1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps

11 503 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng
Tác giả Phạm Thị Hải Yến, Nguyễn Ngọc Hiền
Trường học Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá
Thể loại bài báo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 177,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một nghiên cứu giao chéo với hình thức nghiên cứu trước sau, được thực hiện trên 25 nam sinh viên Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá, nhằm đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừ

Trang 1

Hải Yến, Ngọc Hiền Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động , TR 74-84

Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng

Phạm Thị Hải Yến (a), Nguyễn Ngọc Hiền (b) Tóm tắt Một nghiên cứu giao chéo với hình thức nghiên cứu trước sau, được thực hiện trên 25 nam sinh viên Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá, nhằm đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng Lavie Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ Na + , K + , Ca ++ , Cl - , chỉ số huyết học (Hb, Hct) và các chỉ số sinh hoá nước tiểu trước vận động, sau vận động và sau khi bù dịch là khác nhau có ý nghĩa thống kê với (p< 0,05) Sự phục hồi nước và điện giải là có ý nghĩa khi sử dụng nước dừa non hoặc dung dịch Oresol hoặc nước khoáng

I Đặt vấn đề

Trong tập luyện TDTT thì tình trạng mất nước và chất điện giải qua mồ hôi

dễ xảy ra [1] Lượng nước mà cơ thể mất trong tập luyện có thể vượt quá 1lít nước 1giờ (Costill, 1977) Mất nước và điện giải sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của cơ thể [1, 3]

Sự bù đắp nước và điện giải trước và trong quá trình vận động không đủ để

bù lại lượng chất lỏng đã bị mất nhất là trong điều kiện tập luyện với cường độ cao

và khí hậu nóng ẩm như ở Việt Nam Ngoài ra, phục hồi sự mất nước sau tập luyện không chỉ yêu cầu bù lượng nước đã tổn hao mà còn cần tính đến bù đủ điện giải đã mất Do vậy, để giúp cơ thể chóng hồi phục cân bằng nước và điện giải, cần bù đắp một lượng nước và điện giải sau vận động Một trong những yêu cầu để phục hồi

được lượng dịch đã mất sau tập luyện thể dục thể thao là lượng dịch uống bù vào phải lớn hơn lượng dịch đã tổn hao (Shirreffs và cộng sự 1996) Vì vậy cảm quan của nước uống rất quan trọng vì nó sẽ kích thích vị giác của người uống giúp uống được nhiều hơn [10]

Tại Việt Nam thì theo khảo sát của Trung tâm dinh dưỡng và Sở Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh thì đa số vận động viên bù nước một cách tự phát do khát chứ chưa ý thức rõ ràng về việc bù nước để phục hồi cân bằng chất lỏng cho cơ thể [8] Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về bù dịch cho vận

động viên sau vận động như “đánh giá hiệu quả bù dịch của nước dừa với đồ uống giải khát chứa carbonhydrate, hay “ phục hồi sự mất nước sau vận động với nước giải khát thông thường và nước tinh khiết” Dù vậy, số lượng các nghiên cứu về vấn

đề này còn ít, các loại dịch dùng để bù nước và điện giải sau vận động cũng chưa phong phú và đặc biệt là không thích hợp cho điều kiện của Việt Nam Để làm phong phú thêm các nghiên cứu cho vấn đề này và đưa ra được gợi ý cho việc lựa chọn và sử dụng một loại dịch phù hợp nhằm phục hồi tổn hao chất lỏng và điện giải sau vận

động chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả của bù dịch sau vận

động bằng nước dừa non, oresol và nước khoáng” nhằm mục đích:

- Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động của nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 4A-2009

- So sánh hiệu quả bù dịch sau vận động giữa nước dừa non với dung dịch Oresol và với nước khoáng

II Phương pháp và đối tượng nghiên cứu

2.1 Thể loại nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu giao chéo với hình thức nghiên cứu trước sau nhằm

đánh giá hiệu quả bù nước và điện giải của nước dừa non, Oresol và nước khoáng

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá Đối tượng nghiên cứu là nam sinh viên năm thứ nhất của Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

2.3.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính toán dựa vào công thức:

2C (1-r) 2 x 7,85 x (1-0,6)

n = - = - = 23,26, chọn n=25

(ES)2 (2,5/4,8)2

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn ngẫu nhiên 25 nam sinh viên từ tất cả nam sinh viên năm thứ nhất khoẻ mạnh, đang học tập tại Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hoá tình nguyện tham gia nghiên cứu Tất cả các đối tượng tham gia thử nghiệm được giải thích về mục

đích và cách thức tiến hành thử nghiệm trước khi ký và bản cam kết tham gia thử nghiệm

2.4 Thiết kế thử nghiệm

Mỗi nam sinh viên tham gia thử nghiệm được xác định VO2max thông qua test Cooper Từ đó chúng tôi xác định tốc độ chạy ở mức 60% VO2max trên máy tập chạy Các đối tượng tham gia nghiên cứu được thử nghiệm 3 lần khác nhau cách nhau ít nhất 1 tuần Các loại nước dùng để bù dịch được lần lượt thử nghiệm là: nước dừa non, dung dịch bù điện giải Oresol và nước khoáng Lavie

Tất các các thử nghiệm được tiến hành vào buổi sáng và 2-3 giờ sau khi các

đối tượng được ăn sáng và uống 500ml nước để đảm bảo cân bằng nước trước khi thử nghiệm Các đối tượng tham gia thử nghiệm cũng được yêu cầu không tham gia các hoạt động thể lực cường độ cao trong vòng 48h trước khi tham gia thử nghiệm.Các thông số cân nặng, mẫu máu và mẫu nước tiểu được thu thập như mô hình 1

Trước khi tập luyện các đối tượng được nghỉ ngơi thoải mái trong vòng 15 phút Sau đó cho các đối tượng chạy trên máy tập chạy với tốc độ chạy ở mức 60%

VO2max trong vòng 90 phút ở điều kiện nhiệt độ môi trường từ 290C- 310C Sau đó các đối tượng nghiên cứu được nghỉ ngơi thoải mái và hồi phục lại tại vị trí trong vòng 2 giờ

Thời điểm lấy máu: Lấy máu trước khi vận dộng, ngay sau khi vận động và tại thời điểm 0, 60, 120 phút của thời kỳ bù dịch Các chỉ số sinh lý máu (Hb, Hct) và sinh hoá máu (Na+, K+, Ca++, Cl-) được phân tích trên máy Celltac của Nhật Bản và máy Analyzers của Mỹ tại khoa xét nghiệm bệnh viện Thành phố Thanh Hoá

Thời điểm lấy nước tiểu: Lấy nước tiểu trước khi vận động và tại thời điểm 0,30, 60,90,120 phút của thời kỳ bù dịch Các chỉ tiêu sinh lý nước tiểu (pH và tỉ

Trang 3

Hải Yến, Ngọc Hiền Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động , TR 74-84

trọng) được phân tích trên máy Human của Đức tại khoa xét nghiệm bệnh viện thành phố Thanh Hoá

Thời điểm cân thể trọng thực tế: Vào thời điểm trước khi vận động và ngay sau khi vận động và tại thời điểm 0,120 phút của thời kỳ bù dịch

Thời gian bù dịch ngay sau khi kết thúc tập luyện và trong vòng 2h: ở 0 phút

bù 50% lượng dịch mất, 30 phút bù 40% lượng dịch mất và 60 phút bù 30% lượng dịch mất [10]

Mô hình 1: Mô hình thiết kế thử nghiệm

nghỉ

2.5 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý trên phần mềm thống kê SPSS bản 13.0 sử dụng T-test để

so sánh trung bình hai nhóm nhằm để kiểm định sự khác biệt, khác biệt có ý nghĩa khi p<0,05

III Kết quả

3.1 Thành phần của các chất trong các loại dịch

Lấy nước tiểu ở thời điểm trước vận động và 0,30, 60, 90, 120 phút của thời kỳ bù dịch

Cân thể trọng ở thời điểm trước vận động, ngay sau vận động và ở 0, 120 phút của thời kỳ bù dịch

Lấy máu trước khi vận dộng và tại thời điểm 0, 60, 120 của thời kỳ bù dịch

Nghỉ ngơi Chạy với cường độ 60% VO2 max Thời kỳ bù dịch

120

15phút 90phút

60 30

0

90

ở 0 phút bù 50% lượng dịch mất, 30 phút bù 40% lượng dịch mất và 60

phút bù 30% lượng dịch mất

Cảm giác bù dịch

30phút 0

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 4A-2009

3.2 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Từ 25 nam sinh viên của Trường cao đẳng TDTT Thanh Hoá được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi, có 4 nam sinh viên bị loại trừ khỏi nghiên cứu do không thu thập được đầy đủ các chỉ tiêu nghiên cứu Tuổi trung bình của các

đối tượng tham gia nghiên cứu là 19,90 ± 1,84 và không có tiền sử bệnh tật

3.3 Trọng lượng cơ thể trước và sau khi tập luyện Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy luyện tập trong môi trường nhiệt

độ cao, các đối tượng tổn hao trung bình 1,8 ± 0,25kg trọng lượng cơ thể Trong suốt quá trình bù dịch, mỗi đối tượng uống trung bình một lượng dịch tương đương 2,13

±0,04 kg Vào cuối thời kỳ bù nước thì các đối tượng tham gia thử nghiệm đến mức

độ nào đó vẫn còn mất nước theo tất cả các điều kiện nghiên cứu (0,07-0,19 kg)

3.4 Hàm lượng Natri, Clorua, Kali và Canxi trong máu trong quá trình bù dịch

3.4.1 Hàm lượng Natri trong máu ở các giai đoạn của quá trình bù dịch Bảng 1: Hàm lượng Natri trong máu ở thời kỳ bù dịch (đơn vị mmol/L)

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

X 139,14 146,62 142,95 141,43 Nước

khoáng SD 1.85 2,01 2,20 1,94 <0,001 <0,001 <0,001

X 139,38 146,90 141,90 140,57 Nước dừa

<0,001

<0,001 <0,05

X 139,38 146,90 141,76 140,57 Oresol

<0,001 <0,001 <0,05

>0,05

Kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy, nồng độ Na+ trong máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch bù điện giải Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau và có ý nghĩa thống kê (p< 0,001 và p< 0,05) Mặc dù, khi so sánh nồng độ Na+

trong máu ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch thì thấy nồng độ Na+ trong máu

có sự khác nhau giữa các loại dịch được bù (nước dừa non bù dịch tốt hơn), nhưng sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.4.2 Hàm lượng Kali trong máu ở các giai đoạn của sự bù dịch

Bảng 2: Hàm lượng Kali trong máu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

Nước

khoáng SD 0,34 0,34 0,32 0,32 <0,001 <0,001 <0,001 >0,05

Trang 5

Hải Yến, Ngọc Hiền Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động , TR 74-84

Nước

dừa non SD 0,33 0,35 0,32 0,34 <0,001 <0,001 <0,05

Oresol

SD 0,34 0,35 0,30 0,30 <0,001 <0,001 <0,05

Kết quả thử nghiệm thực hiện trong nghiên cứu cho thấy nồng độ K+ trong máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch bù điện giải Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau và có ý nghĩa thống kê (p< 0,001 và p< 0,05) Nhưng khi so sánh nồng độ K+ trong máu sau ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch thì thấy sự khác nhau về nồng độ K+ trong máu là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.4.3 Hàm lượng Canxi trong máu ở các giai đoạn của sự bù dịch

Bảng 3: Hàm lượng Canxi trong máu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

Nước

khoáng SD 0,17 0,15 0,16 0,16 <0,001 <0,001 <0,001

Nước

dừa non SD 0,18 0,15 0,16 0,16

<0,001 <0,001 <0,05

Oresol

SD 0,16 0,15 0,15 0,15

<0,001 <0,001 <0,05

>0,05

Kết quả nghiên cứu được biểu diễn ở bảng 3 cho thấy nồng độ Ca++ trong máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau có ý nghĩa thống kê với tương ứng p< 0,001 và p< 0,05 Khi so sánh hiệu quả cân bằng Ca++ trong máu của các loại dịch ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch thì thấy sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p<0,05

3.4.4 Hàm lượng Cl trong máu ở các giai đoạn của sự bù dịch

Bảng 4: Hàm lượng Clo trong máu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

X 100,48 107,86 104,20 102,86

Nước

khoáng SD 2,64 2,80 2,71 2,73 <0,001 <0,001 <0,001

X 100,62 108,48 103,71 102,38

Nước

dừa non SD 2,64 3,01 3,05 2,92 <0,001 <0,001 <0,05

X 100,43 108,48 103,29 102,19

Oresol

SD 2,64 3,01 2,87 2,93 <0,001 <0,001 <0,05

>0,05

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 4A-2009

Kết quả thử nghiệm thể hiện ở bảng 4 cho thấy nồng độ Cl- trong máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng Lavie ở các thời điểm khác nhau của quá trình bù dịch là khác nhau có ý nghĩa thống kê (p< 0,01 và p< 0,05) Khi so sánh nồng độ Cl- trong máu sau khi bù các loại dịch ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch thì thấy có sự khác nhau (dung dịch bù điện giải Oresol bù dịch tốt hơn) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.5 Hàm lượng Hemoglobin trong máu ở các giai đoạn của quá trình

bù dịch

Bảng 5: Hàm lượng Hemoglobin trong máu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

X 144,38 158,62 154,38 150,48

Nước

khoáng SD 6,81 6,98 6,84 6,90 <0,001 <0,001 <0,001

X 144,19 158,29 152,43 148,48

Nước

dừa non SD 6,84 7,02 6,88 6,83

<0,001 <0,001 <0,05

X 144,10 158,10 152,52 148,43

Oresol

SD 6,76 6,95 7,07 6,93

<0,001 <0,001 <0,05

>0,05

Kết quả của nghiên cứu thể hiện ở bảng 5 cho thấy hàm lượng Hb trong máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau có ý nghĩa thống kê (p< 0,001 và p< 0,05) Tuy vậy khi so sánh hàm lượng Hb trong máu ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch thì thấy hàm lượng Hb sau khi

bù bằng các loại dịch là khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.6 Hematocrit máu ở các giai đoạn của quá trình bù dịch

Bảng 6: Hct máu ở thời các thời điểm của quá trình bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch

Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

60 phút (L3)

Thời

điểm

120 phút (L4)

X 0,45 0,49 0,48 0,47

Nước

khoáng SD 0,02 0,03 0,21 0,02 <0,001 <0,001 <0,001

X 0,45 0,48 0,47 0,46

Nước

dừa non SD 0,02 0,22 0,02 0,02 <0,001 <0,001 <0,05

X 0,45 0,49 0,47 0,46

Oresol

SD 0,02 0,32 0,22 0,22 <0,001 <0,001 <0,05

>0,05

Kết quả thử nghiệm thực hiện trong nghiên cứu cho thấy Hct máu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau có ý

Trang 7

Hải Yến, Ngọc Hiền Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động , TR 74-84

nghĩa thống kê (p< 0,01 và p< 0,05) Nhưng khi so sánh Hct máu ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch nghiên cứu cho thấy Hct sau khi bù bằng các loại dịch khác nhau là khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

3.7 pH của nước tiểu ở các giai đoạn của quá trình bù dịch

Bảng 7: pH của nước tiểu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

30 phút (L3)

Thời

điểm

60 phút (L4)

Thời

điểm

90 phút (L5)

Thời

điểm

120 phút (L6)

Nước

khoáng

1

<0,00

1

<0,001 <0,05

Nước

dừa

1

<0,00

1

<0,001 <0,05

Oresol

>0,05

Kết quả nghiên cứu ở bảng 7 chỉ rằng pH nước tiểu sau bù dịch bằng nước dừa non, Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau có ý nghĩa thống kê (p< 0,001 và p< 0,05) So sánh pH nước tiểu ở thời điểm 120 phút sau khi bù bằng các loại dịch thấy rằng pH nước tiểu sau khi bù bằng các loại dịch là không khác nhau (p>0,05)

3.8 Tỉ trọng nước tiểu ở các giai đoạn của quá trình bù dịch

Bảng 8: Tỉ trọng của nước tiểu ở thời kỳ bù dịch

Thời kỳ bù dịch

Loại dịch Trước vận

động (L1)

Thời

điểm

0 phút (L2)

Thời

điểm

30 phút (L3)

Thời

điểm

60 phút (L4)

Thời

điểm

90 phút (L5)

Thời

điểm

120 phút (L6)

8

1,025 8

1,024 9

1,023

6

1,0212 1,0208

SD 0,0065 0,0057 0,1272 0,0587 0,0074 0,0061

Nước

khoáng

1

<0,00

1

<0,001 <0,05

8

1,0260 1,023

9

1,022

5

1,0214 1,0207 Nước

dừa

non SD 0,0650 0,0560 0,0593 0,0058 0,059 0,0059

>0,0

5

Trang 8

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 4A-2009

1

<0,00

1

<0,001 <0,05

9

1,0260 1,023

9

1,022

5

1,0215 1,0208

SD 0,0660 0,0570 0,0600 0,0059 0,0601 0,0070

Oresol

Kết quả thử nghiệm thực hiện trong nghiên cứu cho thấy tỉ trọng nước tiểu sau bù dịch bằng nước dừa non, dung dịch Oresol và nước khoáng Lavie là khác nhau có ý nghĩa thống kê (P< 0,001 và P< 0,05) Nhưng khi so sánh tỉ trọng nước tiểu ở thời điểm 120 phút của thời kỳ bù dịch qua các thử nghiệm bù dịch chúng tôi nhận thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

IV Bàn luận

4.1 Sự thay đổi trọng lượng cơ thể trước và sau khi tập luyện

Trong quá trình tập luyện TDTT thì tình trạng mất nước và chất điện giải (chủ yếu là NaCl) qua mồ hôi dễ xảy ra (khoảng 2-2,5 l/h) [1] Trong mồ hôi nước chiếm 93-99% do vậy khi tập luyện TDTT thì cơ thể mất một lượng nước bằng 2% trọng lượng cơ thể qua việc đổ mồ hôi [4] Nên ngay sau khi tập luyện TDTT thì trọng lượng cơ thể sẽ giảm Theo kết quả nghiên cứu của Mohamed saat và cs (2002) khi cho 8 đối tượng nam chạy với tốc độ 60%VO2max thì trọng lượng cơ thể giảm 1,6+0,1kg so với trọng lượng ban đầu[10] Gonzalez- AlonZo và cs (1992) thì sau khi cho 19 đối tượng nam chạy trên máy tập chạy với tốc độ 60%- 80%VO2 max thì trọng lượng cơ thể giảm 1,95+0,12kg so với trọng lượng ban đầu [11] Theo nghiên cứu của chúng tôi khi cho 25 nam chạy với tốc độ 60% VO2max thì trọng lượng cơ thể giảm 1,8±0,25 kg so với trọng lượng ban đầu Kết quả trên cho thấy sau vận động thì xảy

ra tình trạng mất nước của cơ thể do vậy cần phải bù ngay một lượng dịch cần thiết

để phục hồi tổn hao chất lỏng sau vận động

Như vậy là kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Mohamed- Saatva nhưng thấp hơn nghiên cứu của Gonzalez- AlonZo Có thể lý giải

điều này là bởi sự mất nước của cơ thể phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, tốc độ chạy

ở 60% VO2max của các đối tượng nghiên cứu là khác nhau và còn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường khi ở nơi tiến hành thí nghiệm

Để giúp cơ thể mau chóng phục hồi cân bằng chất lỏng trong cơ thể nên bù đáp ngay một lượng nước sau vận động vì sự bù nước trước và trong quá trình tập luyện

là không đủ để bù lại lượng nước đã mất nhất là trong điều kiện tập luyện với cường

độ lớn và độ ẩm không khí cao Nên ngay sau khi tập luyện TDTT chúng tôi tiến hành bù 120% lượng chất lỏng bị tổn hao, như vậy theo nghiên cứu này mỗi đối tượng phải uống lượng dịch trung bình 2,16 ±0,4g Tuy nhiên, cuối giai đoạn phục hồi sự mất nước thì các đối tượng tham gia thử nghiệm đến mức độ nào đó vẫn còn mất nước (0,07-0,19 kg) Nghiên cứu của Mohamed -Saatva và cs, Gonzalez- AlonZo

và cs cũng cho thấy vào cuối giai đoạn phục hồi sự mất nước thì các đối tượng tham gia thử nghiệm vẫn còn mất nước tương tự như nghiên cứu của chúng tôi (0,08-0,18

kg và 0,49-0,64 kg [10,11] Điều này chứng tỏ rằng các loại dịch chúng tôi sử dụng là nước dừa non, orezol và nước khoáng Lavie có kết quả tốt đối với sự phục hồi tổn hao

Trang 9

Hải Yến, Ngọc Hiền Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động , TR 74-84

chất lỏng sau vận động Tuy nhiên sự phục hồi tổn hao chất lỏng của chúng tôi gần như tương đương với nghiên cứu của Mohamed -Saatva cộng sự và tốt hơn so với nghiên cứu của Gonzalez- AlonZo và cs, điều này được lý giải là do các thí nghiệm sử dụng các loại dịch để bù mất nước là khác nhau ở nghiên cứu của Mohamed -Saatva

sử dụng nước lọc, đồ uống có chứa cacbonhydrat và nước dừa non còn nghiên cứu của Gonzalez- AlonZo sử dụng Cocacola, nước lọc và đồ uống có chứa cacbonhydrat Sau khi bù nước thì các đối tượng vẫn còn mất một lượng nước đó là kết quả của sự phục hồi mất nước không đầy đủ sau luyện tập do nước trong cơ thể vẫn bị mất theo con

đường mồ hôi, hơi thở, trao đổi chất điều này đúng với nghiên cứu của Costill và Sparks (1973); Gonzales và cs (1992); Lambert và cs (1992)

4.2 Sự thay đổi hàm lượng các chất điện giải của máu trong thời kỳ bù nước

Trong quá trình luyện tập có sự mất nước nhược trương Có nghĩa là kèm theo sự mất nước là mất chất điện giải theo đường mồ hôi [4] Do vậy sau khi luyện tập cần bổ sung thêm các chất điện giải cho cơ thể Khi vận động nồng độ của các chất điện giải trong cơ thể tăng nhưng sau khi bù dịch thì nồng độ Na+ trong máu giảm xuống còn 134±0.5, 135±0.1,136±0.4 theo thứ tự khi dùng orezol, nước dừa, nước khoáng Theo kết qủa trên thì dùng nước dừa non và orezol có khả năng phục hồi các chất điện giải tốt hơn vì sau khi bù dịch bằng nước dừa non và orezol nồng độ

Na+ trong máu gần trở về như lúc ban đầu hơn là dùng nước khoáng So sánh với nghiên cứu của Mohamed -Saatva thì cho kết quả tương tự

4.3 Sự thay đổi hàm lượng Hb, Hct của máu trong thời kỳ bù nước Trong quá trình vận động để đáp ứng với nhu cầu vận động thì số lượng hồng cầu tăng lên làm nhiệm vụ vận chuyển oxy cho tổ chức và tế bào hoạt động [1,6] Sự tăng hồng cầu trong vận động dẫn đến sự tăng hàm lượng Hb, Hct trong máu điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (Hàm lượng Hb tăng đến 149,0±10,2 và Hct tăng đến 0,48± 0,028 Ngay sau vận động ta chúng tôi tiến hành

bù nước thì kết quả xét nghiệm Hb và Hct đều giảm, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả khác

4.4 pH và tỉ trọng trong nước tiểu sau thời kỳ bù nước

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì sau khi vận động tỉ trọng nước tiểu

và độ pH nước tiểu tăng là do khi hoạt động cơ bắp cơ thể xảy ra quá trình phân bổ lại máu Lượng máu đi đến thận giảm đi Nếu trong điều kiện bình thường dòng máu thận vào khoảng 1lít/phút thì trong hoạt động thể lực nặng lượng máu này có thể giảm đến 0,25lít/phút Do lượng máu cung cấp cho thận giảm nên lượng nước tiểu được tạo ra trong vận động được giảm đáng kể Bên cạnh việc cung cấp ít máu hơn cho thận, lượng nước trong hoạt động cơ bắp bị mất nhiều do mất mồ hôi sẽ làm cho tuyến yên tiết nhiều vazoprexin dưới tác dụng của hoocmon này, sự tái hấp thụ nước ở các ống thận được tăng cường và vì vậy lượng nước tiểu lại càng giảm đi [1]

Ngoài số lượng, trong hoạt động cơ bắp thành phần nước tiểu cũng thay đổi

Do thiếu oxy, vì được cung cấp ít máu, tính thấm của lớp niêm mạc thận thay đổi khiến một số chất, nhất là protein của huyết tương, lọt vào nước tiểu Việc tăng cường quá trình trao đổi chất cũng làm cho hàm lượng các sản phẩm axit và sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi đạm cũng được thải thêm vào nước tiểu điều

Trang 10

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 4A-2009

này dẫn đến tỉ trọng của nước tiểu sau khi vận động tăng [1] Độ axit của nước tiểu tăng do nồng độ axit lactic và axit photphoric trong nước tiểu tăng do đó pH của nước tiểu nhỏ hơn 7 điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi (pH nước tiểu giảm xuống 5±0,2 và tỉ trọng nước tiểu tăng đến1,18 ± 0,028 Sau khi ta tiến hành

bù dịch thì tỉ trọng và độ pH nước tiểu giảm xuống là do khi cung cấp nước sẽ làm cho tuyến yên tiết ít vazoprexin dưới tác dụng của hocmon này, sự tái hấp thụ nước ở các ống thận được giảm vì vậy lượng nước tiểu có xu hướng tăng lên

V Kết luận

Từ những kết quả đạt được qua thử nghiệm bù dịch sau vận động khi cho uống riêng rẽ từng loại nước khoáng Lavie, nước dừa non, Oresol ở những nam sinh viên trường TDTT chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

+ Chỉ tiêu sinh hóa máu: Hàm lượng các chất điện giải trong máu (Na+, K+,

Ca++, Cl-) phục hồi tốt khi bù dịch bằng nước dừa non hoặc Oresol hoặc nước khoáng Lavie Sự khác biệt về nồng độ Na+, K+, Ca++, Cl- trước và sau khi bù dịch là có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) Nồng độ Na+, K+, Ca++, Cl- sau vận động phục hồi rõ rệt hơn khi bù dịch bằng nước dừa non so với Oresol và nước khoáng, tuy nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

+ Chỉ tiêu huyết học: Các chỉ số Hb, Hct trong máu phục hồi tốt khi bù dịch bằng nước dừa non hoặc Oresol hoặc nước khoáng Lavie Sự khác biệt về các chỉ số

Hb, Hct trước và sau khi bù dịch là có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) Tuy nhiên không thấy sự khác biệt về các chỉ số Hb, Hct máu khi so sánh giữa các loại dịch

được thử nghiệm

+ Chỉ tiêu sinh hóa nước tiểu: Các chỉ số pH và tỉ trọng của nước tiểu phục hồi khi bù dịch bằng nước dừa non hoặc Oresol hoặc nước khoáng Lavie Sự khác biệt về chỉ số PH nước tiểu và tỉ trọng nước tiểu trước và sau khi bù dịch là có ý nghĩa thống kê với (p<0,05)

Tài liệu tham khảo

[1] Lưu Quang Hiệp, Sinh lý học Thể dục Thể thao, NXB Thể dục Thể thao, Hà Nội,

2003

[2] Nguyễn Hữu Chấn, Hóa sinh, NXB Y học, Hà Nội, 2001

[3] Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Ngọc Cừ, Mệt mỏi, hồi phục và dinh dưỡng cho vận

động viên, Viện Khoa học Thể dục Thể thao, 2000

[4] Vũ Triệu An, Bài giảng Sinh lý bệnh, NXB Y học, Hà Nội, 2002

[5] Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Thị Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên,

Về những thông số sinh học của người Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1982

[6] Tôn Thị Bích Hoài, ảnh hưởng của Rabiton và Hải sâm lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của sinh viên năng khiếu TDTT Trường Đại học Vinh, Luận văn thạc sĩ Sinh học, 2004

Ngày đăng: 23/07/2014, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Hàm l−ợng Kali trong máu ở thời kỳ bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 2 Hàm l−ợng Kali trong máu ở thời kỳ bù dịch (Trang 4)
Bảng 4: Hàm l−ợng Clo trong máu ở thời kỳ bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 4 Hàm l−ợng Clo trong máu ở thời kỳ bù dịch (Trang 5)
Bảng 3: Hàm l−ợng Canxi trong máu ở thời kỳ bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 3 Hàm l−ợng Canxi trong máu ở thời kỳ bù dịch (Trang 5)
Bảng 6: Hct máu ở thời các thời điểm của quá trình bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 6 Hct máu ở thời các thời điểm của quá trình bù dịch (Trang 6)
Bảng 7: pH của n−ớc tiểu ở thời kỳ bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 7 pH của n−ớc tiểu ở thời kỳ bù dịch (Trang 7)
Bảng 8: Tỉ trọng của n−ớc tiểu ở thời kỳ bù dịch - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Đánh giá hiệu quả bù dịch sau vận động bằng nước dừa non, dung dịch oresol và nước khoáng." pps
Bảng 8 Tỉ trọng của n−ớc tiểu ở thời kỳ bù dịch (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm