Khảo sát văn xuôi Việt Nam giai đoạn nói trên trong tương quan so sánh loại hình với văn học Nga hiện đại, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau đây: Xét về hệ hình xã hội - kinh tế - v
Trang 1Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua
so sánh với văn xuôi Nga
Dẫn luận
Bài viết nhằm mục đích cung cấp thêm một hướng tiếp cận đối với văn xuôi Việt Nam giai đoạn ba thập niên cuối thế kỉ XX, chính xác hơn, từ sau thời kì Đổi Mới cho đến nay Khảo sát văn xuôi Việt Nam giai đoạn nói trên trong tương quan so sánh loại hình với văn học Nga hiện đại, chúng tôi xuất phát từ những lí do sau đây:
Xét về hệ hình xã hội - kinh tế - văn hoá, gần bốn thập niên giữa thế kỉ XX, Việt Nam là mô hình thu nhỏ của Liên Xô Văn học nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa (HTXHCN) ở Việt Nam, về cả nội dung nghệ thuật lẫn phương thức tổ chức, hiển nhiên, cũng là mô hình thu nhỏ của văn học Xô Viết HTXHCN Ở giai đoạn này, văn học ViệtNam chịu ảnh hưởng trực tiếp văn hoá và văn học Xô Viết Sách dịch thời kì này chủ yếu là sách Liên Xô Có thể nói, đây là giai đoạn “học hỏi” tự nguyện của một nền văn học đang trưởng thành, tiếp tục đi trên con đường hiện đại hoá Nó khác với sự tiếp nhận văn hoá Pháp nửa cưỡng bức, nửa tự nguyện của văn học Việt Nam thời kì Pháp thuộc trước đó
Trang 2Từ sau Cải Tổ ở Nga và Đổi Mới ở Việt Nam (diễn ra gần như cùng một thời điểm, cuối những năm 1980, đầu 1990), tương đồng “loại hình” về phương diện chính trị, xã hội giữa hai nước đã kết thúc Người Nga đã rời bỏ mô hình xã hội chủ nghĩa tồn tại gần một thế kỉ (mà để có được họ đã tốn không biết bao nhiêu xương máu), trong khi Việt Nam vẫn kiên trì mô hình này Do nhiều nguyên nhân từ cả hai phía, cuộc giao lưu trong lĩnh vực văn hoá, văn học nghệ thuật trở nên rời rạc, mờ nhạt Sách Nga vắng bóng trên thị trường, ảnh hưởng do tiếp xúc trực tiếp và do cùng loại hình HTXHCN của văn học Xô Viết đối với văn học Việt Nam đã chấm dứt Thay vào đó giữa hai nền văn
học này lại có những tương đồng loại hình mới mà ta có thể tạm gọi là tương đồng loại hình của văn học hậu - HTXHCN.
Loại hình văn học hậu HTXHCN bao gồm các nền văn học của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây Bên cạnh những đặc trưng văn hoá dân tộc và tuỳ thuộc mức độ ít hay nhiều, giữa các nền văn học này có nhiều đặc điểm chung: đó là sự hội tụ các mảng văn học trước đây từng bị chia rẽ (văn học chính thống, văn học “ngoại biên”, văn học bị cấm đoán, văn học hải ngoại ) tiến tới một nền văn học thống nhất phong phú, đa dạng; văn học thoát li khỏi sự bao cấp của nhà nước nên buộc phải năng động, độc lập trong cơ chế thị trường, nếu vừa muốn tự nuôi sống và cho ra được những sản phẩm để đời; sự tiếp xúc ồ ạt với văn hoá, văn học thế giới sau thời kì “mở cửa”, đã khiến văn học hậu HTXHCN trở nên đa dạng và buộc phải tăng tốc phát triển, thoát ra khỏi chủ nghĩa tỉnh lẻ, theo kịp và hoà vào dòng chảy chung của văn học nhân loại
Chính vì vậy, nghiên cứu văn học đương đại Việt Nam trên cơ sở so sánh với các nền văn học có cùng cấp độ loại hình hậu HTXHCN, như văn học một số nước Đông
Âu, Nga, Trung Quốc là một hướng nghiên cứu cần thiết, cho phép nhìn nhận rõ hơn bản chất của dòng văn học đang vận động và hướng đi chính của nó Song công việc này đòi hỏi sự đóng góp công sức của nhiều người Bài viết chỉ hạn chế trong phạm vi so sánh một số nét cơ bản của văn xuôi đương đại Việt Nam và văn xuôi hậu hiện đại Nga
để tìm ra những yếu tố hậu hiện đại - những yếu tố góp phần làm biến đổi hệ hình văn học Việt Nam
Bức tranh văn học Nga và văn học Việt Nam thời hậu HTXHCN khá giống nhau, tuy chỉ khác ở quy mô và mức độ hỗn độn Tuy nhiên, nếu như ở Nga, các chuyên gia cố gắng đưa ra những tổng kết lí luận về nền văn học “hậu Xô Viết” đang vận động gấp gáp và hỗn loạn, phân loại các trào lưu, khuynh hướng chính của nó, thì ở Việt Nam
Trang 3điều đó chưa được thực hiện Khái niệm “văn học Đổi Mới” áp dụng cho văn học thập niên 1980-1990, “văn học hậu Đổi Mới” (từ năm 2000 trở lại đây), dùng nhiều thành quen, trên thực tế đó là một khái niệm mơ hồ, gắn với chính trị, mang tính chất thời điểm, không đưa ra được định tính thẩm mĩ xác đáng cho nền văn học đương đại Người thì hiểu đó là văn học “nói ngược”, “phá phách”, người cho rằng đó là dòng văn học phê phán với sự cách tân, đổi mới thi pháp (theo tinh thần “cũ” phương Tây, “mới” Việt Nam) Ngoài khái niệm “đổi mới”, văn học Việt Nam đương đại, về cơ bản, chưa được định danh, định tính, chưa được xác định xem đó là loại văn học gì, được viết theo những trào lưu, khuynh hướng nào Phần lớn các bài phê bình, dù có diễn giải ra sao, cuối cùng vẫn chỉ toát lên một điều: hiện các nhà văn, nhà thơ Việt Nam không ai viết
“như trước” và cũng không thể viết như trước vì “đối tượng phản ánh đã khác trước” và nhu cầu thưởng thức của bạn đọc - một bạn đọc gần 20 năm được làm quen với văn hoá, văn học thế giới bằng nhiều “kênh” khác nhau, cực kì không thuần nhất - cũng khác trước
Nền văn học Việt Nam “khác trước” hình thành trên cơ sở tâm thức mới của thời đại, đòi phê bình, lí luận phải có tâm thức ấy để nhìn nhận, định giá trị Và đương nhiên, các nguyên tắc phê bình, “bộ công cụ” mổ xẻ văn học hiện thực cổ điển và HTXHCN cũng không thể áp dụng đối với nền văn học mới này Tất cả các cuộc hội thảo về lí luận phê bình được tổ chức liên tiếp ở nước ta trong vài năm vừa qua, cùng các chuyên luận, bài viết và những cuộc cãi vã trên diễn đàn, suy cho cùng, chính là để xác định cái tâm thức ấy và tìm tòi những phương thức tiếp cận phù hợp với một nền văn học đang chuyển mình
Trong bối cảnh chung, tìm những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam trong tương quan so sánh với văn xuôi hậu hiện đại Nga - một khuynh hướng đã được xác định, là một trong những thể nghiệm, một mặt, nhằm khẳng định văn học hậu HTXHCN Việt Nam là một hệ hình văn học mới bao gồm những khuynh hướng sáng tác khác nhau đặc trưng cho nền văn học phát triển tăng tốc, mặt khác, giúp hình thành một cách đọc mới với cái nhìn và tâm thế hậu hiện đại, đặng có thể “giải mã” một số sáng tác văn học Việt Nam đương đại hiện đang được coi là những “hiện tượng”
1 Những đặc điểm chung của văn học hậu hiện đại.
Trước khi tìm hiểu những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam, chúng ta cần phải hiểu hậu hiện đại là gì và văn học hậu hiện đại nói chung có những đặc điểm gì
Trang 4Về vấn đề cơ bản này đó cú nhiều nhà nghiờn cứu nước ngoài đề cập tới và đưa
ra những nhận định sõu sắc, thuyết phục Chỳng tụi cũng đó cú dịp trỡnh bầy cỏch hiểu của mỡnh về chủ nghió hậu hiện đại, mối liờn quan của nú với chủ nghĩa hiện đại, cựng những phõn tớch cụ thể sỏng tỏc của cỏc nhà văn, nhà thơ hậu hiện đại Nga, đăng trờn
tạp chớ Nghiờn cứu văn học và một số tạp chớ, sỏch bỏo khỏc Ở đõy chỳng tụi chỉ túm
tắt một số điểm chủ yếu để người đọc tiện theo rừi
Một cỏch khỏi quỏt nhất, cỏc học giả đó xỏc định hậu hiện đại là một giai đoạn lịch sử xó hội quy định hỡnh thỏi văn hoỏ, tổng thể những phong trào lớ luận và sỏng tỏc thể hiện tõm thức bao trựm (mentalite) của thời đại, cảm quan thế giới và con người, sự đỏnh giỏ khả năng nhận thức và vai trũ, vị trớ của con người trong thực tại Tinh thần hậu hiện đại thể hiện ở khắp mọi lĩnh vực của đời sống văn hoỏ tinh thần, từ văn học nghệ thuật, hội họa, kiến trỳc tới cỏc ngành khoa học cơ bản tự nhiờn và xó hội
Ở phương Tõy, cỏc triết gia cụ thể hoỏ cỏch hiểu về hậu hiện đại, xuất phỏt từ những gúc nhỡn khỏc nhau: F Jameson coi đú là ý thức văn hoỏ của “chủ nghĩa tư bản muộn”, cũn J Baudrillard - hệ quả của sự bựng nổ thụng tin đại chỳng; J.F Lyotard - “kết thỳc đại tự sự”; Derrida - “giải trung tõm”; Foucault - “khảo cổ học tri thức” Theo họ,
hậu hiện đại hỡnh thành hệ quả tất yếu của cuộc đại khủng hoảng về nhận thức luận xuất
hiện từ nửa cuối thế kỉ XIX cùng với sự phá sản của khoa học thực chứng Cuộc khủng hoảng này càng trở nên sâu sắc khi những phát kiến khoa học vĩ đại của thế kỉ XX
nh thuyết tơng đối của Einstein, nguyên lí bất định của Heisenberg, lí thuyết đa thế
giới của Emfred, lí thuyết hỗn loạn của I Prigorin và sự bùng nổ thông tin, đã làm
thay đổi cỏi nhỡn thế giới Cỏc “Lịch sử lớn” - trung tõm - trục chớnh, bị giật đổ, thực tại trở nờn hỗn độn, đầy rẫy những ngẫu nhiờn, bất ngờ, khú đoỏn định Mỗi nền văn hoá, mỗi thế hệ, cá nhân, tạo dựng cho mình một “hiện thực” từ những cái mà Jean
Baudrillard gọi là simulacrum - “coopi không có bản gốc - những “ngụy tạo”(1) Sự quá tải của nhận thức con ngời trớc lợng tri thức của nhân loại đợc tích luỹ trong nhiều thế
kỉ và phát triển theo cấp số nhân vào thời hiện tại dẫn tới sự phỏ sản nhận thức, con người lõm vào tỡnh trạng “chấn thương hậu hiện đại” và “biến mất”, xột từ cỏi nhỡn truyền thống
về con người-trung tõm vũ trụ, những cỏ tớnh khổng lồ, hoàn chỉnh
Về phương diện thuật ngữ “post - hậu”, hậu hiện đại là giai đoạn sau của chủ nghĩa hiện đại Triết gia người Nga Epstein cho rằng chủ nghĩa hiện đại gắn với cỏc cuộc cỏch mạng nửa đầu thế kỉ XX trong tất cả cỏc lĩnh vực với tham vọng tạo lập một thế
Trang 5giới hoàn thiện, bất biến, đối lập với thực tại hỗn loạn, phi lớ(2) Nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa tự cho mỡnh là“chân lí cuối cùng”, “ngôn ngữ tuyệt đối”, “phong cách mới” Đứa con “đột biến gen” - chủ nghĩa hậu hiện đại, giễu cợt ảo tưởng ngõy thơ, song vĩ đại đú của bậc tiền bối và cho rằng kỡ vọng vào sự tồn tại của một hiện thực bất định nào
đú nằm đằng sau các kí hiệu, là tàn dư khú vợt qua của thứ “siêu hình học hiện tồn” già cỗi Chủ nghĩa hậu hiện đại quan niệm đằng sau những kớ hiệu là hỗn độn, và cỏch khắc phục tốt nhất là “làm hoà” với nú Đối thoại với hỗn độn chớnh là chiến lược nghệ thuật của văn học hậu hiện đại
Như vậy, xó hội hậu cụng nghiệp của “chủ nghĩa tư bản muộn” cựng với sự phỏt triển rầm rộ của khoa học, kĩ nghệ thụng tin và văn hoỏ đại chỳng là “những điều kiện” dẫn tới sự ra đời của văn học hậu hiện đại phương Tõy, bao gồm nhiều khuynh hướng, trường phỏi khỏc nhau Nhưng như thế sẽ cú một loạt vấn đề được đặt ra, chẳng hạn: nếu hậu hiện đại là kết quả của chủ nghĩa tư bản muộn, của văn minh điện toỏn, thỡ ở cỏc nước chưa trải qua thời kỡ cụng nghiệp húa (chưa núi tới hậu cụng nghiệp), khụng mấy phỏt triển về khoa học và cụng nghệ thụng tin, trong văn học khụng cú truyền thống của chủ nghĩa hiện đại, liệu cú thể cú văn hoỏ, văn học hậu hiện đại? Trờn thực tế, văn học hậu hiện đại là một hiện tượng bao trựm, mang tớnh toàn cầu từ nửa sau thế kỉ XX Văn học cỏc nước Mĩ La tinh, Đụng Âu, Trung Đụng, Trung Quốc và cỏc nước khu vực Đụng Nam chõu Á, dự khỏc nhau như thế nào về truyền thống, cũng đều tuyờn bố về khuynh hướng hậu hiện đại của mỡnh Ở đõy xuất hiện một cõu hỏi: vậy hậu hiện đại là hiện tượng thuộc phõn kỡ lịch sử hay thuộc tõm thức chung, cú nghĩa nú đó từng tồn tại trong một số giai đoạn của lịch sử văn hoỏ nhõn loại Những cõu trả lời khỏc nhau xuất phỏt từ những quan niệm khỏc nhau về hậu hiện đại Chỳng tụi dẫn ra hai quan niệm chớnh Quan niệm thứ nhất(3) cho rằng, xột theo phương diện lịch đại của tiến trỡnh văn hoỏ chung, hậu hiện đại modernism) là giai đoạn đầu của thời hậu hiện đại (post-modernity) xuất hiện vào nửa sau thế kỉ XX tiếp theo thời đại Mới ((post-modernity) kộo dài
từ thời kỡ Phục Hưng cho tới nửa đầu thế kỉ XX Nhưng như vậy sẽ lại cú một cõu hỏi được đặt ra: vậy văn hoỏ nghệ thuật baroque (nằm trong thời modernity) sẽ phải xếp vào loại văn hoỏ gỡ? Bởi, với tớnh chất và đặc điểm của mỡnh (văn hoỏ Baroque đánh mất sự quân bình, ổn định, con ngời bị đặt giữa một thế giới mâu thuẫn, không xác định, đầy nghi ngờ về sự tồn tại của Thượng Đế ý thức về khủng hoảng xã hội tạo cảm giác về
sự bất ổn, hỗn loạn sâu sắc) nú gần gũi với văn hoỏ hậu hiện đại Chớnh vỡ vậy quan
Trang 6niệm thứ hai(4) tỏ ra xỏc đỏng và thuyết phục hơn khi cho rằng hậu hiện đại là loại tõm thức đặc thự thường xuất hiện vào những giai đoạn khủng hoảng trong lịch sử văn hoỏ,
xó hội loài người Trước đõy, sự khủng hoảng diễn ra cục bộ (từng nước, từng khu vực), hiện nay nú diễn ra trờn phạm vi toàn cầu và mức độ, tớnh chất của khủng hoảng ở từng nước, từng khu vực quy định tớnh chất và đặc điểm văn học nghệ thuật hậu hiện đại của nú
Như vậy, văn học hậu hiện đại ở những nước từng cú cựng hệ hỡnh sỏng tỏc trước đõy (Đụng Âu, Trung Quốc, Việt Nam ) chắc chắn cú những điểm tương đồng và đặc trưng riờng phõn biệt với văn học hậu hiện đại phương Tõy Tổng kết được những vấn
đề này cũng là một điều lớ thỳ, song ở đõy chỳng tụi chỉ xin núi tới đặc trưng của văn học hậu hiện đại Nga, làm cơ sở để so sỏnh với văn học đương đại Việt Nam, từ đú rỳt
ra những đặc điểm hậu hiện đại của nú
2 Văn học hậu hiện đại Nga - hậu quả của sự ghộp cấy muộn màng của hậu hiện đại phương Tõy trờn thõn cõy Xụ Viết?
Đú là nhận định mang tớnh chất phản ứng của giới phờ bỡnh chớnh thống những năm 1990 trước sự tấn cụng ồ ạt của trào lưu hậu hiện đại trờn văn đàn và văn húa Nga Nếu ở giai đoạn giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu XX, phờ bỡnh Nga, vốn quen với những nhõn vật khổng lồ và những vấn đề mang tầm nhõn loại chứa đầy tớnh thuyết giỏo về chõn lớ và đạo đức của văn học cổ điển Nga, khi đọc truyện ngắn của Anton Tchekhov
về những điều vặt vónh đời thường, đó bất bỡnh, khụng hiểu đú là loại văn học gỡ, thỡ vào cuối thế kỉ, phờ bỡnh Xụ Viết, vốn quen với những “siờu truyện” hiện thực xó hội chủ nghĩa hoành trỏng, cũng cú thỏi độ phản ứng như vậy khi đứng trước dũng thỏc văn học được gọi là hậu hiện đại ngập tràn văn đàn Nga Họ gọi văn học hậu hiện
đại là loại văn học “khỏc lạ”, “thiếu mỏu”, coi đú là một thứ “mốt thời thợng”, hiểu theo nghĩa thoắt hiện, thoắt biến, một thú chơi ngông của đám nhà văn trẻ mới bớc vào nghề, muốn đập phá, kiếm tìm sự mới mẻ, khác lạ từ bờn ngoài Tuy nhiờn, gương mặt chớnh của trào lưu hậu hiện đại lại khụng chỉlà những nhà văn trẻ nh V Pelevin (sinh năm 1967), I Buida (1956), V Sorokin (1955), T Kibirov (1955), các nhà văn “trung niên” nh Tolstaia (1951), V Pesuk (1947), L Rubinstein(1947), mà còn là nhà các nhà văn “lão thành”, nh D.A Prigov (1940), A Bitov (sinh năm 1937) L Petrusevskaia (1938), V Erofeev (1938) và sỏng tỏc của họ được đỏnh giỏ cao khụng chỉ ở trong nước
Trang 7Với sỏng tỏc của cỏc nhà văn lớn tuổi này, văn học hậu hiện đại Nga đó xuất hiện ngay từ những 1960-1970, tức là cùng thời gian với những tuyên ngôn của hậu hiện đại phơng Tây Những bớc đi đầu tiên của hậu hiện đại Nga được đỏnh dấu bằng tỏc
phẩm Viện Puskin (1964-1971) của Andrei Bitov, Moskva - Petuski (1969) của Venedikt Erofeev, Trường học giành cho lũ ngốc (1975) của Sasa Sokolov, thơ, trường ca của
Iosip Brodski và sỏng tỏc một số các tác giả khác Vào thời kỡ này, tấm màn sắt ngăn thế giới Xụ Viết với văn hoỏ phương Tõy đang cũn đúng chặt, việc tiếp xỳc với những trào lưu sỏng tỏc bờn ngoài chủ yếu là qua cỏc chuyờn luận, hoặc những bài phờ bỡnh theo quan điểm Macxit đơn giản với những tớt đề kiểu: “Chủ nghĩa hiện đại - đồng tỡnh hay phản đối?” Chớnh vỡ thế khụng thể núi rằng hậu hiện đại Nga là một thứ cõy chiết phương Tõy, một loại văn húa thứ phỏt, theo kiểu đỏnh giỏ của phờ bỡnh chớnh thống Tất nhiờn, cũng khụng thể phủ nhận những ảnh hưởng trực tiếp của văn học hậu hiện đại
phương Tõy đối với một số tỏc giả Nga theo khuynh hướng này Khi viết Viện Puskin,
Bitov từng thừa nhận mỡnh chịu ảnh hởng của chủ nghĩa hiện đại một cách gián tiếp, thông qua những thể nghiệm của văn học hậu hiện đại cùng thời với ông Núi về mối
quan hệ giữa Viện Puskin với văn xuôi của Nabokov, nhà văn Mỹ gốc Nga, ụng tuyờn bố: “Dù cuốn tiểu thuyết này có đạt hay không, thì Viện Puskin cũng không thể có đợc,
nếu nh tôi không đợc đọc Nabokov trớc đú”(5) Tuy nhiờn, dự ảnh hưởng này cú được
do tiếp xỳc, thỡ nú cũng xuất phỏt từ sự thớnh nhạy của nhà văn đó “đỏnh hơi” được, cảm nhận được cỏi tõm thế thời đại ụng đang sống và cơ sở lịch sử, văn hoỏ xó hội đặc thự Nga Cỏi mà Bitov nắm bắt được ở sỏng tỏc của Nabokov chớnh là cảm quan hậu hiện đại(6)và tinh thần triết học của trào lưu nghệ thuật này Nếu như trọng tõm mà sỏng tỏc của Nabokov dồn vào là cỏi thực tại phương Tõy, nơi cỏc giỏ trị Chõn - Thiện - Mĩ bị đảo lộn, cỏc “đại tự sự” (triết học, lịch sử, văn hoỏ xó hội, gia đỡnh, tỡnh yờu, hụn nhõn truyền thống) bị phỏ vỡ, thay vào là sự thống soỏi của văn hoỏ đại chỳng (Lolita), cuộc đời là một bàn cờ lớn và con người là những quõn cờ nhộn nhạo trong cuộc chơi bất tận
(Phũng ngự của Luzin), thỡ điểm chủ yếu trong sỏng tỏc của Bitov là sự phát hiện
ra thực tại Xụ Viết là cái trống rỗng dới hệ thống các kí hiệu, cỏc diễn ngụn vụ nghĩa của hệ tư tưởng điều hành toàn bộ đời sống xó hội Trường ca
Moskva-Petuski của Venedikt Erofeev được cỏc nhà phờ bỡnh xem như “mẫu gốc” của hậu hiện
đại Nga, là một thứ triết lớ dõn gian về “đại loạn”: loạn nhõn thế, loạn chớnh trị xó hội, loạn tõm thức Trong tỏc phẩm, thụng qua khụng gian hai chiều đi lại của Erofiev - nhõn
Trang 8vật chớnh (cựng tờn tỏc giả): từ Moskva tới ga Petuski và ngược lại, xó hội Xụ Viết được miờu tả như một hội hoỏ trang lớn, song nú khụng mang tớnh hai chiều “hạ bệ” và “tấn phong” đầy ắp tiếng cười như trong hội hoỏ trang dõn gian theo lớ thuyết của Bakhtin Trước toàn bộ tớnh chất nghịch dị, phi lớ cực độ của thực tại, tiếng cười của Egofiev đẫm chất bi và sự huỷ diệt Tiếp xỳc với sỏng tỏc của cỏc nhà văn Nga nờu trờn thấy rừ, khụng thể lớ giải sự xuất hiện của khuynh hướng hậu hiện đại Nga bằng những nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hoá hậu công nghiệp, văn minh điện toán, nh ở phơng
Tây Văn học hậu hiện đại Nga xuất hiện như sự vạch trần thuộc tính máy móc cơ học của sự nguỵ tạo mô hình xã hội chủ nghĩa Quan niệm này đợc khuynh
hớng nghệ thuật ý niệm(conseptualizm) và nghệ thuật xã hội
(sos-art) là những khuynh hướng - cầu nối giữa văn học HTXHCN và văn học hậu hiện đại những năm 1980, chứng minh và khẳng định Rừ ràng, văn học hậu hiện đại Nga là một hiện tượng độc lập, kết quả của sự phát triển hữu cơ và sự chín muồi của nú trong hình thái xã hội chủ nghĩa Nga đặc thự
Những năm 1980-1990, văn học hậu hiện đại Nga chớnh thức ra cụng khai sau khi hệ thống Xô Viết tan rã, sự biến mất đức tin tôn giáo vào chủ nghĩa xã hội dẫn tới sự sụp đổ toàn bộ bức tranh Xô Viết về thế giới, cái thế giới bị đánh mất trục chính, trở thành h ảo, trong đó con ngời không còn cảm nhận đợc bất cứ thực tiễn nào Nếu sự biến mất của thực tiễn dới dòng thác những ngụy tạo của hệ tư tưởng làm cho thế giới trở thành hỗn độn, thể hiện trong các văn bản cùng lúc tồn tại, dựa vào nhau, trong
các diễn ngụn, huyền thoại che lấp, triệt tiêu lẫn nhau - là một sự phát hiện đáng kinh ngạc của văn học hậu hiện đại những năm 1960-1970, thì đối với văn học hậu hiện đại những năm 1990, lỳc này đang chiếm lĩnh văn đàn, lại là xuất phát điểm Từ xuất phát điểm này nảy sinh những nhánh sáng tác khác nhau với cỏc kiểu viết đặc biệt đa dạng và phong phỳ Sự đa dạng và phong phỳ này cũn được lớ giải, một mặt, bởi sự bựng phỏt của văn hoỏ đại chỳng dưới ảnh hưởng của văn hoỏ phương Tõy tràn vào nước Nga theo mọi ngả đường, từ sỏch bỏo dịch, tới cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng, khi rào cản với thế giới đó bị dỡ bỏ cựng với chế độ kiểm duyệt gắt gao tồn tại nửa thế kỉ Mặt khỏc, cựng với dũng thỏc văn hoỏ này, cỏc khuynh hướng triết học quan trọng xỏc định
bộ mặt tinh thần thế kỉ XX: chủ nghĩa Freud, hậu Preud, chủ nghĩa hiện sinh, cỏc trường phỏi hiện tượng luận và tiếp nhận mĩ học, cấu trỳc học và giải cấu trỳc học, lớ thuyết thụng tin và lớ thuyết về hỗn độn, bản thể học văn hoỏ và tõn chủ nghĩa Mac cũng đó
cú mặt ở Nga, giỳp cỏc nhà văn và cỏc nhà nghiờn cứu cú cỏi nhỡn đa chiều và sõu sắc
Trang 9hơn về thực tại và con người, nhận thức được tớnh khụng phự hợp của mĩ học hiện thực
cổ điển đối với những đối tượng phản ỏnh mới
Điều này càng trở nên rõ nét, nếu ta so sánh nguyờn tắc mụ hỡnh hoỏ thế giới của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn học Nga với phương thức khỏi quỏt hiện thực cơ bản của văn học hiện thực và HTXHCN - với t cách hệ hình sáng tác của văn học
Xụ Viết trớc đó
Khác với CNHTXHCN đưa quyết định luận “tớnh cỏch-hoàn cảnh” của chủ nghĩa hiện thực truyền thống lờn tới mức cực đoan, phi lớ, văn học hậu hiện đại coi khái niệm tính cách và hoàn cảnh nh những mụ hỡnh (model) văn hóa, đúng hơn, là sự kết hợp một vài mụ hỡnh văn hóa cùng lúc Đối với văn học hậu hiện đại, tính liên văn bản (intertextuality) - tức tơng quan giữa văn bản với những nguồn gốc văn học
khác là nguyên tắc trung tâm trong việc mô hình hóa thế giới Mỗi một sự kiện,
mỗi một yếu tố đợc nhà văn hậu hiện đại mô tả, xem ra đều mang tính khép kín và phần lớn là trích dẫn Điều này hợp lôgic, bởi nếu nh thực tại đã “biến mất” dới tác động dồn dập và dai dẳng của cỏc sản phẩm hệ t tởng hay của những ngụy tạo do mạng lưới thụng tin, văn hoỏ đại chỳng hàng ngày sản sinh ra, thì sự trích dẫn những văn bản văn hóa hay văn họccú uy tớn là hình thức duy nhất để có thể “tái tạo” lại thực
tại Ngoài ra, khỏc với chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tõy tỏ ra triệt để trong việc chối
bỏ bậc tiờn khu của mỡnh, hậu hiện đại Nga, với đặc tớnh của một nền văn học phỏt triển gấp gỏp để bự vào thời gian đó mất, lại triệt để sử dụng văn hoỏ hiện đại chủ nghĩa mới được phục hồi - một mụ hỡnh văn hoỏ cú uy tớn trong giới bạn đọc tinh tuyển Nga Cú thể núi, chủ nghĩa hậu hiện đại Nga là sự kết hợp giữa “chủ nghĩa hiện đại cao” (hight modernism) và văn hoỏ đại chỳng, một sự kết hợp mang tớnh oskimoron (đối chọi) đặc trưng hậu hiện đại! (cũng như ẩn dụ đặc trưng cho văn học hiện thực cổ điển; hoỏn dụ đặc trưng cho văn học hiện đại chủ nghĩa)
Tơng tự nh vậy, đối với chủ nghĩa hậu hiện đại Nga, khái niệm quan trọng nhất
của mĩ học hiện thực là sự thật đó bị phá sản Trong thế giới - văn bản, đỳng hơn, sự
kết hợp của nhiều văn bản: văn bản thần thoại, t tởng, truyền thống không thể có một
sự thật duy nhất về thế giới, mà là vô số những sự thật tồn tại cùng lúc - những sự thật tuyệt đối trong phạm vi ngôn ngữ văn hóa của mình Trong văn bản hiện thực xã hội chủ nghĩa ngời đại diện cho sự thật là tác giả “biết tuốt” Trong tác phẩm hậu hiện đại, tham vọng về tác giả tri thức toàn năng chỉ là một ảo tởng Tác giả đợc đặt ngang hàng với
Trang 10những nhân vật, cũng có những hạn chế, lầm lạc nh thế, đồng thời, ngợc lại, các nhân vật nhiều khi lại thực hiện “chức năng” của tác giả Không phải ngẫu nhiên trong tiểu thuyết hậu hiện đại có những nhân vật kiêm luôn vai trò “ngời sáng tác” - (điều này ta cũng thấy rất rừ trong nhiều tỏc phẩm văn học Việt Nam mà chỳng tụi sẽ trỡnh bày ở phớa dưới), còn nhân vật trữ tình hậu hiện đại, lại mang một mặt nạ văn hóa kì ảo nào đó, hoặc cùng lúc nhiều mặt nạ khác nhau Sự thật của “tác giả”, đúng hơn, của nhân vật đại diện cho anh ta, đợc nhìn nhận nh một trong những sự thật có thể có đợc, chứ không phải
là những kiến giải độc tụn, tuyệt đối Trong ý nghĩa này chủ nghĩa hậu hiện đại Nga tiếp tục truyền thống tiểu thuyết phức điệu (theo lí giải của Bakhtin), đa nó tới những hình thức “siêu phức điệu”: nếu nh, theo Bakhtin, trong tiểu thuyết phức điệu của Dostoevski chân lí xuất hiện tại điểm giao nhau của những “giọng” khác nhau, thì trong tác phẩm hậu hiện đại “giọng” nhiều tới mức, nhìn tổng thể, không thể chỉ có một
điểm giao nhau duy nhất giữa chúng - những “giọng” đại diện cho những ngôn ngữ và truyền thống văn hóa khác nhau tạo thành những bố chồng chộo, đan xen hỗn loạn (đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ta thấy rừ điều này, chớnh vỡ vậy nhiều nhà phờ bỡnh đó nhận định, truyện ngắn của ụng mang tư duy tiểu thuyết)
_