46-54 Những điều kiện thuận lợi của VIệC TIếP NHậN ảNH HƯởng thơ tượng trưng pháp trong thơ mới việt nam Võ Nhật Minh Tâm a trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945, bài viết làm s
Trang 1V N M Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr 46-54
Những điều kiện thuận lợi của VIệC TIếP NHậN ảNH HƯởng
thơ tượng trưng pháp trong thơ mới việt nam
Võ Nhật Minh Tâm (a)
trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945, bài viết làm sáng tỏ các vấn đề: truyền thống thơ Việt đã tạo điều kiện thuận lợi để các nhà Thơ mới đến với thơ tượng trưng Pháp và hấp thụ những mặt tích cực của nó một cách chủ động; sự tiếp nhận
ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp diễn ra khác nhau ở từng giai đoạn phát triển của Thơ mới và ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo khác nhau
1 Đầu thế kỷ XX, nền văn học Việt
Nam đã bắt đầu có sự tiếp nhận ảnh
hưởng của nền văn học phương Tây, cụ
thể là nền văn học Pháp Nước Pháp có
thể xem là một trong những nơi khởi
nguồn của nhiều trào lưu, khuynh
hướng văn học Thi phái lãng mạn, thi
phái tượng trưng cũng được ra đời trên
mảnh đất này Tiếp xúc với văn học
Pháp cũng có nghĩa là nền văn học
Pháp “ùa” vào Việt Nam như một tất
yếu có tính lịch sử Đối với nền văn học
Việt Nam thì quá trình tiếp xúc ấy có
những điều kiện thuận lợi nhất định
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập
đến những điều kiện thuận lợi cho việc
tiếp nhận ảnh hưởng thơ tượng trưng
Pháp trong Thơ mới Việt Nam
2 Trước hết, xin nói về những tiền
đề thuận lợi từ truyền thống thơ Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ
đơn âm tiết, mỗi âm tiết ngoài khả
năng biểu đạt một nội dung còn có khả
năng tạo nên tính hình tượng với cấu
trúc đa tầng Hệ thống từ ngữ tiếng
Việt chất chứa nhiều biểu tượng và bên
cạnh tính tượng trưng về ý nghĩa, sức
ám gợi của âm thanh từ ngữ cũng rất
mạnh Sự phong phú về mặt thanh điệu
làm cho tiếng Việt thực sự có lợi thế
trong việc diễn tả một cách dễ dàng các sắc thái, các cung bậc khác nhau của tâm hồn con người Truyền thống thơ Việt đã khai thác rất tốt đẹp những khả năng đó của tiếng Việt Và như ta đã biết, thơ tượng trưng rất chú ý tạo nhạc tính cho tác phẩm, hầu tìm lối thoát cho những giá trị thẩm mỹ, khắc phục kiểu trình bày trực tiếp sự vật Đó chính là
điểm tương đồng giữa thơ truyền thống Việt Nam và thơ tượng trưng Pháp Tuy nhiên giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt: nhạc tính trong thơ Việt là thứ âm nhạc chủ yếu mang tính chất mô phỏng - mô phỏng sự vật, mô phỏng hành động - còn nhạc tính thơ tượng trưng thì tuân theo nguyên tắc kết hợp giữa các âm thanh, sự hiệp vần, ngắt nhịp để tạo nên những cung bậc cao thấp, những trường độ, cao độ, từ đó mỗi bài thơ là một giai điệu riêng Chính sự khác biệt này là điều kiện để Thơ mới sáng tạo trong khi tiếp thu Thơ mới đã rất chú trọng vấn đề nhạc tính, và trong thực tiễn sáng tác thơ ca, Thơ mới đã tạo ra những bài gây ấn tượng mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh, màu sắc mà chính bởi sự du dương trong âm điệu của nó
Người phương Đông nói chung, người Việt nói riêng từ buổi hồng hoang
Nhận bài ngày 25/02/2009 Sửa chữa xong 08/4/2009
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
đã xem vũ trụ là một thể thống nhất,
con người là một tiểu vũ trụ trong cái
vũ trụ ấy Do vậy, vạn vật và con người
nằm trong mối tương giao mật thiết
Người xưa tin rằng nhờ sự liên hệ mật
thiết đó mà trời và người có khả năng
giao cảm, tương ứng Trình Minh Hạo
có nói trong Ngữ lục: “Trời và người gốc
không phải là hai, bất tất phải nói thiên
nhân hợp nhất Tâm của ta chính là trời
đây, phát huy đến cùng cực cái tâm của
ta thì biết được cái tính, biết được tính
tức là biết trời vậy” (Thiên nhân bản vô
nhị, bất tất ngôn hợp Tâm tiện thị
thiên, tận chi tiện tri tính, tri tính tiện
tri thiên) Tư tưởng thiên nhân hợp
nhất đó là cốt lõi và đặc điểm lớn của
triết học Trung Hoa xưa và Việt Nam
không nằm ngoài vùng phủ sóng của tư
tưởng này Thơ tượng trưng phát hiện
ra mối tương hợp, hô ứng với nhau giữa
các giác quan, giữa mùi hương, màu sắc
và âm thanh, mối liên hệ huyền bí giữa
con người và vũ trụ là sự trùng hợp thú
vị giữa cái tìm tòi của thơ Pháp và
chiều sâu tâm thức của người phương
Đông và người Việt Nam
Người phương Đông và người Việt
Nam thời trung đại có thế mạnh về lối
tư duy bằng hình tượng Khi con người
chưa tách mình ra khỏi tự nhiên và
chưa nhận thức, lý giải được nó, ngay cả
bản thân mình họ cũng không biết từ
đâu mà có Nhưng với tư duy sơ khai,
họ cố gắng trả lời câu hỏi mình đến từ
đâu, xung quanh mình là gì, tại sao có
gió, tại sao, tại sao Tư duy tượng
trưng hình thành từ đó “Thiên nhiên
với người trung đại như thể là cùng một
loại với con người, thiên nhiên như là
một bình chứa vĩ đại các tượng trưng”
Như vậy, lối tư duy tượng trưng nguyên
thuỷ đã có lâu đời trong cách cảm, cách
nghĩ ở phương Đông Điều này được
phản ánh rõ rệt trong thơ Đường Trước
khi có tượng trưng phương Tây, người Việt Nam đã trải qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với thơ Đường Đó là một thứ thơ gắn chặt vào tâm thức của người trung
đại Một trong những nội dung chính của thơ Đường là khám phá mối giao hoà giữa con người với thiên nhiên Nếu người phương Tây có thế mạnh về tư duy khái niệm và thơ thiên về cái mạnh
mẽ, hùng vĩ, chân xác và tráng lệ thì người phương Đông thiên về lối tư duy trừu tượng, dùng hình ảnh có tính tượng trưng để diễn đạt chân lý, do đó thơ thiên về tính linh diệu, về sự cảm nhận cái mênh mông huyền diệu của vũ trụ
Những điểm trên đây, người viết xem như là tiền đề của việc tiếp nhận
ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp trong thơ Việt Nam - một nền thơ vốn đã có
bề dày kinh nghiệm thẩm mỹ lên quan
đến tư duy tượng trưng Đó là những
điều kiện cần thiết (bên cạnh các điều kiện khác như xã hội, văn hoá ) để thơ tượng trưng Pháp nửa sau thế kỷ XIX
dễ dàng được các nhà Thơ mới tiếp nhận để tạo ra những thành tựu nghệ thuật đáng kể Điều đó cũng có nghĩa là thi ca tượng trưng Pháp đã có mảnh đất tồn tại trong nền thi ca Việt Nam
3 Xin nói sang sự chủ động tiếp nhận ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp trong bối cảnh mới của giao lưu văn học Đầu thế kỷ XX, kinh tế đô thị phát triển mạnh, tầng lớp thị dân hình thành và ngày càng đông đảo đi liền với những thị hiếu và nhu cầu mới Chữ quốc ngữ đã thuần thục, lớp trí thức Tây học ngày càng nhiều Những điều kiện ấy giúp người Việt Nam, khi đứng trước văn học phương Tây, càng nhận
ra một cách rõ hơn sự trì trệ, xơ cứng của nền thơ cũ đã tồn tại bao thế kỷ Họ nhận thấy cần phải có cái gì đó mới mẻ
Trang 3V N M Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr 46-54
để làm tăng thêm sinh khí cho thi đàn
Nhu cầu đổi mới văn học được đặt ra
một cách cấp bách Từ những bối cảnh
như vậy, việc thơ Việt Nam tiếp nhận
nguồn tượng trưng trong thơ Pháp là
một tất yếu Chúng ta có thể xem đây là
nhân tố nội tại, đóng vai trò thứ nhất
thuộc về sự chủ động tiếp nhận ảnh
hưởng trong bối cảnh mới của giao lưu
văn học
Sự tương đồng trong ý thức về thân
phận giữa các nhà Thơ mới Việt Nam
và các nhà thơ tượng trưng phương Tây
chính là sự gặp nhau của những tâm
hồn trí thức bất mãn với xã hội, không
còn niềm tin vào thực tại mà họ đang
sống Bất mãn trước cách lý giải cái
“tôi” cá nhân của trào lưu lãng mạn, họ
đi tìm một thế giới thẩm mỹ khác đó là
tìm về với chính mình Họ xem nghệ
thuật là trên hết, với họ thơ đi từ chủ
thể chứ không phải là đối tượng ngoại
giới mà ở đó trực giác vừa là bản thân
nghệ thuật, vừa là môi giới làm bật lên
chất thơ từ ngoại giới khi giữa tâm và
vật sống trong trạng thái giao hoà,
thông hội với nhau Trong những
khoảnh khắc ấy, linh hồn sự vật vốn vô
hình hiện lên và được nhận biết như
những hiện hữu, cả vũ trụ với trăng,
hoa, nhạc, hương sẽ trở thành thơ,
thành nhạc, đậm đà ý vị Trực giác là
dùng tâm thức mà biết được vật, nó
thuộc về ta
Một đặc điểm về văn hoá, văn học
các nước phương Tây là con người với ý
thức về cá nhân và thân phận được đề
cao, họ khẳng định tính cá nhân như là
một giá trị nhân bản của đời sống, điều
này càng thể hiện rõ trong văn học Đó
chính là cơ sở ý thức tư tưởng quan
trọng làm tiền đề cho sự xuất hiện các
trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật
chuyên chú vào khám phá bản chất
đích thực của con người, vị trí của con
người trong vũ trụ với tất cả những khả năng, những khát vọng và cả những đổ
vỡ đau đớn về thể xác lẫn tinh thần của
họ ở phương Đông, trong khuôn khổ giáo lý, đạo đức chặt chẽ, nghiêm ngặt, con người cá nhân dường như ít có điều kiện để tự thể hiện mình, nếu có chỉ là yếu ớt, hoặc chỉ là những hiện tượng bột phát Con người phương Đông sống gắn
bó với cộng đồng, tính cộng đồng được
đề cao và là nền tảng của mọi hành xử xã hội Thế nhưng “bản thể” của con người là luôn luôn muốn tìm cách tự thể hiện mình dù bằng kiểu này hay kiểu khác, họ luôn có khát vọng nói tiếng nói của mình, càng “bó buộc”, càng “đóng khung” thì họ càng tìm cách “bứt phá” mãnh liệt và dữ dội Đầu thế kỷ XX, ý thức cá nhân có điều kiện xuất hiện và
tự khẳng định Chính ý thức cá nhân đã giúp người nghệ sĩ có khả năng phát hiện ra những gì nhạy cảm nhất của tâm hồn con người cũng như của chính mình, họ tự phát ngôn những điều thầm kín, cấm kị mà từ xưa đến giờ bị
“bưng bít, trói buộc” Chính những người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm của mình đã ý thức rõ hơn tính chất thù
địch của hoàn cảnh hiện thực đối với nghệ thuật và họ đã tự khám phá ra những bi kịch tinh thần mà từ lâu họ
đã đeo mang Trong Thơ mới, ta bắt gặp rất nhiều những câu thơ đau đớn thậm chí là tuyệt vọng của các nhà thơ, kiểu như: Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ;
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa; Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị; Trời hỡi trời, hôm nay ta chán hết/ Những sắc màu hình ảnh của trần gian Có thể xem những ý thơ trên như những minh chứng để thấy rằng: là những người dân mất nước, các nhà thơ ý thức
được nỗi đau của họ, và vì thế thơ tượng trưng - lối thơ xoáy sâu vào những ý niệm bằng những ám gợi đã biểu hiện
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
sự phản ứng đối với cuộc sống tầm
thường nhỏ nhen, vị kỷ, vị lợi trở thành
có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với các nhà Thơ
mới Việt Nam Ch Baudelaire đã từng
nói “ý tưởng về sự ích lợi là sự thù
nghịch nhất của thế giới với ý tưởng của
cái đẹp” Những nhà thơ tượng trưng,
từ Ch Baudelaire đến A Rimbaud, P
Verlaine, S Mallarmé đã nhận ra cái
kỷ nguyên hiện đại mỗi ngày một đi xa
hơn giới hạn của cái thiêng liêng, cái
“hào quang”, cái “quầng sáng tâm linh”
đã biến mất dưới sức nặng của vật chất
hoá và phi nhân tính hoá các quan hệ
con người, với sự tính toán đáng sợ theo
tinh thần thực chứng cuối thế kỷ Trong
các nhà thơ tượng trưng Pháp, A
Rimbaud đã từng mơ ước chạy trốn
trước sự buồn chán: rời bỏ thành phố
Chaleville ra Paris, rời bỏ Paris sang
phương Đông, rồi bỏ phương Đông đến
hư vô Tuy hoàn cảnh xã hội Pháp cuối
thế kỷ XIX và Việt Nam đầu thế kỷ XX
không phải tất cả đều tương đồng (về
văn hoá, lịch sử, giai cấp ), nhưng
trước những biến động xã hội, giữa các
nhà Thơ mới Việt Nam và các nhà thơ
tượng trưng Pháp đều có những nét tâm
lý trong sự biến động khá giống nhau,
họ tuyệt vọng và không thể dung hoà
được với xã hội đương thời, họ tìm kiếm
lối thoát cho chính mình bằng cách đi
tìm những lý tưởng thẩm mỹ mới
Nhân tố xã hội đã tác động đến
những thi sĩ thuộc phong trào Thơ mới,
giúp họ có tâm thế sẵn sàng tiếp thu lý
tưởng thẩm mỹ của thơ tượng trưng
Các nhà Thơ mới say Ch Baudelaire,
say A Rimbaud, P Verlaine, S
Mallarmé và các tác giả tượng trưng
không chỉ dừng lại ở việc bày tỏ thái độ
phản ứng đối với thực tại, mà còn đi xa
hơn Họ mải mê phát hiện mối tương
hợp giữa các giác quan, những mối
tương giao huyền bí của tâm linh,
những âm điệu du dương của âm nhạc mang lại Đó là yếu tố nội tại chi phối
sự tiếp nhận một cách chủ động những giá trị thẩm mỹ trong thơ thơ tượng trưng của các nhà Thơ mới
Giao lưu văn học là một thực tế khách quan trong lịch sử văn học nhân loại, đặc biệt là thời kỳ Việt Nam tiếp xúc với các nguồn văn hoá phương Tây (những năm đầu thế kỷ XX), quá trình tiếp thu và ảnh hưởng giữa các nền văn học trở thành một xu thế có tính chất quốc tế, việc tiếp nhận ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp trong thơ Việt Nam có những điều kiện thuận lợi từ truyền thống thơ Việt và cả sự chủ động tiếp nhận ảnh hưởng trong bối cảnh mới của giao lưu văn học Đó là thực tế không thể phủ nhận được
4 Quá trình sinh thành, phát triển của thơ tượng trưng Pháp và mạch thơ tượng trưng trong Thơ mới Việt Nam không giống nhau Thơ tượng trưng Pháp được hình thành bởi phủ định của phủ định Từ đầu thế kỷ XIX thi ca Pháp diễn ra theo trình tự từ lãng mạn
đến Thi sơn rồi đến tượng trưng, hậu tượng trưng sau đó là thơ siêu thực Thơ mới Việt Nam không diễn tiến theo quá trình đó và cũng không theo một trình
tự rõ ràng như thế Thơ mới không tồn tại hiện tượng phủ định nhau mà các khuynh hướng thơ ấy cùng tồn tại, dung chứa lẫn nhau trong một môi trường văn học đang ở quá trình hiện
đại hoá những năm 1930-1945 Trong quá trình tiếp nhận ảnh hưởng, tượng trưng trong Thơ mới không còn giữ được nguyên chất thứ thơ tượng trưng của Pháp Chất tượng trưng biểu hiện lúc
đậm, lúc nhạt, không đồng đều ở từng giai đoạn, từng tác giả và từng tác phẩm cụ thể Quá trình hiện đại hoá văn học được phân chia thành các mốc
Trang 5V N M Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr 46-54 thời gian rõ rệt, cụ thể là quá trình này
được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn
thứ nhất từ đầu thế kỷ XX đến 1920,
giai đoạn thứ hai từ 1920 đến 1930, giai
đoạn thứ ba từ 1930 đến 1945 hoàn tất
quá trình hiện đại hoá với nhiều thành
tựu rực rỡ về nội dung lẫn hình thức, về
tư tưởng và giá trị thẩm mỹ Việc tiếp
nhận ảnh hưởng của thơ tượng trưng
Pháp đối với Thơ mới không hoàn toàn
diễn tiến theo quá trình đó Nó đi theo
một quỹ đạo riêng Có thể thấy diễn
trình tiếp nhận tượng trưng của các
nhà Thơ mới được chia thành 3 giai
đoạn như sau
Giai đoạn 1: những năm
1932-1935 Đây là giai đoạn đấu tranh và
giành thắng lợi của Thơ mới, đề cao cảm
xúc cá nhân, Thơ mới ảnh hưởng của
thơ ca lãng mạn Pháp với các tác giả
như: V Hugo, A de Lamartine, A
Musset, A Vigny Nhưng trong thời kỳ
này thơ tượng trưng Pháp đã bắt đầu
ám vào tư duy nghệ thuật của các nhà
Thơ mới Thơ tượng trưng Pháp ảnh
hưởng đến các nhà Thơ mới Việt Nam
thật sự bắt đầu vào những năm 1932,
với sự xuất hiện của Thế Lữ trên thi
đàn Tác giả đã đem lại cho Thơ mới
những bài thơ hay với những tư tưởng
mới, đã “điềm nhiên bước những bước
vững vàng mà trong khoảnh khắc cả
hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ” (Hoài
Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt
Nam) Nhà thơ bên cạnh việc đi tìm cái
đẹp nơi tiên giới với Tiếng sáo Thiên
Thai, Tiếng trúc tuyệt vời còn quan
tâm xây dựng biểu tượng giống như thơ
Pháp, mở ra một thế giới “oanh liệt” với
khát vọng “tung hoành, hống hách”
Hình tượng con hổ trong vườn bách thú
trong Nhớ rừng vừa là cái tôi của tác
giả vừa là một biểu tượng tượng trưng
cho sự dũng mãnh, uy nghiêm, cho cái
tôi mang nặng căm hờn, với khát vọng
tung hoành bốn cõi Thơ Thế Lữ còn mang cả tín hiệu âm nhạc phần nào gợi
âm hưởng nhạc của thơ tượng trưng: Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền /
Êm như hơi gió thoảng cung tiên/Cao như thông vút, buồn như liễu/Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên Tiếp đến
là Lưu Trọng Lư, tác giả đã mang đến cho Thơ mới một thế giới nghệ thuật có nét độc đáo với một quan niệm nhân sinh mới Thế giới thơ Lưu Trọng Lư hiện lên bởi những ám ảnh: sầu, mộng, say, giang hồ phiêu lãng tất cả được tắm mình trong một không khí phi thực (Mộng chiều hè, Thơ sầu rụng, Sứ giả ) Thật ra, thế giới thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư là thế giới mang nặng ảnh hưởng của tư duy lãng mạn nhưng phần nào trong thế giới thơ ấy vẫn có một vài yếu tố của lối thơ tượng trưng Pháp
Giai đoạn 2: 1936-1940 Giai đoạn này thật sự tồn tại nhiều khuynh hướng thơ phức tạp Thơ lãng mạn, thơ tượng trưng và những thể nghiệm của thơ siêu thực tồn tại song hành với nhau
Đại đa số là thơ lãng mạn nhưng cũng
có thơ tượng trưng và siêu thực Các sáng tác của nhiều nhà Thơ mới giai
đoạn này đã tìm đến sự dung hoà giữa các các khuynh hướng trên Nhưng có một số nhà thơ thể hiện rõ trong sáng tác của mình lối tư duy thơ tượng trưng Nói một cách khác, trong giai đoạn này,
ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp
đến các nhà Thơ mới ngày càng sâu
đậm Đến đây chúng ta cần phải nhắc
đến Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, những nhà thơ bước vào tượng trưng với những quan niệm sáng tác gần gũi với Ch Baudelaire, P Verlaine, P Valéry
Đến với Xuân Diệu thì ảnh huởng của lối thơ tượng trưng Pháp trong sáng tác phần nào rõ rệt hơn, mặc dù Xuân
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009 Diệu vẫn là một nhà thơ lãng mạn
Xuân Diệu là người có ý thức tiếp thu
thơ ca tượng trưng Pháp Bên cạnh nét
nổi bật trong thơ Xuân Diệu là lẽ sống,
là niềm yêu đời mãnh liệt, cuồng say,
hối hả, là tha thiết trẻ trung với một
năng lực cảm thụ tinh tế dồi dào, thơ
ông còn là một khả năng nhạy cảm nắm
bắt được cả những cái vô hình, hữu
hình hoá cái vô hình: Không gian như
có dây tơ/Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ
tiêu Thơ Xuân Diệu có những liên
tưởng nối liền, hoà hợp giữa âm thanh
màu sắc và hương vị với sự mở rộng các
giác quan: Thu lạnh, càng thêm nguyệt
tỏ ngời/Đàn ghê như nước lạnh, trời
ơi Sự tương hợp ở đây có phần nào
giống sự tương hợp trong thơ của Ch
Baudelaire
Đến với Huy Cận, phần nào ta đã
thấy độ chín của một hồn thơ có sự
dung hoà đặc biệt giữa lối thơ tượng
trưng và thơ lãng mạng Pháp Huy Cận
bước vào làng thơ đã được “người ta
dành ngay cho một chỗ ngồi yên ổn”
(Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi
nhân Việt Nam) Thế giới thơ Huy Cận
là một thế giới mang tư duy vũ trụ với
sự khắc khoải không gian mở rộng ra
ngoại giới có tính vĩnh viễn Trong thế
giới thơ ấy, Huy Cận đã tạo ra những
hình tượng mang một sức nặng cần
thiết của lối thơ tượng trưng, những:
hồn, thiên đường, địa ngục, mộng, sầu
đã tạo nên một ám gợi với những liên
tưởng bất ngờ cho người tiếp nhận về
một thế giới khác, hoàn toàn không là
trần thế Thơ Huy Cận đã tìm thấy sự
hài hoà, giao hoà, giao cảm giữa tạo vật
và sự sống, giữa con người và vũ trụ ,
chứa đựng những cảm nhận tinh tế
trong cõi vô hình: Tai nương nước giọt
maí nhà/Nghe trời nặng nặng, nghe ta
buồn buồn Như vậy, đến với Xuân
Diệu, Huy Cận, phần nào ta đã thấy sự
tiếp nhận ảnh hưởng từ thơ tượng trưng Pháp một cách rõ rệt và có ý thức Hàn Mặc Tử đã mở một cuộc hành trình thơ đi từ lãng mạn đến bến bờ tượng trưng Đọc thơ Mặc Tử, ta cảm nhận ra một thế giới khác thường với những hình tượng mang tính ám gợi, có sức căng “độc đáo”, độ căng không chỉ ở phương thức duy lý mà ở cả phi duy lý dẫn con người đến cõi hư vô xoá nhoà hiện thực Năm 1938, trong đề tựa tập Thơ Điên, Hàn Mặc Tử viết: “Tôi làm thơ? nghĩa là tôi yếu đuối quá? tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức bí mật Và cũng là tôi đã mất trí, tôi phát
điên” Những “hồn”, “máu”, “trăng” đã minh chứng điều đó Chịu ảnh hưởng quan niệm của Ch Baudelaire, Hàn Mặc Tử đã tiến sâu hơn một bước trong việc dùng những biểu tượng trăng, hoa, nhạc, hương để thể hiện sự “khải thị”, khám phá những thế giới mơ hồ đầy bí
ẩn Thơ Hàn Mặc Tử tắm trong hương thơm - một thứ hương thơm kỳ lạ kiểu như Ch Baudelaire lạ kỳ mà thân quen: Hoa đào vắng mùi hương; Thơm như tình ái của ni cô: Thơm như tiếng ngọc lưng chừng; Xuân xuân điểm chuyết hương ngàn muôn hương Các yếu tố trăng, hoa, nhạc, hương còn hoà hợp trong một biểu tượng nhằm khải thị về một bí ẩn trong vũ trụ, ở nơi xa: Chiếc tàu chở cả một đêm trăng/Muôn
ánh sao ngời chiếu thẳng băng/Muôn sợi hương trầm say bối rối/Muôn vàn thần thánh sống cao sang/ Giây phút,
ôi chao! Nguồn cực lạc (Ghen)
Hàn Mặc Tử là người có ý thức đưa
âm nhạc vào trong thơ Đối với ông, làm thơ nghĩa là “ nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn
ánh sáng” và người đọc sẽ thấy thôi miên bởi một thứ phù chú của vị thầy chiêu hồn thuật, thôi miên thuật: “Anh
Trang 7V N M Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr 46-54
sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thở của
hồn tôi anh sẽ rung theo khúc ngân
của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rền
rĩ nuối không ngừng và anh sẽ cảm giác
lạ những thứ ấy là âm điệu của thơ
tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong
khi máu cuồng rên vang dưới ngòi bút”
(Tựa Thơ Điên) Điều đó cũng có nghĩa
Nhạc là bản giao hưởng của tâm hồn gợi
lên những huyền bí về ảo giác, ảo ảnh:
Tơ trăng buông rèm trên muôn cành/Tơ
trăng vàng rung như âm thanh hay Bốn
mùa thơ xanh xanh như cẩm
thạch/Chim ngàn trăng đem tiếng lạ về
ca/Ca cầm ca tơ đồng vọng vang ra
Gần giống như Hàn Mặc Tử, nhà
thơ Chế Lan Viên trong Điêu tàn (1937)
cũng nói nhiều đến hồn: hồn ta, hồn tôi,
hồn cô, hồn mi, hồn ma, hồn tan Đó là
một thế giới khác thường không có thực
mang nặng yếu tố tượng trưng: Hồn mi
bay trong đốm lửa ma trơi Theo hồn
ta tuôn chảy những lời thơ Muốn điên
cuồng nuốt cả khối xương khô Hàn Mặc
Tử khẳng định trong Chế Lan Viên, một
thi sĩ điên: “Về cùng tôi vỗ tay reo vang
để cùng cười, cùng khóc, cùng hoan hô:
Ha ha! Chúng ta đây là hai thi sĩ điên
rồ đây!” Cái điên rồ phi duy lý đảm bảo
cho sự cần thiết của các yếu tố tượng
trưng, khi con người tìm đến một thế
giới khác đầy biểu tượng để ký thác linh
hồn Như vậy, đến với Hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên, ta thấy trong các thi phẩm
của họ thế giới hình tượng nghệ thuật
đã có những thay đổi đáng kể Cả cái
biểu đạt (hình tượng tượng trưng) và
cái được biểu đạt bị che giấu đều trở
nên bí ẩn Điều này càng thể hiện rõ
hơn trong sáng tác của Bích Khê (người
viết trình bày về tác giả này ở phần
sau)
Giai đoạn 3: 1940-1945 ảnh hưởng
của thơ tượng trưng Pháp đến các nhà
Thơ mới Việt Nam được thể hiện một
cách rõ rệt nhất Tiêu biểu của tượng trưng thời kỳ này phải nhắc đến Bích Khê với Tinh hoa, Đinh Hùng với Mê hồn ca, Đường vào tình sử, Đông Hoài với Giác linh hương, nhóm Dạ đài và Xuân thu nhã tập với những tuyên ngôn thơ, tuyên bố kiến tạo một hình thức thơ theo kiểu tượng trưng Nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng
là biểu hiện mối quan hệ giữa con người
và sự vật trong mối tương giao, tương ứng: vũ trụ là một thể thống nhất trong
đó tất cả đều tương ứng với nhau, tương ứng giữa các giác quan, tương ứng giữa thế giới này với thế giới đằng sau đầy bí
ẩn, tương ứng giữa cái tự nhiên và cái siêu nhiên Trong Hiện hình thuộc Tinh huyết của Bích Khê, ta thấy đầu tiên là sự tương giao giữa vũ trụ và con người: Gió đa tình hôn, Mặt hoa thơm tho mùi thịt, Người thiếu nữ hiện trong trăng, Da thịt ý tuyết băng, Người lộ mỏng như sương, Khung trắng trời mây trắng Rồi ta cảm nhận sự tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, hoa và nhạc, hương, vị: Gió đi chới với trong khung trắng/Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca; Nàng hé môi ra Bay như xuân mà ngọt tợ hương; Rào rạt như nỗi cảm thương/Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt tan ra nhạc? Tan ra nhạc!/Khung trắng trời mây trắng lạ thường Một sự tương giao đan xen nhau khó lòng tách bạch Ta còn thấy trong thơ Bích Khê những hình tượng biểu tượng lạ lẫm,
độc đáo Trong Tranh loã thể ta thấy: Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? Nàng là hương hay nhan sắc lên hương? Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc,
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc Vài chút trăng say đọng ở làn môi Nàng đó là một hình tượng biểu tượng, ta không cần biết nàng là ai, cũng không nên định danh nàng, nàng
Trang 8trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
có thể là tình nhân, cũng có thể là nàng
thơ Ta cũng không cần tìm dòng sâm
ngọt lộng là gì, hay vài chút trăng say ở
đâu Tất cả là thế giới biểu tượng
mang những ám thị gợi lên một giấc
mộng tình với ánh sắc nghê thường
Đến với Xuân thu nhã tập, ta thấy
cả một dấu ấn tượng trưng với những
quan niệm về thơ về nhạc về đạo rất
mới nhưng rất gần chúng ta Thơ như là
thần linh và con đồng là “thi sĩ”, tạo ra
được “bài thơ cảm thông”, nối thần linh
với đệ tử là “thi nhân”; “Nhạc thấm
nhuần vũ trụ, giao hoà trong trời đất
với người: không có nhạc là không có gì
hết Bài thơ chỉ còn là lời kể, bức tranh
là những màu trơ trẽn, bản đàn là
những tiếng vu vơ Hoa có cũng vô
duyên, chim muông cũng lạc loài” Với
những quan niệm như thế ta thấy, việc
làm thơ đối với nhóm Xuân thu nhã tập
thật công phu, thơ thông hội với huyền
bí, với thế giới hư vô, thơ là cầu nối giữa
cái hữu hình và vô hình, trong thơ trọng
yếu tố nhạc, không có nhạc thơ trở nên
vô nghĩa Quan niệm này hoàn toàn
giống với quan niệm của Ch
Bauderlaire, S Mallarmé Màu thời
gian của Đoàn Phú Tứ có thể được xem
là một bản nhạc với những âm điệu
hoàn toàn mới Hay Quỳnh hoa chiều
đọng nhạc trầm mi/Hồn xanh ngát chở
dấu xiêm y, hoa là hình ảnh, chiều là
cảm giác, nhạc trầm mi là tiếng nhạc -
hương trầm mi mắt giai nhân, hồn
xanh ngát vừa là hình ảnh vừa là cảm
giác Hai câu thơ với cách diễn đạt mới
lạ nhằm chỉ sự giao hoà giữa các cảm
giác gợi lên sự liên thông giữa cái vô
hình và hữu hình, làm rung cảm giác
quan ta, rung cả tâm hồn
5 Đến đây chúng ta có thể kết luận
rằng trong quá trình tiếp nhận ảnh
hưởng thơ tượng trưng Pháp, mỗi nhà
thơ mới tiếp nhận một cách khác nhau, không thuần nhất, tuỳ theo cái “tạng” của họ Xuân Diệu đứng cả hai chân vững vàng trên lãng mạn, với tay hái những chùm tượng trưng Huy Cận thì
đã có một độ chín - sự dung hoà giữa tượng trưng và lãng mạn Hàn Mặc Tử thì cả hai chân cũng đứng vững trên bờ lãng mạn, nhưng hai chân cứ nhún nhảy một cách điệu nghệ với tượng trưng Còn Bích Khê thì một chân trụ vững ở bờ lãng mạn nhưng chân kia đã
đưa sang và gần chạm đến bờ tượng trưng một cách có chủ ý Xuân thu nhã tập hai chân phần nào đã đến địa hạt của tượng trưng Và chúng ta cũng có thể kết luận rằng: dấu hiệu nghệ thuật
vị nghệ thuật, dấu hiệu phi lý tính, dấu hiệu chủ thể hoá và tinh thần hoá khách thể của thi ca tượng trưng Pháp phần nào đã được thể hiện trong sáng tác của các nhà Thơ mới
Như đã nói ở trên, diễn trình tiếp nhận ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp
đến các nhà Thơ mới Việt Nam không thuần nhất, không tuân theo cái qui luật mà thi ca Pháp ở thế kỷ XIX đã trải qua Hơn thế nữa, số lượng các nhà Thơ mới theo khuynh hướng tương trưng không nhiều (chỉ khoảng 20 trong
số 87 nhà thơ) và mỗi nhà thơ tiếp nhận theo một kiểu riêng Cho nên diễn trình tiếp nhận ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp của Thơ mới Việt Nam khá phức tạp Cách chúng tôi dùng phương thức phân chia theo thời gian (có chứng minh bằng sáng tác của một số tác giả) chỉ là một cách tiếp cận vấn đề Nhưng
điều cốt yếu mà chúng tôi quan tâm ở
đây là: trong quá trình tiếp nhận ảnh hưởng ấy, một số gương mặt quan trọng
đã góp phần làm cho phong trào Thơ mới, thậm chí cả một thời đại thơ có nhiều khởi sắc Điều đó tạo cho nền thơ
Trang 9V N M Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr 46-54 Việt Nam vượt ra khuôn khổ của “vùng,
miền” để tiệm cận với mặt bằng chung
của văn học thế giới Thi ca tượng trưng
Pháp ảnh hưởng đến Thơ mới Việt Nam
là một tất yếu của lịch sử văn học, là một tất yếu của thời đại
Tài liệu tham khảo
[1] Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 [2] Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993
[3] Trần Mai Châu (tuyển dịch), Thơ Pháp thế kỷ XIX, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996
[4] Nguyễn Văn Dân, Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998 [5] Xuân Diệu, Thế giới thơ Huy Cận, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988 [6] Xuân Diệu, Thơ Huy Cận, Báo Ngày nay, số 166, 1939
[7] Đặng Anh Đào, Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007
[8] Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988
[9] Trần Khánh Thành, Huy Cận đời và thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1999
[10]Nguyễn Toàn Thắng, Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, NXB Giáo dục, 2007
Summary The advantageous conditions of receiving the influences
of French Symbolic poetry on Tho moi (New Poetry) in Viet Nam
Having studied the receiving of the influences of French symbolic poetry on Tho moi in Viet Nam period 1932-1945, the author tried to clarify the issues: the traditions of Vietnamese poetry made favorable conditions for poets to approach French symbolic poetry and received its advantages actively, the receiving of its influences took place differently at a particular stage of Tho moi development and the poets with different creative personality as well