cá nhân.. Nghiên cứu, đánh giá tiểu thuyết của Khái Hưng trên vấn đề
Trang 1n q anh hành trình số phận con người cá nhân Khái Hưng, tr 10-16
hành trình số phận con người cá nhân trong tiểu thuyết của Khái Hưng
nguyễn quốc anh(a) Tóm tắt Bài viết phân tích sự miêu tả chân thực của tiểu thuyết Khái Hưng về hành trình số phận của con người cá nhân trong lòng xã hội Việt Nam những năm
30, 40 của thế kỷ XX Con người cá nhân từ chỗ hăm hở khẳng định đã dần rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc, và tất cả những điều đó đã diễn ra một cách có quy luật Thông qua việc thể hiện vấn đề này, Khái Hưng đã tự chứng tỏ khả năng bao quát hiện thực sắc sảo cũng như nhiệt tâm dùng ngòi bút để can dự vào các vấn đề xã hội của mình
1 Cùng với Nhất Linh, Khái Hưng
là nhà văn chủ chốt và có sáng tác dồi
dào nhất của Tự lực văn đoàn (TLVĐ)
Ông sáng tác ở nhiều thể loại, nhưng
thể loại chính và tiêu biểu nhất là tiểu
thuyết Tiểu thuyết của nhà văn thể
hiện rõ mục đích, tôn chỉ của TLVĐ, đã
góp phần đáng kể vào tiến trình hiện
đại hoá văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1932-1945 Trong văn xuôi TLVĐ và
tiểu thuyết của Khái Hưng, ta nhận
thấy các nhà văn rất chú ý thể hiện
cuộc sống của con người cá nhân
Nghiên cứu, đánh giá tiểu thuyết của
Khái Hưng trên vấn đề hành trình số
phận con người cá nhân chúng ta sẽ có
dịp hiểu sâu hơn tiểu thuyết của Khái
Hưng cũng như tiểu thuyết của TLVĐ
đồng thời cũng có cái nhìn khách quan
hơn về dòng văn học thường được gọi là
“lãng mạn” ở giai đoạn 1932-1945, nhất
là ở khía cạnh phản ánh hiện thực
2 Khi nói về hành trình của cái tôi
cá nhân trong trong phong trào Thơ
mới, Đỗ Lai Thuý đã khái quát: “Cái tôi
cá nhân đô thị không phải là nhất
thành bất biến Nó cũng nổi trôi và biến
đổi trên dòng thời gian lịch sử Chỉ
trong khoảng mười lăm năm,
1930-1945, dường như nó đã đi trọn một đoạn
đường Từ bỡ ngỡ hào hứng buổi đầu, cái tôi nhanh chóng đi đến sự khẳng
định mình một cách quyết liệt trong cô
đơn, bằng cô đơn, và, cuối cùng, giải thoát cô đơn bằng sự trở về trong vòng tay êm ấm của cái ta’’ [3, tr 197] Nhìn rộng ra, vấn đề hành trình của con người cá nhân không phải là vấn đề mang tính chất đơn lẻ chỉ được thể hiện trong nền văn học Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX Sự xuất hiện con người cá nhân là một hiện tượng có tính phổ biến diễn ra trong phạm vi văn học toàn thế giới Con người cá nhân là con
đẻ của xã hội tư sản, nó ra đời khi đã hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết
và số phận của nó thăng trầm theo sự biến động không ngừng của điều kiện lịch sử xã hội Tiểu thuyết TLVĐ, đặc biệt là tiểu thuyết của Khái Hưng cũng
đã miêu tả hành trình số phận của con người cá nhân một cách khá chân thực, cho phép ta hiểu ra được nhiều vấn đề của hiện thực xã hội Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX
3 Lúc mới ra đời, con người cá nhân trong tiểu thuyết Khái Hưng hăm hở, háo hức khẳng định sức mạnh của mình Con người cá nhân đối lập với gia
đình, đoàn thể để phanh phui cái xấu
Nhận bài ngày 25/3/2009 Sửa chữa xong 08/4/2009
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
xa, lỗi thời của lễ giáo phong kiến Xã
hội phong kiến với những lễ giáo, hủ tục
hà khắc đã trói buộc tự do của con
người trong hàng chục thế kỷ Những
năm 30 của thế kỷ XX, nền văn minh
phương Tây đã tràn vào nước ta như
một luồng gió mới Do ảnh hưởng của
văn minh phương Tây, con người lúc
bấy giờ như chợt bừng tỉnh ý thức cá
nhân Họ thấy vai trò cá nhân của mình
là rất to lớn đối với sự phát triển của xã
hội ý thức được sứ mệnh lịch sử của
mình, con người cá nhân trong TLVĐ ra
đời và nắm lấy sứ mệnh cao cả là đấu
tranh không khoan nhượng với lễ giáo,
hủ tục phong kiến, cởi trói và giải oan
cho những số phận éo le bị kìm kẹp
trong hủ tục và đói nghèo
Trong những tiểu thuyết đầu tiên
của Khái Hưng, con người cá nhân bộc
lộ nhiều mặt tích cực: họ là những chiến
sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho tình
yêu và hạnh phúc gia đình; họ là những
cô gái mới, có học thức, thông minh, có
nhan sắc, vì số phận xô đẩy mà phải
sống trong hoàn cảnh éo le, trở thành
những nạn nhân trong các gia đình
phong kiến Mai trong Nửa chừng xuân
là một cô gái như thế Trong hoàn cảnh
cha mẹ mất sớm, Mai một mình quyết
nuôi em ăn học nên người, dù có phải
bán hết tài sản cha mẹ để lại Rồi cô
gặp Lộc - một trí thức Tây học có lòng
tốt - đã đưa tay cứu chị em nàng thoát
khỏi thủ đoạn của Hàn Thanh - một
trọc phú ở nông thôn Cảm động trước
tấm lòng hào hiệp của Lộc, Mai đem
lòng yêu Lộc và hai người xây dựng tổ
ấm riêng Nhưng thế lực phong kiến
không để cho nàng dễ dàng có được
hạnh phúc Bà án (mẹ Lộc) người đại
diện cho nền luân lý cũ đã dùng đến
những mưu mô nham hiểm, thâm độc
để chia rẽ đôi thanh niên trẻ Đứng
trước tình thế bi đát, Mai đã kiên quyết
từ chối làm vợ lẽ của Lộc, thẳng thắn nói lên những suy nghĩ của mình về lẽ sống Cuộc sống hạnh phúc của chị em Mai với đứa con kháu khỉnh đã chứng minh cho những lý lẽ đúng đắn của nàng Cho đến Thoát ly, bộ mặt ghê tởm của đại gia đình phong kiến cùng với một nền luân lý phản động đã được phơi bày, khi quyền lực trong gia đình đã rơi vào tay người dì ghẻ tàn ác, nhiều mưu
ma chước quỷ Hồng (đứa con gái mồ côi mẹ) tội nghiệp đã trở thành nạn nhân, thành con mồi để cho mụ dì ghẻ mặc sức đày đoạ, khủng bố tinh thần Người cha nhu nhược, mất hết quyền lực chỉ biết a dua với vợ lẽ để dày vò đứa con gái đáng thương của mình Hình ảnh
mụ dì ghẻ hiện lên trong truyện chẳng khác gì một con yêu tinh với bộ mặt xấu
xí luôn che đậy bằng cái mặt nạ đạo đức giả Bà căm ghét Hồng, không muốn thấy Hồng sung sướng trong gia đình mình Bà lồng lộn ghen tức khi Hồng có cơ hội thoát ly khỏi gia đình để xây dựng hạnh phúc Bà mừng thầm khi nghe tin người chồng hứa hôn của Hồng
đang học ở Pháp bỗng dưng lăn ra chết
Bà lấy cái việc cạo răng trắng của Hồng
ra làm đầu đề cho câu chuyện của mình Bà đã giăng cho Hồng một cái bẫy nguy hiểm và sung sướng ngồi chờ
đứa con gái ngây thơ bước vào cái bẫy giăng sẵn của mình Bà mỉm cười tự nhủ: “Con bé này sắp chết rồi, bà sẽ cho chết hẳn” Phải sống trong cái gia đình khủng khiếp ấy, Hồng luôn gặp ác mộng và luôn khao khát thoát được khỏi gia đình ấy càng nhanh càng tốt
“Nàng chỉ tưởng tới một điều Thoát ly gia đình dù có phải hy sinh danh dự cũng cam Huống hồ lại chỉ hy sinh danh dự cho người mình yêu!” Hồng bỏ nhà ra đi với một quyết tâm và một suy nghĩ táo bạo: “Hai người sẽ lấy nhau dù
ông phán bằng lòng hay không bằng
Trang 3n q anh hành trình số phận con người cá nhân Khái Hưng, tr 10-16 lòng cũng mặc kệ Vả cần phải cưới xin
mới lấy nhau được? Cốt yêu nhau, yêu
nhau thành thực là đủ rồi…” Sự phản
kháng của Hồng đối với gia đình chính
là sự phản kháng của cái tôi cá nhân có
ý thức sâu sắc về cuộc sống tự do, căm
phẫn cuộc sống tù túng đày đoạ, quyết
tâm xây dựng cho mình một cuộc sống
hạnh phúc bên cuộc sống người mình
yêu thương Thoát ly là tiếng nói mạnh
mẽ, dứt khoát của con người cá nhân
“đoạn tuyệt” với hủ tục phong kiến Cái
chết của Hồng ở cuối tác phẩm là tiếng
chuông thức tỉnh cho những ai còn ảo
tưởng có thể bắt tay để hoà giải với thế
lực phong kiến hủ bại
4 Bước vào những năm cận kề cách
mạng Tháng Tám 1945, “cái tôi” cá
nhân bước qua thời kỳ hăm hở buổi đầu
để rơi vào khủng hoảng, thường xuyên
sống với căn bệnh hoài nghi Các nhà
thơ mới đã thể nghiệm điều này một
cách sâu sắc Hành trình số phận của
cái tôi cá nhân trong trong Thơ mới,
cũng không khác hành trình số phận
của con người cá nhân trong tiểu thuyết
TLVĐ nói chung và tiểu thuyết của
Khái Hưng nói riêng Tuy nhiên nếu
như Thơ mới thể hiện cuộc sống con
người cá nhân ở khía cạnh con người
tâm linh thì văn xuôi TLVĐ nói chung
và tiểu thuyết Khái Hưng nói riêng tập
trung miêu tả bi kịch của con người cá
nhân ở khía cạnh con người đời tư
Tuyết trong Đời mưa gió là một
người thông minh nhạy cảm, vì thế cô
không phải không ý thức được cuộc sống
và tương lai của mình Nhưng cô gái
này đã “bị những dục vọng và thú vui
khoái lạc hàng ngày lôi kéo như khúc gỗ
lềnh bềnh bị dòng nước chảy xuôi lôi
kéo đi nơi vô định…” Nên khi Chương
đề nghị cưới Tuyết thì nàng chỉ im lặng
và suy nghĩ, “nàng biết rằng sự cưới
xin, sự lấy nhau theo lễ nghi không đủ sức mạnh giữ nổi ở trong bổn phận một người đàn bà quá tự do, sống đời phóng
đãng như nàng”; “Nàng như hiểu lờ mờ rằng, trừ những khoái lạc hằng ngày ra, nàng không còn nên hy vọng những hạnh phúc đâu đâu Gia đình? Một người như nàng không có quyền tưởng
đến gia đình Sự mơ ước của nàng đã quá muộn” Để thoát khỏi cuộc sống thực tại, Tuyết đã có lúc nghĩ đến việc cùng Chương đến sống ở một nơi hẻo lánh để hưởng một cuộc sống êm đềm, lương thiện Nhưng rồi Tuyết lại sợ cái cảnh nghèo đói, nheo nhóc, bận bịu về bầy con đông đúc Cô cáu bẳn tự hỏi:
“Một người đã lầm lỗi một lần thì không thể sung sướng được nữa chăng?” Khi nghĩ về sự cải hoá của mình, Tuyết phân tích: “Thì người ta như thế cả đã sao? Chán vạn gái giang hồ trở nên những bà trưởng giả” Tuyết khinh bỉ những kẻ giả dối, những bọn đạo đức quê mùa Tuyết mỉm cười tự nhủ: “Chà! Một liều ba bảy cũng liều, cầm như con trẻ chơi diều đứt dây!” Tuyết muốn rời
bỏ ngay nhà Chương mà đi, lăn lộn với cuộc đời mưa gió “Tiếng gọi ở chốn xa xăm huyền bí như lại đến làm rung
động tâm hồn phiêu lưu của nàng” Cái
bi kịch của Tuyết là không thể sống
được trong một gia đình quá êm đềm,
đơn điệu gợi sự nhạt nhẽo buồn chán mặc dầu biết rằng phó thân cho cuộc
đời mưa gió cũng chỉ để đày đoạ tấm thân, nhưng “Thà liều thân với một đời mưa gió, khổ sở, đê tiện nàng cho còn hơn là sống mãi với cái đời lừa dối, bên cạnh một người mà nàng đã cạn tình yêu và trong gia đình bình tĩnh, êm ấm
nó luôn nhắc nàng nhớ rằng địa vị của nàng không phải ở đây” Trong cuộc gặp
gỡ lần cuối với Chương khi Tuyết đã tàn tạ và Chương vẫn mở rộng lòng thương tha thứ, Tuyết tự thấy xấu hổ tủi nhục,
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009 thấy mình không xứng đáng với lòng tốt
của Chương Tuyết vẫn phải ra đi dấn
thân vào đời mưa gió Tác giả đã miêu
tả hành động đó với niềm xót xa cho
một cô gái đã trót sống một đời phóng
đãng truỵ lạc Theo Hà Minh Đức: “Khi
miêu tả Tuyết, Khái Hưng và Nhất
Linh đã tỏ ra từng trải khi thể hiện
những mặt phức tạp của một nhân vật
nữ có tính cách nổi loạn theo hướng suy
đồi của xã hội hiện đại Kết thúc tác
phẩm Đời mưa gió, các tác giả đã dự
báo tính phổ biến của loại nhân vật
này Xu hướng chơi bời truỵ lạc, lấy lạc
thú làm mục đích của cuộc sống, sống
hôm nay không cần đến ngày mai, sống
sung sướng cho mình không cần đến
người khác, đã thấm nhiễm vào lớp
thanh niên thời đại Đám thanh niên tụ
tập trong cuộc rượu đã đề xướng lý
thuyết đó “Xin ai nấy uống cạn với tôi
cốc rượu Còn như câu chuyện cô Tuyết
nào đó của hai anh đây thì xin hai anh
xếp mau lại cho Sống ngày nay nhớ chi
ngày xưa, tưởng chi đến ngày mai Cô
Tuyết ấy chết đi đã có cô Tuyết khác
đẹp, xinh tươi hơn, phải không các
em ?” [2, tr 235].Không biết rồi sau cái
chết vô nghĩa của Tuyết, bị kịch ấy sẽ
đến với ai đây trong đám chơi bời, truỵ
lạc ấy? Chương từ một ông giáo đạo
mạo, sống khuôn khổ, bị ám ảnh bởi
việc người yêu phản bội đi lấy chồng,
chàng sinh ra ghét phụ nữ Được Thu
con gái bà phủ đem lòng quyến luyến
nhưng chàng vẫn hờ hững Cuộc đời của
Chương bỗng xoay chuyển hoàn toàn, từ
chỗ ghét cay ghét đắng phụ nữ, Chương
đổi ra si mê Tuyết, “nghiện Tuyết…
nghĩa là nghiện cái thú nhục dục cũng
như vài anh em, ban bè nghiện thuốc
phiện, nghiện đi hát” Trong đám bạn
bè đã có người nhận xét Chương:
“Những người hiền lành, bẽn lẽn, lãnh
đạm như Chương mà khi đã ham mê
một cái gì thì tất là nồng nàn ghê gớm” Rồi khi Tuyết bỏ chàng ra đi, linh hồn của Chương cũng đi nốt: “Trong hai năm, thỉnh thoảng chàng vẫn tìm sự quên ở trong lòng bạn gái một đêm, nhưng tình hững hờ của bọn tục tằn chỉ làm cho chàng thêm nhớ tới người tình
cũ Rồi càng ngày càng chán nản, phiền muộn, chàng đã quay về cái đời lạnh lùng, trơ trọi ngày xưa”
Khác với bi kịch của Tuyết trong
Đời mưa gió, Nam trong Đẹp cùng với
đám bạn bè ăn chơi phóng đãng lại rơi vào một bi kịch khác Nam là một nghệ
sĩ say mê, tôn thờ cái “đẹp”, chỉ vì nó là
đẹp và thực hiện cái triết lý ấy trong đời sống của mình Nam sống giữa đám nghệ sĩ xô bồ, kẻ thì lấy nghệ thuật làm phương tiện để làm giàu, kẻ thì chìm ngập trong đời thường lam lũ, tẻ nhạt, nhỏ nhen, “kẻ thì vô lý tưởng duy chỉ có một lý tưởng chính đáng và có thể tới một cách dễ dàng, đó là lý tưởng ăn, uống, nhảy” Riêng Nam thì say mê nghệ thuật, “vẽ cần cho chàng như ăn, uống Có khi hơn Vì mải vẽ chàng có thể quên ăn Nhưng không một lạc thú gì, không một sức mạnh gì lôi kéo chàng
đi đâu, một khi chàng đứng trước một cái khung căng vải đặt trên giá, cái bảng màu cầm trên tay” Nam say mê
vẽ như thế nhưng lại không biết vẽ để nhằm mục đích gì ngoài nhu cầu giải trí: “Vẽ xong nó là khung vải bôi trơn
Đem bán, đem cho hay đem vứt cũng thế thôi Nó như một người con gái Người con gái ấy một hôm mình gặp mặt, và mình ao ước tìm tòi cái lạ, cái
đẹp Cái đẹp cái lạ một khi đã thấy, hay tưởng thấy thì còn gì nữa? Sự thực hiện
ra và mộng ảo tan đi” Theo đuổi cái đẹp nhất thời, Nam cho rằng “Làm gì có cái
đẹp tuyệt đích…”, “Cái đẹp gì mà không thoáng qua…” Nam nghĩ: “ở đời làm gì
có việc quan trọng, làm gì có việc thiêng
Trang 5n q anh hành trình số phận con người cá nhân Khái Hưng, tr 10-16
liêng (…) ở đời chỉ có hiện tại Biết
hưởng hiện tại hơn người khác, đó là cái
hơn đời của nghệ sĩ” Vì quan niệm ấy
nên Nam không lập gia đình để sống tự
do hưởng thụ lạc thú Nam tự biện hộ
cho tư tưởng của mình rằng: “Chúng ta
vì nghệ thuật mà hy sinh ái tình của
chúng ta Ràng buộc một nghệ sĩ vào
trong một gia đình tức cũng đem một
cây đa trồng vào chiếc chậu sứ…” Theo
Nam, vướng mắc vào gia đình với
những lo toan tầm thường thì không
còn mơ tưởng theo đuổi nghệ thuật
được Nam nghĩ về gia đình Kế: “Nam lơ
đãng ngắm tranh và cái đời buồn tẻ của
người bạn lần lần vẽ ra trên bức tranh
tưởng tượng Đó là một đời nghệ sĩ
Không, đó chỉ là một đời, một đời tầm
thường nữa Có một gia đình đông đúc
mà người ta phải làm việc vất vả để
nuôi sống thì người ta còn mơ tưởng,
theo đuổi nghệ thuật sao được” Dường
như Nam đã thấy sợ hãi và hình dung
ra cái bi kịch của người nghệ sĩ về gánh
nặng cơm áo - cái bi kịch mà nhân vật
Hộ trong Đời thừa và Điền trong Trăng
sáng của Nam Cao đã từng đau đớn
nếm trải Tránh được cái bi kịch đó
nhưng Nam lại là một kẻ chạy theo cái
đẹp không có điểm dừng Khi gặp Lan,
sắc đẹp và vẻ ngây thơ của Lan đã giúp
Nam tìm được nguồn cảm hứng sáng
tác “mới mẻ và mênh mông”, “lần này là
lần đầu chàng nhận thấy thế và hiểu
rằng hơn hai tháng thiết tha với nghệ
thuật đó là ảnh hưởng của cặp mắt mỹ
nhân” Nam vốn là một kẻ vốn ưa sống
cuộc sống tự do, nay phải bó buộc vào
trong cuộc sống gia đình, nghệ thuật
của chàng bị tiêu mòn Nam lại phải
đau đầu vì sự ghen tuông dày vò của
Lan Sự khác biệt về lối sống, về quan
niệm giữa Nam và Lan đã làm cho cuộc
sống của họ trở nên căng thẳng, bất
hoà, không cho họ hưởng một cuộc sống
yên ổn, hạnh phúc Trong khi Lan là cô gái trong trắng, chỉ nghĩ đến một người
đàn ông duy nhất là chồng mình thì Nam “đã bao lần chàng làm cái việc ấy với biết bao cô gái khác, nào chàng có nghĩ tới sự thiêng liêng như Lan đâu!” Vì thế khi gặp Trinh (bạn Lan) Nam lại tìm được nguồn cảm hứng sáng tác mới
Lý giải bi kịch của con người cá nhân trong Đẹp, Phan Cự Đệ cho rằng: Khái Hưng cũng không giấu diếm tình trạng bế tắc, tuyệt vọng của lớp nghệ sĩ sống không có lý tưởng Họ “suốt đời băn khăn khổ sở muốn quên mà không quên được” Họ chìm đắm trong “cái đời hắc ám, cái đời nồng nực trong men rượu và u mê trong khói thuốc phiện”
để “đi từ chán nản này đến chán nản khác và thất vọng cứ ấn mãi chìm vào thất vọng” Đầu đại chiến lần thứ hai, Khái Hưng có tham gia những đảng phái thân Nhật cho nên ở cuối tác phẩm, có lúc tác giả đã muốn đưa ra một lời đề nghị, một phương hướng giải quyết tình trạng bế tắc cho lớp văn nghệ sĩ lãng mạn đương thời Nhân vật Ngọc có lẽ phần nào là Khái Hưng, tuy Nam cũng là một nhân vật được nhà văn trìu mến Ngọc tâm sự với Nam:
“Một đằng tìm quên có lẽ vì buồn, một
đằng tìm sống một đời thể chất phong phú có lẽ cũng vì buồn Giá đừng ai buồn cả thì sẽ không có tiểu thuyết Mà muốn không buồn thì tất phải có một lý tưởng để theo đuổi Chính Nam đã đi theo con đường ấy, con đường đuổi theo cái đẹp nên chàng ít băn khoăn và tự tin hơn những người bạn của mình Nhưng bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc… Lớp nghệ sĩ trong tiểu thuyết của Khái Hưng chán nản với cuộc đời thực tại, sống không có lý tưởng nên tìm sự quên lãng trong nghệ thuật và hoạt động nghệ thuật của họ thực ra cũng là một
sự thoát ly Nghệ thuật vị nghệ thuật,
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009 nghệ thuật tách rời sự nghiệp cách
mạng cao cả của quần chúng, thoát ly
khỏi những vấn đề nóng hổi đặt ra
trong cuộc sống thì không thể tránh
khỏi rơi vào tình trạng bế tắc và suy
đồi…” [1, tr 950]
Bi kịch của hai cha con Cảnh trong
Băn khoăn cũng là bi kịch của một sống
phóng đãng Cuộc sống ăn chơi truỵ lạc
của Cảnh có ảnh hưởng phần nào từ
người cha sống buông thả của mình
“Thỉnh thoảng ông Thiện (tức Thanh
Đức) lại đưa về một người con gái rồi
đùa bỡn ầm ĩ với người ấy ở phòng bên
cạnh sát tường với phòng các con” “Cái
đời sống ấy kéo dài hơn hai năm, một
đời nhiễu loạn vô gia đình giáo dục, vô
gia đình luân lý đi song song với một
đời hoàn toàn có trật tự” Bi kịch của
Cảnh là bi kịch của kẻ không tìm thấy ý
nghĩa đích thực của cuộc sống, sống
chán nản đắm mình trong truỵ lạc để
quên hết thực tại đáng hoài nghi chán
nản Còn về nhân vật Chương, đã có lúc
Chương hối hận và quyết sửa mình
nhưng gặp Hảo - một nhan sắc hấp dẫn,
mê hoặc - Chương lại quay về với lối
sống cũ để rồi giữa hai cha con nảy sinh
xung đột vì yêu cùng một người Để làm
đẹp lòng người yêu, để trang trải tình
phí, Chương đã bán cái vi la mà cha đã
mua cho ở Sầm Sơn để sắm ô tô Kết
quả chàng bị cha chửi mắng và đuổi ra
khỏi nhà Còn Thanh Đức thì mê đắm
nhan sắc của Hảo Ông ta đã dùng tiền,
dùng mọi mánh khoé để chinh phục
Hảo Nhưng cuối cùng “viên đại tướng”
thao lược đã từng đánh bại bao kẻ địch
trên thương trường lại thất bại đau đớn
trên tình trường Nghe tin Hảo lấy
chồng, con người quyết đoán, bản lĩnh
như Thanh Đức cũng phải: “Chân tay
rung lên, mặt mày tái mét, miệng lẩm
bẩm: Lạ! có lẽ nào!”
Bàn về tiểu thuyết Băn khoăn, Ngô Văn Thư đưa ra nhận xét: “Rõ ràng càng đi sâu vào thế giới cái tôi ta càng thấy lạnh Nó bơ vơ thiếu thốn tình người Nó giả dối truỵ lạc, vô luân Tiểu thuyết Băn khoăn quả là bức tranh sinh động về tình trạng truỵ lạc của lớp thanh niên trí thức, kể cả trung niên trước Cách mạng” [4, tr 140] Tác phẩm cũng thể hiện nỗi băn khoăn của nhà văn, chưa biết phải làm gì trước tình trạng phổ biến đó của thanh niên đương thời Cái bi kịch khủng hoảng đó của con người cá nhân chỉ đươc giải phóng khi cái tôi cá nhân, cá thể nhận ra và quay trở về hòa nhập chung vào cái ta của cộng đồng, dân tộc để tiếp thêm sức mạnh
Ta có thể ví con người cá nhân như một đứa trẻ hồn nhiên trong sáng bỡ ngỡ trước cuộc đời Đến thời kỳ khủng hoảng về tâm lý, nó cảm thấy cái tôi của
nó là lớn nhất Nó muốn khẳng định mình là người lớn, mà sự khẳng định đó
có lúc khá kỳ quặc, ngộ nghĩnh Nó tự
đối lập mình với gia đình và muốn thoát khỏi gia đình để ra đi kiếm tìm tự do, tìm kiếm những điều mới lạ Nhưng rồi mất đi chỗ dựa, mộng ước tan tành, nó thấy hụt hẫng, bơ vơ, đành phải quay trở về đoàn tụ với gia đình trong cái ta chung của cộng đồng
5 Nghiên cứu, khảo sát hành trình
số phận của con người cá nhân trong tiểu thuyết Khái Hưng, chúng ta thấy
đây là một vấn đề có tính quy luật, không chỉ xuất hiện trong địa hạt văn xuôi mà cả trong thơ, không chỉ ở nước
ta mà có tính phổ biến trên thế giới Nó
là một phần của hiện thực đời sống nảy sinh trong xã hội đương thời Bên cạnh hiện thực được phản ánh trong văn học hiện thực phê phán, hiện thực được
Trang 7n q anh hành trình số phận con người cá nhân Khái Hưng, tr 10-16 phản ánh trong văn học Cách mạng, ta
còn thấy sự đa dạng của hiện thực trong
tiểu thuyết TLVĐ, trong tiểu thuyết
Khái Hưng Tất cả góp phần làm nên sự
đa dạng, muôn màu, muôn vẻ trong đời sống văn học Việt Nam những năm
1930, đầu những năm 1940 của thế kỷ
XX
tài liệu tham khảo
[1] Phan Cự Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), NXB Giáo dục, Hà Nội,
1997
[2] Hà Minh Đức, Tự lực văn đoàn trào lưu - tác giả, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007 [3] Đỗ Lai Thuý, Con mắt thơ, NXB Lao động, Hà Nội, 1992
[4] Ngô Văn Thư, Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng, NXB Thế giới, Hà Nội, 2006
Summary
The journey of individual human fate in Khai Hung's novels
The paper analyzed thoroughly the journey of individual human fate in Khai Hung’s novels Individuals who are eager to affirm themselves, have fell into crisis and deadlock which happen as a general rule Through this theme, Khai Hung has proved his ability to observe the reality as well as his enthusiasm in writing about social issues
(a) Cao học 14, chuyên ngành Lý Luận Văn Học, trường đại học vinh