Bài viết này nhằm phản ánh hiện trạng phát triển các khu công nghiệp tỉnh Nghệ An trên các phương diện quy hoạch; tình hình đầu tư xây dựng; tình hình thu hút đầu tư và phát triển các do
Trang 1trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009
Thực trạng phát triển các khu công nghiệp
tỉnh nghệ an và một số vấn đề đặt ra
Hoàng Phan Hải Yến (a)
Tóm tắt Bài viết này nhằm phản ánh hiện trạng phát triển các khu công nghiệp tỉnh Nghệ An trên các phương diện quy hoạch; tình hình đầu tư xây dựng; tình hình thu hút đầu tư và phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp cũng như công tác quản lý nhà nước và chính sách thúc đẩy sự phát triển các khu công nghiệp ở Nghệ An, từ đó nêu ra một số tồn tại cần giải quyết trong thời gian sắp tới
I đặt vấn đề
Nghệ An là tỉnh nằm ở phía Bắc
của khu vực Bắc Trung Bộ, vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ Nơi đây có vị trí
giao thông thuận lợi cả về đường bộ,
đường biển và đường hàng không cùng
nhiều tiềm năng thế mạnh: đất đai màu
mỡ, nguồn lao động dồi dào với độ tuổi
lao động trẻ, trình độ tay nghề cao có
thể đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
(CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
Từ một tỉnh kinh tế chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp và TTCN, đến
nay Nghệ An đã có sự chuyển dịch
nhanh chóng về cơ cấu kinh tế; tỉ trọng
ngành công nghiệp và dịch vụ trong
những năm qua có bước tăng trưởng
đáng kể, tạo đà để Nghệ An trở thành
một tỉnh công nghiệp phát triển, là một
vệ tinh quan trọng cho vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ Với sức hấp dẫn của
mình, Nghệ An đã và đang trở thành
điểm đến của các nhà đầu tư Hiện nay
trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xuất hiện
nhiều khu công nghiệp (KCN) có qui mô
lớn, hàng năm đóng góp lớn vào nguồn
thu ngân sách tỉnh và nâng chỉ số GDP
toàn tỉnh đứng ở vị trí cao của khu vực Bắc Trung Bộ
II thực trạng phát triển các khu công nghiệp tỉnh nghệ an
1 Số lượng, qui mô các khu công nghiệp
Đến năm 2008, trong 5 KCN được quy hoạch phát triển của tỉnh Nghệ An
có 4 KCN đã lập qui hoạch chi tiết: Bắc Vinh, Nam Cấm, Cửa Lò, Hoàng Mai Trong đó, 2 KCN đã được xây dựng và
đi vào hoạt động là KCN Bắc Vinh và KCN Nam Cấm Tổng diện tích các KCN được quy hoạch là 803,41 ha Diện tích đất đã đăng ký thuê 213,77 ha (bằng 55,09% diện tích đất đã được phê duyệt và bằng 41,8% diện tích các KCN
đã triển khai xây dựng) Trong đó, diện tích các doanh nghiệp mới triển khai
đầu tư đạt 47,95ha (chiếm 22,43% diện tích đã đăng ký), so với toàn bộ diện tích quy hoạch mới đạt 6% Các KCN đã thu hút 42 dự án đầu tư, trong đó có 6
dự án FDI Tổng vốn các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp 1.890 tỷ đồng
và 12,9 triệu USD [1]
Nhận bài ngày 06/10/2009 Sửa chữa xong 24/11/2009
Trang 2H P H yến Thực trạng phát triển các khu công nghiệp , tr 99-106 Bảng 1: Diện tích đã đ−ợc phê duyệt của các khu công nghiệp đến năm 2008 [3]
DT đã đ−ợc phê duyệt (ha) Tên KCN Diện tích theo QH
Trong tổng số 803,41 ha diện tích
đất theo quy hoạch mới chỉ có 387,99 ha
đ−ợc phê duyệt, trong đó đất cho sản
xuất chiếm 276,65 ha KCN Nam Cấm
vẫn là khu chiếm diện tích quy hoạch
lớn nhất, tiếp đến là KCN Hoàng Mai và
diện tích nhỏ nhất vẫn là KCN Cửa Lò
Đồng thời, trong tổng diện tích đất đ−ợc
quy hoạch thì mới chỉ có hai KCN là Bắc
Vinh và Nam Cấm đ−ợc phê duyệt, hai khu công nghiêp còn lại ch−a đ−ợc phê duyệt Đây là chỉ thị của Chính phủ trong công văn số 450/CP-CN ngày 05/4/2004 đối với tỉnh Nghệ An trong việc tập trung xây dựng và thu hút đầu t− vào các KCN Nam Cấm và Bắc Vinh Khi các KCN này đạt đ−ợc kết quả tốt mới phê duyệt tiếp các KCN còn lại Bảng 2: Các dự án đã đăng ký sử dụng của các khu công nghiệp đến năm 2008 [3]
Diện tích các dự án đã đăng ký sử dụng (ha)
Đã triển khai đầu t−
Tên KCN
Tổng số
Hiện nay, diện tích các dự án đã
đăng ký sử dụng là 249,95 ha, nh−ng
mới chỉ có 47,195 ha đ−ợc triển khai
đầu t−, chiếm 18,9%, trong đó KCN Bắc
Vinh vẫn là KCN đ−ợc triển khai đầu
t− lớn nhất trong tổng diện tích các dự
án đã đăng ký sử dụng của KCN này
(94%)
Nh− vậy, nhìn chung, tiến độ triển
khai đầu t−, xây dựng và quy hoạch đất
đai trong các KCN ở Nghệ An vẫn còn chậm; diện tích đăng ký sử dụng so với diện tích đ−ợc Chính phủ phê duyệt còn thấp (64,4%) và nhất là so với diện tích theo quy hoạch còn rất thấp (31,1%)
2 Tình hình đầu t− xây dựng Theo thống kê ch−a đầy đủ, số liệu vốn đầu t− xây dựng của các khu công nghiệp tập trung nh− sau:
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009
- Vốn chuẩn bị đầu tư (bao gồm vốn
quy hoạch, vốn lập dự án đầu tư):
1.007,298 triệu đồng
- Vốn đền bù giải phóng mặt bằng:
78.930 triệu đồng
- Vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật KCN:
74.400 triệu đồng Trong đó:
+ Vốn từ nguồn ngân sách: 5.000 triệu đồng;
+ Vốn của doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng: 38.914 triệu đồng;
+ Vốn của doanh nghiệp KCN: 51.184 triệu đồng
Bảng 3: Chi phí cho các khu công nghiệp đến năm 2008 [3]
Các chi phí cho KCN Vinh Bắc Nam Cấm Cửa Lò Hoàng Mai Tổng 1-Vốn chuẩn bị đầu tư
(triệu đồng)
2-Giải phóng mặt bằng
- Nguồn vốn từ ngân sách 8.172 31.000 3.000 0 42.172
- Doanh nghiệp KD hạ
3-Vốn đầu tư hạ tầng
kỹ thuật KCN (triệu
đồng)
- Vốn của doanh nghiệp
- Vốn DN hoạt động
Nhìn chung, các chi phí cho KCN
còn thấp, nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước cũng như các doanh nghiệp kinh
doanh hạ tầng và doanh nghiệp hoạt
động đổ vào các KCN còn chưa thỏa
đáng Điều này một phần do một số các
KCN chưa được giải phóng mặt bằng và
xây dựng hạ tầng kỹ thuật (KCN Hoàng
Mai); nhưng phần lớn do các doanh
nghiệp với tâm lý còn e ngại giữa việc
bỏ một nguồn vốn lớn với thu hồi vốn và lợi nhuận thu được sau này; đồng thời việc thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài hầu như không có Đây là một vấn đề đặt ra cho các KCN trong việc thu hút đầu tư từ bên ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh khi cơ sở hạ tầng
đã hoàn thiện
Trang 4H P H yến Thực trạng phát triển các khu công nghiệp , tr 99-106 a- Khu công nghiệp Bắc Vinh
Diện tích quy hoạch: 143,16 ha;
Giai đoạn I đã được Chính phủ phê
duyệt với diện tích 60,16 ha Tổng vốn
đầu tư 78,5 tỷ đồng Giai đoạn II diện
tích 83,01 ha chưa được phê duyệt
* Về hạ tầng ngoài hàng rào khu
công nghiệp: Do tỉnh Nghệ An đầu tư
- Đã hoàn thành đường vào KCN
nối từ quốc lộ 1A với KCN Bắc Vinh, dài
1.880 m với tổng vốn đầu tư gần 15 tỷ
đồng
- Hệ thống cấp nước cho KCN dài 2
km đã được lắp đặt đến chân hàng rào
KCN với tổng vốn đầu tư: 900 triệu
đồng
- Đã lắp đặt hệ thống cấp điện 22
KV cho KCN với tổng vốn đầu tư cho di
dời đường điện cũ và lắp hệ thống cáp
ngầm từ trạm điện Hưng Đông đến
Hàng rào KCN Bắc Vinh là 3 tỷ đồng
- Hệ thống thông tin liên lạc cho
KCN đã được lắp đặt đến chân hàng rào
các doanh nghiệp
Các công trình ngoài hàng rào KCN
đã cơ bản hoàn thành với tổng chi phí
đã thực hiện là 19 tỷ đồng (không tính
chi phí đường cáp quang của bưu điện)
* Về hạ tầng trong khu công nghiệp:
Theo báo cáo của Công ty đầu tư
phát triển KCN Bắc Vinh (LILAMA),
tính đến hết năm 2008, chi phí đền bù
giải phóng mặt bằng và xây dựng kết
cấu hạ tầng trong KCN là 25,930 tỷ
đồng, trong đó:
- Vốn hỗ trợ của ngân sách tỉnh
Nghệ An: 8,172 tỷ đồng;
- Vốn các doanh nghiệp tự đầu tư hạ
tầng sau đó được tính trừ vào tiền thuê
đất là: 1,784 tỷ đồng;
- Nguồn vốn Chủ đầu tư là 13.914
tỷ đồng Trong đó phần thu tiền thuê
đất hàng năm của một số doanh nghiệp 2,06 tỷ đồng
Theo các số liệu đã nêu ở trên, sau hơn 5 năm kể từ ngày có quyết định phê duyệt, tổng vốn đầu tư thực hiện trên tổng vốn đầu tư được phê duyệt chỉ đạt 33% (25,93 tỷ/78,5 tỷ) Theo NĐ 36/CP của Chính phủ ban hành quy chế quản
lý KCN, việc chủ đầu tư thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ như thế là quá chậm
b- Khu công nghiệp Nam Cấm Các tiểu khu A và C đang tiến hành lập báo cáo nghiên cứu khả thi trình các
Bộ, ngành Trung ương và Chính phủ phê duyệt Đến hết năm 2008, việc triển khai xây dựng KCN Nam Cấm đã đạt
được những kết quả như sau:
- Đã đền bù giải phóng mặt bằng cho diện tích đất hơn 274,15/ tổng số 327,83 ha (khu A 40,43 ha/93,68 ha; khu B 79,4 ha/79,4 ha; khu C 154,75/154,75 ha) Tổng giá trị tiền bồi thường giải phóng mặt bằng 60,6 tỷ
đồng
- Đã hoàn thành rà phá bom, mìn, vật nổ cho toàn bộ diện tích của KCN với chi phí trên 10 tỷ đồng
- Đã xây dựng hệ thống cấp điện tạm thời cho các dự án đang xây dựng tại Bắc Khu C và đang xây dựng đường dây 35KV tuyến chính cung cấp điện cho khu công nghiệp
- Đang triển khai thi công hệ thống
đường giao thông nội bộ Nam khu C, hệ thống thoát nước mưa Bắc khu C với kinh phí thực hiện 30 tỷ đồng
c- Khu công nghiệp Cửa Lò Diện tích quy hoạch 40,55 ha do Công ty phát triển khu công nghiệp Nghệ An làm chủ đầu tư
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009
- Các ngành công nghiệp ưu tiên
phát triển: May xuất khẩu; Hàng mỹ
nghệ XK; Đồ chơi trẻ em; Đồ lưu niệm;
Lắp ráp cơ khí; Điện tử - tin học; Kho
ngoại
- Chính phủ đã đồng ý về chủ
trương thành lập Khu công nghiệp Cửa
Lò tại Văn bản số số 1152/CP-CN, ngày
20/12/2001 Bộ Xây dựng đã thoả thuận
quy hoạch chi tiết tại Văn bản số
1272/BXD-KTQH ngày 20/8/2002 Đến
nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thẩm
tra Báo cáo nghiên cứu khả thi và trình
Chính phủ báo cáo thẩm tra số
1589/BKH/TĐ&GSĐT ngày 22/3/2004;
Chính phủ đã có công văn số
450/CP-CN ngày 05/4/2004, yêu cầu tỉnh Nghệ
An tập trung xây dựng và thu hút đầu
tư vào các khu công nghiệp Nam Cấm
và Bắc Vinh Khi các khu công nghiệp
này đạt được kết quả tốt mới phê duyệt
tiếp khu công nghiệp Cửa Lò
- Song song với việc lập hồ sơ xin
phê duyệt, công tác đầu tư hạ tầng kỹ
thuật và xúc tiến kêu gọi đầu tư vào
khu công nghiệp Cửa Lò cũng được
triển khai Về xây dựng hạ tầng kỹ
thuật: hệ thống cấp nước cho khu công
nghiệp lấy từ nhà máy nước Cửa Lò đã
được xây dựng; đã đền bù giải phóng
mặt bằng cho diện tích 4,37 ha trị giá
1,105 tỷ đồng và hoàn thành khu định
cư để di dời các hộ dân nằm trong diện
phải di dời với quy hoạch 40 lô, tổng
diện tích 8.000 m2
- Đã lập phương án đền bù giải
phóng mặt bằng đợt 2 với diện tích 6,5
ha với số tiền 1,125 tỷ đồng nhưng chưa
triển khai thực hiện
d Khu công nghiệp Hoàng Mai
Diện tích quy hoạch gần: 300 ha do
công ty Cổ phần Xây dựng Dầu khí
Nghệ An (PVNC) và tập đoàn Thiên
Hưng làm chủ đầu tư
Các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển: công nghiệp vật liệu xây dựng; cơ khí sửa chữa; lắp ráp thiết bị xây dựng; bao bì; hoá chất;
Các nhà máy đã đi vào hoạt động: nhà máy Xi măng Hoàng Mai, công suất 1,4 triệu tấn/năm (sẽ nâng công suất lên 2,8 triệu tấn/năm trong tương lai); nhà máy gạch tuy nen công suất 20 triệu viên năm; nhà máy khai thác và chế biến đá xây dựng
Trong các KCN nêu trên, KCN Bắc Vinh vẫn là KCN tương đối hoàn thiện
về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Các KCN còn lại chưa hoàn thiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như các dịch vụ theo sau nó, hiện nay vẫn đang thực hiện công tác
đền bù và giải phóng mặt bằng; các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển còn ít, chưa tương xứng với nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động của vùng cũng như của tỉnh Nghệ An
3 Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp KCN
- Đến hết năm 2008, các KCN của tỉnh thu hút được 42 dự án, trong đó 36
dự án đầu tư trong nước với tổng vốn
đầu tư 1,890 tỷ đồng, 6 dự án FDI vốn
đầu tư 12,9 triệu USD (KCN Bắc Vinh
16 dự án, KCN Nam Cấm 25 dự án, KCN Cửa Lò 1 dự án)
- Có 13 dự án đi vào hoạt động trong các KCN, giá trị sản xuất công nghiệp từ các dự án đạt 664,3 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu 104,07 tỷ đồng, nộp ngân sách 32,37 tỷ, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 1.883 lao động Các KCN góp phần tạo ra năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, làm cho cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển biến theo hướng công nghiệp hoá, thị trường, hiện đại
Trang 6H P H yến Thực trạng phát triển các khu công nghiệp , tr 99-106
Bảng 4: Một số kết quả đạt được của các khu công nghiệp đến năm 2008 [3] Danh mục Vinh Bắc Nam Cấm Cửa Lò Hoàng Mai Tổng cộng 1- Số dự án đăng ký
42 Trong đó :
2- Tổng mức đầu tư (tỷ
2.112
3- Kết quả sản xuất
kinh doanh năm 2005
(tỷ đồng)
Nhìn chung, các KCN ở Nghệ An đã
đạt được những kết quả bước đầu, số dự
án đầu tư hiện nay đã lên đến 42 dự án
với tổng mức đầu tư 2.112 tỷ đồng; đến
năm 2005, giá trị sản xuất đã đạt
273,391 tỷ đồng (chiếm 12,9% so với
tổng mức đầu tư), doanh thu 328,54 tỷ
đồng; đặc biệt hơn là đã giải quyết việc
làm cho 1.883 lao động Tuy nhiên,
trong tổng số dự án đăng ký đầu tư mới
chỉ có 6 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
(chiếm chưa đầy 14,3%), đây là một con
số còn ít ỏi so với tiềm năng của tỉnh
cũng như thực trạng đầu tư và thu hút
đầu tư của các KCN Điều này đòi hỏi
trong những năm sắp tới tỉnh Nghệ An
cần có những chính sách phù hợp để
mời gọi đầu tư lớn từ nước ngoài, nhất
là các nước phát triển
4 Công tác quản lý nhà nước và
chính sách phát triển [[[[2]]]]
* Ban quản lý các khu công nghiệp
Nghệ An thực hiện chức năng quản lý
nhà nước đối với các KCN theo chức năng nhiệm vụ được giao
* Về các chính sách ưu đãi:
- Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: Tỉnh cũng đã có nhiều chính sách ưu đãi về thuế thu nhập cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh trong các KCN Cụ thể:
+ áp dụng thuế suất từ 10% đến 20% trong vòng 10 đến 15 năm đối với các doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh trong địa bàn các KCN Tuy nhiên, mức thấp hay cao tùy vào từng
đối tượng cụ thể
+ Được miễn thuế từ 02 năm đến 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 02 năm
đến 09 năm tiếp theo tùy vào từng đối tượng cụ thể hoạt động kinh doanh trong các KCN
+ Đối với các cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô,
đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009 sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất
thì được miễn, giảm thuế cho phần thu
nhập tăng thêm do đầu tư này mang lại
thì được miễn từ 01 năm đến 04 năm và
giảm 50% số thuế phải nộp cho 02 năm
đến 07 năm
- Ưu đãi về thuế xuất - nhập khẩu:
Tỉnh Nghệ An cũng đã có những chính
sách miễn thuế một cách hợp lý cho
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tùy
theo từng mặt hàng cụ thể, ưu tiên cho
các mặt hàng nhập khẩu để đổi mới dây
chuyền và công nghệ sản xuất; các mặt
hàng xuất khẩu chứa hàm lượng khoa
học kỹ thuật cao
- Ưu đãi về thuế sử dụng đất:
+ Cho thuê đất dài hạn để sản xuất
kinh doanh trong khu công nghiệp
+ Giảm tiền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về khuyến khích
đầu tư
+ Giảm 50% tiền sử dụng đất đối
với đất trong hạn mức đất ở được giao
của hộ gia đình nghèo
+ Giảm 20% tiền sử dụng đất khi
được nhà nước giao đất đối với nhà máy,
xí nghiệp phải di dời theo quy hoạch;
nhưng diện tích đất được giảm tối đa
không vượt quá diện tích tại địa điểm
phải di dời
III một số vấn đề đặt ra đối
với việc phát triển các khu
công nghiệp trong những năm
vừa qua
Có thể nói rằng, sự hình thành và
phát triển các khu công nghiệp tập
trung thời gian vừa qua đã tạo ra bước
đi mới trong thu hút đầu tư để phát
triển công nghiệp, thúc đẩy phát triển
kinh tế, đẩy nhanh quá trình đô thị
hoá; các KCN hình thành đã kéo theo
sự phát triển kinh tế, tạo việc làm và
thu nhập cho gần 2.000 lao động; các doanh nghiệp KCN cũng góp phần làm thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới thương mại hàng hoá và dịch vụ trên
địa bàn tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, việc phát triển các KCN cũng còn đặt ra nhiều vấn đề mà tỉnh cũng như các cơ quan ban ngành cần phải quan tâm giải quyết và hạn chế nó:
- Công tác qui hoạch và triển khai thực hiện thiếu đồng bộ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật chắp vá, đã nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong thời gian tới như: xử lý môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xung quanh các KCN [2]
- Công tác giải phóng mặt bằng các KCN chậm và chưa có biện pháp mạnh
để giải quyết triệt để, chưa đáp ứng
được yêu cầu thuê đất của các nhà đầu tư
- Thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu đồng bộ làm cho các nhà đầu tư tốn rất nhiều thời gian, công sức chuẩn
bị hồ sơ, phải đi nhiều nơi và họ thật sự chưa hài lòng về thủ tục giải quyết hỗ trợ của tỉnh ta trong thời gian qua
- Nhìn chung, hiệu quả các doanh nghiệp KCN đã đi vào hoạt động thời gian qua chưa cao, các doanh nghiệp
đầu tư vào KCN có hàm lượng vốn còn thấp, công nghệ trung bình, một số doanh nghiệp đang lỗ kéo dài làm cho tính hấp dẫn của KCN kém [2]
- Việc thu hồi đất nông nghiệp do phát triển KCN đã làm cho hàng nghìn
hộ nông thôn, chủ yếu là nông dân mất
đất sản xuất, thiếu việc làm…
- Chưa tận dụng được những tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh cũng như còn bất cập về cơ cấu ngành nghề, về
đầu tư chiều sâu Chính vì vậy, việc thu hút đầu tư cũng như chất lượng các dự
Trang 8H P H yến Thực trạng phát triển các khu công nghiệp , tr 99-106
án đầu tư thu hút chưa cao
Với những tồn tại nêu trên, trong
những năm sắp tới, tỉnh Nghệ An và
các Ban, Ngành của tỉnh cần phải có
các định hướng đúng và những mô hình
phát triển phù hợp để phát huy tối đa
những lợi thế so sánh và khắc phục những hạn chế nêu trên, nhằm đưa ngành công nghiệp trở thành ngành có tốc độ tăng trưởng cao, tạo đà mạnh cho
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
Tài liệu tham khảo
[1] Cục thống kê Tỉnh Nghệ An, Niên giám thống kê năm 2008
[2] UBND Tỉnh Nghệ An, Đề án “Xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Nghệ An”, 2005
[3] Ban quản lý các KCN Tỉnh Nghệ An, Báo cáo kết quả đạt được của các KCN, 9/2008
Summary
The present real situation of Nghe An industrial zones and
some problems that need to be solved
This article reflects the real development situation of industrial zones of Nghe An province on the lot, the situation context of construction investment attraction, bussiness development state management and policies for promoting the development of these industrial zones in Nghe An Some suggestions for unsolved existing problems next time are also presented in this paper