1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Thực hành nuôi dưỡng trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008." pps

9 403 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hành Nuôi Dưỡng Trẻ Em 6 - 36 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Nghệ An Năm 2008
Tác giả Nguyễn Ngọc Hiền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Thể loại báo cáo nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 166,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua phân tích chúng tôi nhận thấy có mối quan hệ giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ thông qua chỉ số nuôi dưỡng trẻ có liên quan với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 3 tuổi.. Nhưng các

Trang 1

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009

THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG TUổI

TạI TỉNH NGHệ AN NĂM 2008

Nguyễn Ngọc Hiền (a)

Tóm tắt Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và thực hành nuôi dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008 chúng tôi nhận thấy tình trạng dinh dưỡng trẻ em với trung bình Z-score cân nặng/tuổi là -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38), chiều cao/tuổi là 1,51 (95% CI 1.65, 1.37) và cân nặng/chiều cao là 0,63 (95% CI 0.78, -0.48) Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn ở mức cao với 27,7% trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 36,3% suy dinh dưỡng thể thấp còi và 10,2% suy dinh dưỡng thể gầy còm Thực hành nuôi dưỡng trẻ đánh giá qua điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng trẻ

6 - 36 tháng chúng tôi thấy rằng điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng trẻ 6 - 36 tháng ở tỉnh Nghệ An là 6,91 ± 1,40, một điểm số khá tốt Trung bình điểm chỉ số nuôi dưỡng của bé gái là 7,11 ± 1,47 và bé trai là 6,69 ± 1,28 Qua phân tích chúng tôi nhận thấy

có mối quan hệ giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ thông qua chỉ số nuôi dưỡng trẻ có liên quan với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 3 tuổi

1 Đặt vấn đề

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Nhiều Chương trình Quốc gia nhằm nâng cao sức khoẻ trẻ em đã được triển khai trong cộng đồng như: phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, phòng thấp, phòng chống thiếu vitamin A, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, Nhờ đó mà tình hình sức khoẻ trẻ em nước ta đã được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, sức khoẻ của trẻ em Việt Nam vẫn mang đặc trưng của một nước đang phát triển Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn đang là vấn đề được quan tâm trong công tác sức khoẻ cộng đồng Dù đã

có nhiều cố gắng giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng nhưng tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới

5 tuổi ở nước ta vẫn ở mức cao với trên 20% suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 33% suy dinh dưỡng thể thấp còi [1-2]

Trong dinh dưỡng trẻ em, ở các quốc gia đang phát triển, thực hành nuôi dưỡng trẻ em được xem là có vị trí đặc biệt quan trọng Tuy vậy những nỗ lực nhằm lượng giá thực hành nuôi dưỡng trẻ em và xác định mức độ ảnh hưởng của thực hành nuôi dưỡng trẻ lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ đã gặp những khó khăn bởi các vấn đề về phương pháp lượng giá thực hành nuôi dưỡng trẻ em Sự khó khăn này gặp bởi thực hành nuôi dưỡng trẻ em được cấu thành bởi một dãy các cách thức và phương pháp nuôi dưỡng trẻ em diễn ra đồng thời Do đó, rất khó để tổ hợp vào một hay hai biến số nhằm phản ánh chính xác thực hành nuôi dưỡng trẻ em Năm 2002, Ruel và Menon đã đề xuất một chỉ số nuôi dưỡng trẻ dựa vào hệ thống điểm số cho từng nhóm tuổi [3-5] Hệ thống điểm này ghi điểm cho những thực hành nuôi dưỡng tích cực qua đánh giá việc nuôi con bằng sữa mẹ, sử dụng bình sữa nuôi trẻ, số bữa

ăn của trẻ, sự đa dạng của thức ăn cho trẻ Chỉ số nuôi dưỡng trẻ em của Ruel và Menon được xem như là cách tổ hợp toàn diện các thực hành nuôi dưỡng trẻ em được biết đến hiện nay

Nhận bài ngày 07/9/2009 Sửa chữa xong 09/11/2009.

Trang 2

Nguyễn Ngọc Hiền THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG…, Tr 35-43

ở Việt Nam thời gian gần đây tuy có nhiều nghiên cứu quan tâm đến các vấn

đề dinh dưỡng của trẻ em Nhưng các nghiên cứu về thực hành nuôi dưỡng trẻ em cũng như mối quan hệ giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ em và tình trạng dinh dưỡng trẻ em chưa nhiều và còn gặp nhiều lúng túng, hạn chế trong đánh giá Do vậy, nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thực hành nuôi dưỡng trẻ em và tìm hiểu mối liên quan giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ em và tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi trên địa bàn tỉnh Nghệ

An, sử dụng chỉ số nuôi dưỡng trẻ của Ruel và Menon

2 Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là 383 trẻ từ 6 tháng đến 36 tháng tuổi sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian từ 11/2007 đến 6/2008 Cỡ mẫu được xác

định dựa vào công thức tính mẫu cho một nghiên cứu cộng đồng

p x (1-p)

N = Z21-α/2 x -

C2

Trong đó: - N là cỡ mẫu nghiên cứu

- Z21-α/2: là độ tin cậy ở mức 95% là 1,96

- p: là tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuổi bị suy dinh dưỡng Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn p = 30% [1]

- C là khoảng tin cậy: khoảng tin cậy được lựa chọn là 5% = 0,05 2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Các chỉ số nghiên cứu

- Chỉ số nuôi dưỡng trẻ em của Ruel - Menon: Chỉ số đã được Ruel - Menon tạo ra dựa vào sự khuyến nghị nuôi dưỡng trẻ từ 6 - 36 tháng của WHO [3-5] Hệ thống điểm được dùng để tạo ra chỉ số nuôi dưỡng trẻ cho những nhóm tuổi khác nhau được trình bày tại bảng sau:

Thực hành

nuôi dưỡng

Nuôi con

bằng sữa mẹ

Không = 0; Có = +2 Không = 0; Có = +2 Không = 0; Có = +1

Sử dụng bình

sữa

Không = +1; Có = 0 Không = +1; Có = 0 Không = +1; Có = 0

Tính đa dạng

của thức ăn

trong vòng 24

giờ qua

Tổng của: (gạo + rau/quả + sữa + trứng/cá/thịt gia cầm + thịt + khác

0 = 0 1-3 = 1 4+ = 2

Tổng của: (gạo + rau/quả + sữa + trứng/cá/thịt gia cầm + thịt + khác

0 = 0 1-3 = 1 4+ = 2

Tổng của: (gạo + rau/quả + sữa + trứng/cá/thịt gia cầm + thịt + khác

0 = 0 1-3 = 1 4+ = 2

Trang 3

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009

Sự thường

xuyên sử

dụng các

nhóm thức ăn

trong tuần

qua

Cho mỗi nhóm thức

ăn: trứng/cá/thịt gia cầm; thịt động vật khác:

0 lần/tuần = 0 1-3 lần/tuần = 1 4+ lần/tuần = 2 Với gạo hoặc củ/quả:

0-2 lần/tuần = 0; 3+

lần/tuần = 1

Cho mỗi nhóm thức

ăn: trứng/cá/thịt gia cầm; thịt động vật khác:

0 lần/tuần = 0 1-3 lần/tuần = 1 4+ lần/tuần = 2 Với gạo hoặc củ/quả:

0-3 lần/tuần = 0; 4+

lần/tuần = 1

Cho mỗi nhóm thức

ăn: trứng/cá/thịt gia cầm; sữa; thịt

động vật khác:

0 lần/tuần = 0 1-3 lần/tuần = 1 4+ lần/tuần = 2

Số bữa ăn

trong ngày

0 bữa/ngày = 0

1 bữa/ngày = 1

2 bữa/ngày = 2

0 bữa/ngày = 0

1 - 2 bữa/ngày = 1 3+ bữa/ngày = 2

0 -1 bữa/ngày = 0

2 - 3 bữa/ngày = 1 4+ bữa/ngày = 2

- Tình trạng dinh dưỡng của trẻ: Trẻ được cân và đo chiều dài nằm (trẻ <24 tháng tuổi)/chiều cao đứng (trẻ ≥ 24tháng) Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá qua Z-scores cân nặng/tuổi; chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao, tham chiếu qua quần thể NCHS/WHO [6,7]

2.2.3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý qua các phần mềm thống kê: Phần mềm Epi - info 3.4.3 để phân tích tình trạng dinh dưỡng của trẻ; phần mềm SPSS phiên bản 13.0 sử dụng T-tests

để so sánh trung bình của 2 nhóm với χ2-test để kiểm định sự khác biệt, khác biệt có

ý nghĩa thống kê khi P < 0,05

3 Kết quả và bàn luận

3.1 Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu

Từ 383 trẻ em dưới 3 tuổi được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi, có 11 trẻ bị loại trừ khỏi nghiên cứu do không hoàn thành điều tra qua bộ câu hỏi hoặc/và không thu thập được đầy đủ các số đo đánh giá tình trạng dinh dưỡng Trong 372 trẻ được nghiên cứu có 179 (48,1%) bé trai và 193 (51,9%) bé gái 81,7% số trẻ trong nghiên cứu này sống ở nông thôn và chỉ 18,3% trẻ sống ở thành thị Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 20,96 ± 8,94 tháng Số lượng thành viên trong gia đình của đối tượng tham gia nghiên cứu là từ 3 đến 10 thành viên (trung bình là 4,47 ± 1,31) và trung bình trong mỗi gia đình của đối tượng nghiên cứu có 1,76 ± 0,80 trẻ em dưới 5 tuổi Trong nghiên cứu, tuổi của các bà mẹ khi sinh trẻ từ 19 đến 45 tuổi (trung bình là 27,78 ± 5,1 tuổi) 11,8% các bà mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu có trình độ văn hoá ở bậc tiểu học hoặc thấp hơn, 88,2% các bà mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu có trình độ văn hoá ở bậc trung học hoặc cao hơn 72% các bà mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu là nông dân, 11,5% các bà mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu làm công việc nội trợ ở nhà và 16,4% các bà mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu là cán bộ, công nhân, viên chức 80.1% các hộ gia đình trẻ có thu nhập bình quân đầu người dưới 500.000 đồng/tháng

Trang 4

NguyÔn Ngäc HiÒn THùC HµNH NU¤I D¦ìNG TRÎ EM 6 - 36 TH¸NG…, Tr 35-43

3.2 T×nh tr¹ng dinh d−ìng cña trÎ

B¶ng 1: T×nh tr¹ng dinh d−ìng (trung b×nh z-scores) cña trÎ em d−íi 3 tuæi

Trung b×nh Z-scores c©n nÆng/tuæi (95% Cl)

(-0.90, -0.29)

-1.23 (-1.63, -0.82)

-0.82 (-1.07, -0.57)

(-1.77, -1.19) -1.99 (-2.28, -1.69) -1.73 (-1.94, -1.52)

(-1.87, -1.28)

-1.93 (-2.20, -1.69)

-1.77 (-1.97, -1.56)

(-1.41, -1.05)

-1.82 (-2.00, -1.63)

-1.51 (-1.64, -1.38) Trung b×nh Z-scores chiÒu cao/tuæi (95% Cl)

(-1.50, -0.79)

-1.80 (-2.27, -1.33)

-1.38 (-1.66, -1.10)

(-1.81, -1.14) -1.97 (-2.30, -1.63) -1.72 (-1.96, -1.48)

(-1.83, -1.15)

-1.33 (-1.64, -1.03)

-1.40 (-1.63, -1.17)

(-1.57, -1.18)

-1.66 (-1.86, -1.45)

-1.51 (-1.65, -1.37) Trung b×nh Z-scores c©n nÆng/chiÒu cao (95% Cl)

(0.16, 0.84)

0.10 (-0.34, 0.56)

0.36 (0.08, 0.63)

(-1.09, -0.43)

-1.05 (-1.38, -0.73)

-0.91 (-1.14, -0.68)

(-1.06, -0.41)

-1.27 (-1.57, -0.97)

-1.03 (-1.25, -0.81)

(-0.55, -0.14) -0.93 (-1.14, -0.72) -0.63 (-0.78, -0.48) B¶ng 1 tr×nh bµy t×nh tr¹ng dinh d−ìng (trung b×nh Z-score) cña trÎ em d−íi

3 tuæi Trung b×nh Z-score c©n nÆng/tuæi (WAZ) lµ -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38), chiÒu cao/tuæi (HAZ) lµ - 1,51 (95% CI -1.65, -1.37) vµ c©n nÆng/chiÒu cao (WHZ) lµ -0,63 (95% CI -0.78, -0.48) Sù kh¸c biÖt trung b×nh WAZ vµ WHZ gi÷a bÐ trai vµ bÐ g¸i lµ

cã ý nghÜa thèng kª víi P < 0,001 Trung b×nh WAZ nhÊt lµ -1,77 ë nhãm tuæi 25-36 th¸ng, trung b×nh HAZ thÊp nhÊt lµ -1,72 ë nhãm tuæi 13-24 th¸ng, trung b×nh WHZ thÊp nhÊt lµ -1,03 ë nhãm tuæi 25-36 th¸ng

Trong 372 trÎ tham gia vµo nghiªn cøu cã 103 (27,7%) trÎ suy dinh d−ìng thÓ

Trang 5

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009

dưỡng thể gầy còm Trẻ em trong nhóm tuổi từ 25 - 36 tháng bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thể gầy còm cao nhất với các tỷ lệ tương ứng là 32,6% và 16,0% Với suy dinh dưỡng thể thấp còi thì tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất gặp ở nhóm trẻ tuổi từ 13 -

24 tháng (48,1%) Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở cả ba thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm) khác nhau có ý nghĩa với P < 0,05 ở tất cả các nhóm tuổi

Cũng như các nước đang phát triển, ở Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng trẻ

em vẫn còn là một vấn đề đáng quan tâm [8] Báo cáo về tình trạng dinh dưỡng trẻ

em do Viện dinh dưỡng Quốc gia công bố cho thấy, năm 2004 trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 26,6%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 30,7% và 7,7%

bị suy dinh dưỡng thể gầy còm Báo cáo cũng cho thấy tình trạng suy dinh dưỡng trẻ

em dưới 5 tuổi ở khu vực Bắc Trung Bộ tương ứng là 31,7% thể nhẹ cân, 36,4% thể thấp còi và 8,4% thể gầy còm [1]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi tương ứng là 27,7% thể nhẹ cân, 36,3% thể thấp còi và 10,2% thể gầy còm Kết quả cho thấy chậm tăng trưởng chiều cao là vấn đề đáng quan tâm nhất ở trẻ em suy dinh dưỡng protein - năng lượng tại tỉnh Nghệ An Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân

và thấp còi ở trẻ em dưới 3 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Quốc Gia khảo sát tại các tỉnh khu vực Bắc Trung

Bộ Tuy nhiên kết quả cũng cho thấy tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi so với báo cáo tình hình suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam

từ nghiên cứu của Viên dinh dưỡng Quốc Gia Có thể lý giải điều này là bởi tình trạng dinh dưỡng trẻ em chịu sự ảnh hưởng của kinh tế xã hội kém phát triển ở 6 tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ so với cả nước Nhìn chung tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em với 27,7% thể nhẹ cân, 36,3% thể thấp còi và 10,2% thể gầy còm vẫn đang ở mức rất cao trong thang phân mức suy dinh dưỡng cộng đồng của Tổ chức Y tế Thế giới [9] Năm 2004, một nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em được thực hiện tại Quảng Trị, một tỉnh cũng thuộc khu vực Bắc Trung Bộ cho thấy, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 29,2%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 44,7% và suy dinh dưỡng thể gầy còm là 5,4% [10] Nghiên cứu ở Quảng Trị cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi gần tương tự như kết quả nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt được nhận thấy trong nghiên cứu của chúng tôi so với nghiên cứu ở Quảng Trị là

tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu ở Quảng Trị (11,9 % so với 5,4%) Điều này cũng có thể giải thích được là vì nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện ở cả ba khu vực đồng bằng, trung du và miền núi trong khi nghiên cứu được thực hiện tại Quảng Trị chỉ khảo sát tại khu vực nông thôn đồng bằng

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em được thực hiện trong thời gian qua cho kết quả khác với nghiên cứu của chúng tôi [1,11], kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở Nghệ An cao hơn so với nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh thực hiện tại tỉnh Hà Tây Có thể giải thích điều này là bởi các nghiên cứu đó được thực hiện ở những tỉnh, thành phố, khu vực khác và có điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn so với địa bàn nghiên cứu của chúng tôi Mặt khác nghiên cứu của chúng tôi chỉ quan sát ở trẻ dưới 3 tuổi, trong khi hầu hết các nghiên cứu trước đây công bố kết quả nghiên cứu ở trẻ em dưới 5 tuổi Vì

Trang 6

Nguyễn Ngọc Hiền THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG…, Tr 35-43

vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã đóng góp có ý nghĩa cho thống kê dinh dưỡng của tỉnh Nghệ An nói riêng và khu vực Bắc Trung Bộ nói chung

Liên hệ với tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi ở các nước trong khu vực Đông Nam á chung tôi thấy rằng trẻ em Nghệ An nhẹ cân hơn và thấp hơn so với trẻ em của tỉnh Surabaya, Indonesia [12] (trung bình WAZ: -1,51 vs - 1,01 và HAZ: -1,51 vs -0,38), nhưng nặng hơn và cao hơn trẻ em Lào [13] (trung bình WAZ: -1,51 vs - 1,75 and HAZ: -1,51 vs -1,89)

3.3 Quan hệ giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ Bảng 2: Mối quan hệ giữa chỉ số nuôi dưỡng trẻ và tình trạng dinh dưỡng trẻ em Tình trạng dinh dưỡng Chỉ số nuôi dưỡng trẻ

(Trung bình ± Độ lệch chuẩn)

P

Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân

< 0.001

Suy dinh dưỡng thể thấp còi

< 0.001

Suy dinh dưỡng thể gầy còm

<0.05

Hình 1 Tình trạng DD (trung bình Z-score) và điểm chỉ số nuôi dưỡng trẻ

-3

-2.5

-2

-1.5

-1

-0.5

0

0.5

1

1.5

2

Điểm chỉ số nuôi dưỡng trẻ

TB Z-score cân nặng/tuổi

TB Z-score chiều cao/tuổi

TB Z-score cân nặng/chiều cao

Thông qua chỉ số nuôi dưỡng trẻ em, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng trẻ 6 - 36 tháng ở tỉnh Nghệ An là 6,91 ± 1,40 Trung bình điểm chỉ số nuôi dưỡng của bé gái (7,11 ± 1,47) cao hơn có ý nghĩa

so với bé trai (6,69 ± 1,28) với P <0,01 Trung bình điểm chỉ số nuôi dưỡng cũng khác biệt có ý nghĩa với P < 0,001 giữa các nhóm trẻ theo độ tuổi, trung bình điểm chỉ số

Trang 7

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 3A-2009

nuôi dưỡng thì cao hơn ở nhóm trẻ từ 6 - 9 tháng (8,14±1,47) và nhóm trẻ từ 9 -12 tháng (8,73±1,24) so với nhóm trẻ từ 12 - 36 tháng (6,42±0,98)

Mối quan hệ của chỉ số nuôi dưỡng trẻ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ được tình bày trong bảng 2 và hình 1 cho thấy: Có sự khác biệt có ý nghĩa về chỉ số nuôi dưỡng trẻ ở nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt và nhóm trẻ bị suy dinh dưỡng trên cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm) Điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng thấp hơn có ý nghĩa với p < 0,001 ở những trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân so với những trẻ không bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (6,33 ± 1,08 vs 7,14 ± 1,44) Điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng thấp hơn có ý nghĩa với p < 0,001 ở những trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi so với những trẻ không bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (6,62 ± 1,27 vs 7,19 ± 1,45) Điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng thấp hơn có ý nghĩa với p < 0,05 ở những trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy còm so với những trẻ không bị suy dinh dưỡng thể gầy còm (6,38 ± 1,01 vs 6,97 ± 1,42)

Thực hành nuôi dưỡng trẻ em là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi Do đó, cải thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ em được xem như là cách thức có hiệu quả nhất nhằm cải thiện dinh dưỡng, sức khoẻ và sự phát triển của trẻ em Tuy nhiên, hiện nay, những tiêu chí được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu dinh dưỡng để đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ em chỉ nhấn mạnh đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ [6] Đánh giá thông qua định lượng thực hành nuôi dưỡng trẻ rất khó khăn và phức tạp Đồng thời, mối quan hệ giữa chất lượng nuôi dưỡng và tình trạng dinh dưỡng trẻ em cũng khó được xác định [14] Năm 2002, Ruel và Menon đã giải quyết những khó khăn đó bằng cách tạo ra một chỉ số nuôi dưỡng trẻ em thông qua hệ thống cho điểm thực hành nuôi dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi theo đề nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [5] Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng xây dựng chỉ số nuôi dưỡng trẻ em làm cơ

sở đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ em dựa trên nguyên tắc mà Ruel và Menon đã

đề xuất

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ số nuôi dưỡng trẻ liên quan có

ý nghĩa tích cực với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Sự khác biệt về trung bình chỉ

số nuôi dưỡng trẻ của nhóm trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt với nhóm trẻ suy dinh dưỡng ở các thể suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gầy còm là có ý nghĩa thống kê với trị số P lần lượt là P < 0,001, P <0,001 và P <0,05 Kết quả của chúng tôi qua đó cũng cho thấy được vai trò của chỉ số nuôi dưỡng trong việc phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ em So sánh với những nghiên cứu khác [5,14], nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương tự, như nghiên cứu của Ruel và Menon, các tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa chỉ số nuôi dưỡng trẻ và HAZ của trẻ dưới 36 tháng tuổi

4 Kết luận

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy suy dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi

ở Nghệ An hiện nay vẫn đang là một trong những vấn đề sức khoẻ trẻ em đáng được quan tâm với 27,7% trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 36,3% suy dinh dưỡng thể thấp còi và 10,2% suy dinh dưỡng thể gầy còm Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi tại Nghệ An với trung bình Z-score cân nặng/tuổi là -1,51 (95%Cl -1.64, -1.38),

Trang 8

Nguyễn Ngọc Hiền THựC HàNH NUÔI DƯỡNG TRẻ EM 6 - 36 THáNG…, Tr 35-43

chiều cao/tuổi là 1,51 (95% CI 1.65, 1.37) và cân nặng/chiều cao là 0,63 (95% CI -0.78, -0.48)

Bằng việc lượng giá thực hành nuôi dưỡng trẻ em thông qua chỉ số nuôi dưỡng trẻ, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thực hành nuôi dưỡng trẻ em dưới 3 tuổi của các bà mẹ ở Nghệ An là khá tốt với điểm trung bình chỉ số nuôi dưỡng trẻ 6

- 36 tháng ở tỉnh Nghệ An là 6,91 ± 1,40 Trung bình điểm chỉ số nuôi dưỡng giữa các nhóm trẻ theo độ tuổi là 8,14±1,47 ở nhóm trẻ từ 6 - 9 tháng, nhóm trẻ từ 9 -12 tháng là 8,73±1,24 và nhóm trẻ từ 12 - 36 tháng là 6,42±0,98 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thực hành nuôi dưỡng trẻ có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Tài liệu tham khảo

[1] Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Tình hình dinh dưỡng, Chiến lược can thiệp

2001-2005 và định hướng 2006-2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2007

[2] NC Khan, L.T., TX Ngoc, PH Duong, HH Khoi, Reduction in childhood malnutrition in Vietnam from 1990 to 2004 Asia Pac J Clin Nutr, 2007 16 (2): p 274-278

[3] Recommended feeding and dietary practices to improve infant and maternal nutrition, in LINKAGES Project, Academy for Educational Development [AED], Washington, DC, 1999

[4] Brown, K., Dewey, K., & Allen, L, Complementary Feeding of Young Children in Developing Countries: A Review of Current Scientific Knowledge, Geneva, Switzerland, World Health Organization [WHO], Programme of Nutrition, 1998 [5] Marie T Ruel, P.M., Child Feeding Practices Are Associated with Child Nutritional Status in Latin America: Innovative Uses of the Demographic and Health Surveys J Nutr, 2002, 132, p 1180-1187

[6] WHO, Physical Status: The Use and Interpretation of Anthropometry, in Report of

a WHO Expert Committee WHO Technical Report Report, No 854, World Health Organization, Geneva, 1995

[7] Center for Disease Control and Prevention, N.C.f.H.S., 2000 CDC Growthn Charts: United States National Health and Nutrition Examination Survey, in National Center for Health Statistics, Division of Data Services, Hyattsville

2002

[8] Le Thi Hop, N.C.K., Malnutrition and poverty alleviation in Vietnam during the last period 1985-2000 Asia Pacific J Clin Nutr, 2002, 11(Suppl), S331-S334 [9] Gibson, R., Principles of Nutrition Assessment, Oxford: Oxford University Press,

1990

[10] Đinh Thanh Huề, Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xã Hải Chánh, Hải Lăng, Quảng Trị, năm 2003, Tạp chí Y học dự phòng, Tập 14, Số 4, 2004, 70-74

Trang 9

tr−êng §¹i häc Vinh T¹p chÝ khoa häc, tËp XXXVIII, sè 3A-2009

[11] Hoµng §øc H¹nh, T×nh tr¹ng dinh d−ìng trÎ em d−íi 5 tuæi t¹i tØnh Hµ T©y n¨m 2002, T¹p chÝ Y häc dù phßng, TËp 15, Sè 1, 2005, 84-87

[12] N Toyama, S.W., Y Nakamura, and Andryansyah Arifin, Mother’s Working Status and Nutritional Status of Children Under the Age of 5 in Urban Low-income Community, Surabaya, Indonesia, Journal of Tropical Pediatrics, 2001

47, p 179-181

[13] Kotsaythoune Phimmasone, I.D., Vincent Fauveau and Phonethep Pholsena, Nutritional Status of Children in the Lao PDR Journal of Tropical Pediatrics,

1996, 42, p 5-11

[14] Prosper S Sawadogo, Y.M.P., Mathilde Savy, Yves Kameli, Pierre Traissac, Alfred S Traore, Francis Delpeuch, An Infant and Child Feeding Index Is Associated with the Nutritional Status of 6- to 23-Month-Old Children in Rural Burkina Faso J Nutr, 2006, 136, p 656-663

Summary

Feeding practices in children from 6 to 36 mOnths

in NGHE AN IN 2008 The study of nutritional status and feeding practices in children under three years of age in Nghean, 2008 indicated that the mean Z-score for weight-for-age was -1.51 (95% CI -1.64, -1.38), for height-for-age was -1.51 (95% CI -1.65, -1.37) and for weight-for-height was -0.63 (95% CI -0.78, -0.48) The prevalence of malnutrition in children was ranked in the "high level" world-wide by WHO categorisation with 27.7.8% were underweight, 36.3% were stunted and 10.2% were wasted Child feeding practices were assessed through a Child feeding index for children 6-36 months old, the results indicate that the mean child feeding index scores of the sample was 6.91 ± 1.40 The mean child feeding index scores in girls were 7,11 ± 1,47 and boys were 6,69 ± 1,28 Having analyzed we found that there was relation between child feeding practices through feeding index and malmitrition in children under the age of three

(a) Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc, tr−êng §¹i häc Vinh

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình trạng dinh d−ỡng (trung bình z-scores) của trẻ em d−ới 3 tuổi - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Thực hành nuôi dưỡng trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008." pps
Bảng 1 Tình trạng dinh d−ỡng (trung bình z-scores) của trẻ em d−ới 3 tuổi (Trang 4)
Hình 1. Tình trạng DD (trung bình Z-score) và điểm chỉ số nuôi d−ỡng trẻ - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Thực hành nuôi dưỡng trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2008." pps
Hình 1. Tình trạng DD (trung bình Z-score) và điểm chỉ số nuôi d−ỡng trẻ (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm