1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga ppsx

10 627 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 241,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trờn những yếu tố cơ bản trong hệ thống thi phỏp của văn học hậu hiện đại Nga, như: liờn văn bản cũn là nguyờn tắc mụ hỡnh hoỏ thực tại, mụ thức trần thuật nhại -Pastiche - thể hiện

Trang 1

Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuụi Việt Nam qua so

sỏnh với văn xuụi Nga

Xuất phỏt từ quan niệm về thực tại hỗn loạn, về tớnh đa trung tõm - nhiều sự thật và nguyờn tắc mụ hỡnh hoỏ thế giới đặc trưng, văn học hậu hiện đại Nga sử dụng và làm phong phỳ thờm hệ thống thi phỏp của chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới được tớch luỹ trong mấy thập niờn vừa qua

Dựa trờn những yếu tố cơ bản trong hệ thống thi phỏp của văn học hậu hiện đại Nga, như: liờn văn bản (cũn là nguyờn tắc mụ hỡnh hoỏ thực tại), mụ thức trần thuật nhại -Pastiche - thể hiện thỏi độ giễu-nhại đa sắc thỏi của nhà văn đối với tớnh ngụy tạo (simulac) của mụ hỡnh văn hoỏ HTXHCN, văn học cổ điển Nga và văn hoỏ đại chỳng; phi lựa chọn (nonseletion) - nguyờn tắc kết cấu chủ đạo thể hiện tớnh mõu thuẫn, đứt góy của văn bản hậu hiện đại, diễn ngụn đứt đoạn về sự tiếp nhận thế giới hỗn loạn, bị lạ hoỏ, “mặt nạ tỏc giả” - sự xõm phạm đặc quyền “siờu văn bản của độc giả” của tỏc giả hậu hiện đại, chỳng tụi nờu ra một số nột tương đồng chủ yếu giữa văn xuụi hậu hiện đại Nga với văn xuụi đương đại Việt Nam

3 Văn học Việt Nam và văn học Nga đương đại - một “mún nộm suồng só”?

Vớ von này là của Nguyễn Huy Thiệp, tuy trong văn bản tỏc phẩm nú ỏm chỉ nền chớnh trị hậu hiện đại của thế giới, song để định tớnh văn học đương đại, kể cũng khụng cú gỡ quỏ đỏng Khỏi niệm “suồng só” (luụn đi kốm với yếu tố tự do) đối lập với tớnh trang nghiờm, quan phương, khuụn mẫu, cũn “nộm” chỉ sự tạp phớ lự, hỗn độn, nhưng rất đời, phong phỳ

và đa dạng

Trang 2

Tính “suồng sã” chính là “đích danh thủ phạm” gây nên sự bất bình, phản kháng của người đọc cùng thời (kể cả người đọc lí tưởng - nhà lí luận, phê bình), vốn quen với nền văn học HTXHCN đoan trang không biết cười, đối với các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

và Phạm Thị Hoài Ngoài tính suồng sã, người đọc vốn thích những gì dễ hiểu, “sờ mó, nắm

bắt được”, thật sự khó chịu vì “chẳng biết nó định nói gì” “Nó” ở đây còn là Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh và những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và nhiều nhà văn,

nhà thơ của các thế hệ sau này Sự bất bình, khó chịu ấy khiến chúng tôi liên tưởng tới phản

ứng của giới phê bình và độc giả Xô Viết đối với những tiểu thuyết Viện Puskin,Moskva

-Petuski, Trường học giành cho lũ ngốc và thơ Brodski - những sáng tác bị liệt vào loại sách

“chống Xô Viết” cấm đọc và mãi tới thời Cải Tổ mới được chính thức in ở Nga Tuy khác nhau về đường đi và số phận, song các nhà văn Việt Nam và Nga nêu trên thực sự đóng vai trò mở đường cho một thời đại mới của văn học dân tộc Sau này, một đội ngũ đông đảo các nhà hậu hiện đại Nga ồ ạt xuất hiện vào những năm 1980-1990 như T Tolstaia, Pesyk,

Pelevin, Sorokin, Kibirov, Rubinstein thì Viện Puskin đối với họ lúc này chỉ là “đài kỉ

niệm của thời đã qua” (đánh giá của nhà hậu hiện đại Victo Erofeev, người trùng tên với tác

giả Moskva -Petuski) Sau Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, đa số các nhà văn

Việt Nam không còn viết như trước nữa, và thế hệ các nhà văn 7x, 8x bây giờ có lẽ cũng coi

họ là “những nhà hậu hiện đại cổ điển” nếu thật sự có khuynh hướng hậu hiện đại trong văn học Việt Nam

Vậy mà ở thời của mình các nhà văn này đã phải hứng chịu không ít búa rìu phê bình

Có nhiều nguyên nhân, song theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản nhất, đó là cuộc đụng độ (không muốn nhưng tất yếu phải xẩy ra trong thời kì Đổi Mới) giữa hai loại hình văn học: cũ

và mới Nhiều nhà phê bình mang sức ỳ học thuật, đã dùng thước đo của văn học HTXHCN

để đo một thứ văn học khác hẳn về chất, nên nó cứ trật khấc và các nhà văn đã phải nhận không ít những thoá mạ nghiệt ngã và bao nỗi oan ức, nào “đạo văn”, “phi đạo đức, phi chuẩn mực”, nào “hạ bệ anh hùng dân tộc, xuyên tạc lịch sử”, v.v

Tuy vậy, các nhà văn Việt Nam vẫn còn may mắn, bởi có những bạn đọc cùng thời hiểu tác phẩm của họ và dám phát biểu công khai sự hiểu của mình (cũng nhờ thành quả của Đổi Mới) Một số nhà phê bình đã tìm những cách tiếp cận mới đối với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó những bài viết của Đặng Anh Đào, Hoàng Ngọc Hiến, Trần Thị Mai Nhi, Sean Tamis Rose, Evelipe Pielier, Đông La, Đào Duy Hiệp đã nói tới những đặc điểm mới trong các truyện ngắn của ông mà sau này chúng ta hiểu đó là những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại (giễu nhại; “biết cách đánh lừa ngôn ngữ”; thủ pháp tương phản

Trang 3

mạnh (oskimoron như chúng tôi đã nêu ở trên), phi anh hùng, nhà văn trực diện bàn về văn chương trong tác phẩm ); còn Thái Hoà trong bài viết của mình đã khẳng định: có nghệ thuật barroque trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (như phía trên chúng tôi đã trình bầy, nghệ thuật barroque là một dạng của nghệ thuật hậu hiện đại(7), và để chứng minh luận điểm của mình, nhà nghiên cứu đã đưa ra một loạt những đặc điểm trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, như sự chuyển hoá giữa thực và mộng, huyền thoại và phản huyền thoại, nghịch lí chân-thiện-mỹ, những đối nghịch tạo sự nghịch dị và kinh dị Tuy vậy, người đầu tiên dùng khái niệm “hậu hiện đại” trong phân tích sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, đó là

Greg Lockhart Trong bài Tại sao tôi dịch truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh,

tiến sĩ người Úc này, sau khi kể ra các lối viết mới của văn chương thế giới, đã đi tới kết luận: “Và ở Việt Nam ta có truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Đây là những phương pháp biểu hiện cuộc sống trên thế giới thế kỉ này Tức là, đây là hiện tượng văn học chúng ta gọi

“hậu hiện đại chủ nghĩa” (postmodernism)”(8) Như vậy, ngay từ năm 1989, vô thức, hay ý thức, các nhà nghiên cứu, phê bình đã nói tới những yếu tố đầu tiên của khuynh hướng sáng tác hậu hiện đại trong văn học đương đại Việt Nam

Việc làm của chúng tôi bây giờ là tiếp tục phát triển hướng tiếp cận không hiểu vì sao vừa mới manh nha đã dừng lại ấy, bằng cách soi chiếu dòng mạch văn học mang yếu tố hậu hiện đại này với khuynh hướng tương đồng trong văn học Nga, nền văn học có cùng loại hình hậu HTXHCN

Một trong những điểm chung nhất trong sáng tác của các nhà hậu hiện đại Nga với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái là sự giã từ không hề lưu luyến lối viết của chủ nghĩa hiện thực cổ điển

và HTXHCN Trong các tác phẩm của họ, không thấy bóng dáng của nhân vật điển hình (anh hùng hay gian hùng - ý Hoàng Ngọc Hiến) mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời, mà thay vào là đủ mọi thứ hạng trong nhân gian, đại đa số là đám người u tối,

dị nghịch cả về thể xác lẫn tinh thần và khá nhiều người điên Tiểu thuyết của S Sokolov có hẳn một trại tâm thần, mà ông gọi diễu là “trường học giành cho lũ ngốc” làm liên tưởng tới

cái xã toàn những người điên và tật nguyền trong tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình

Phương Cái thế giới người dị nghịch trong sáng tác của Erofeev, Petrusevskaia, Iu Buida, sau này là của Sorokin, Pelevin gần với thế giới người trong các truyện của Nguyễn Huy

Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, trong sáng tác của Bình

Phương và Hồ Anh Thái Đám nhân vật này không có “hoàn cảnh điển hình” nào để mà thể hiện, bởi những “hoàn cảnh” trong các tác phẩm của những nhà văn, cả Nga lẫn Việt này,

Trang 4

khụng những chẳng cú gỡ là điển hỡnh, mà cũn khụng xỏc định, luụn tựy tiện phõn tỏn, nhiều lỳc mất tăm vào giữa hai bờ ảo-thực Dường như sợ độc giả khụng hiểu “ý đồ nghệ thuật’ của mỡnh, cỏc nhà văn này luụn phải đúng vai người chỳ giải trong tỏc phẩm, cỏi mà nhà phờ bỡnh người Mỹ C Malmgrem gọi là “mặt nạ tỏc giả”- author’s mask Chẳng hạn, những

nhân vật của Viện Puskin là các nhà ngữ văn, chính vì vậy trong tác phẩm có khá nhiều

những trích đoạn lấy từ những bài viết phân tích tiến trình sáng tác văn học và sự phát triển văn hóa Tác giả - nhân vật tự sự cũng thường xuyờn núi tới ý đồ sỏng tỏc, giải thớch tại sao mỡnh lại khụng viết theo lối cũ (lối hiện thực cổ điển) Phạm Thị Hoài cũn cú hẳn một

truyện ngắn mang tựa đề Một truyện cổ điển, ở đú, bằng “mặt nạ tỏc giả” của mỡnh, chị cụng

nhiờn chế nhạo tớnh ước lệ, khuụn sỏo của văn học hiện thực cổ điển, cười nhạo độc giả ngõy thơ (điều mà Tchekhov chỉ nghĩ trong đầu, hoặc viết trong những bức thư gửi người quen): “ Cuộc sống hoàn toàn khụng diễn ra theo kiểu đậm đặc, cỏc sự kiện của một đời người hiếm khi chồng chất, và núi chung, cuộc đời trụi đi vu vơ, bỡnh thản, tẻ nhạt hơn nhiều Làm gỡ cú số phận nào được mở đầu, phỏt triển và kết thỳc chu đỏo như trong văn chương, làm gỡ cú tỡnh thế điển hỡnh, đẩy người ta đến cỏc quyết định vượt tầm nhõn thế, làm gỡ cú những trạng thỏi tõm lớ mấp mộ bờ vực hay chút vút đỉnh cao, và nhất là làm gỡ cú

sự hội tụ đầy run rủi của cỏc nhõn vật, nhõn vật nào cũng đại diện cho một cỏi gỡ như vậy Độc giả chõn thành của chỳng ta cứ thế mà chờ đợi” Diễn biến của cốt truyện kiểu Tchekhov và đời sống nhàm tẻ ngày qua ngày của những nhõn vật “trớ thức tỉnh lẻ” kiểu Tchekhov trong truyện Phạm Thị Hoài minh chứng cho những lời chỳ giải của tỏc giả-người trần thuật Những chỳ giải “siờu văn bản” kiểu như vậy ta bắt gặp thường xuyờn trong cỏc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ễng cho nhõn vật của mỡnh định giỏ văn chương như sau: “ễng Bỡnh Chi bảo: “Đỳng đấy, thế ụng định cho chỏu học thứ văn chương nào? ễng Gia bảo: “Tụi suy rằng thịt dọi là thứ vừa phải, nhiều người mua, chẳng bao giờ ế Vậy cú thứ văn chương nào tương tự thế khụng, chỉ vừa phải, nhiều người theo thỡ cho chỏu học”

-Giọt mỏu) Vớ von văn chương (cho dự là văn chương đại chỳng) với “thịt ba dọi” chỉ cú thể

là cỏc nhà hậu hiện đại! (chỳng ta nhớ lại những oskimoron trong thơ của Brodski: “Những

hiệu ăn cũ ở bên ngoài cũng nh bên trong/ làm nhớ tới Nhà thờ Đức mẹ Paris"; "Địa Trung Hải động đậy sau những dẫy cột nham nhở/ tựa nh cái lỡi mặn sau những chiếc răng vừa bị nhổ" ) Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh giành hẳn những đoạn dài, trong đú (thụng

qua nhõn vật - nhà văn Kiờn) giải thớch lớ do cầm bỳt của mỡnh, than vón thường xuyờn bất lực trong cụng việc sỏng tạo và kể về những giõy phỳt thăng hoa hiếm hoi Và hỡnh như thế cũng vẫn chưa đủ, cỏc tỏc giả cũn để một số nhõn vật của mỡnh “hành nghề” văn chương,

Trang 5

viết nhật kí, thư từ, phát ngôn thay cho mình về văn hoá, văn học: từ gia đình nhà Odoev

(Viện Puskin) toàn những văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá, ngữ văn, luôn tranh luận với nhau

và tranh luận với tác giả-người trần thuật về công việc viết văn, tới nhà thơ dân gian Erofeev (Moskva-Petuski), kiểu Homer, không mù, nhưng luôn say sỉn, lang thang theo đúng một tuyến đường Moskva-Petuski; từ “nghệ sỹ nhân dân” Trương Chi trong truyện ngắn cùng

tên, đến nhà thơ đồng quê Bùi Văn Ngọc trong Thương nhớ đồng quê của Nguyễn Huy

Thiệp (sau này anh hay trích dẫn “nhà thơ nhân dân” Nguyễn Bảo Sinh, kiêm giám đốc khách sạn và nghĩa trang chó, mà anh chơi khá thân), nhà văn bộ đội giải ngũ xuất thân trí

thức có tên Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nhà văn tên Phùng ẩn dật ở cái

xã lắm người điên, có hẳn một tác phẩm mang tựa đề cũng điên điên: Và cỏ, trong tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ của Bình Phương Thủ pháp “siêu văn bản tác giả”, hay “mặt nạ tác

giả” không chỉ là một trong những phương thức thể hiện quan niệm nghệ thuật mới của các tác gia hậu hiện đại Nga,Việt (khác với các nhà hiện thực cổ điển, hoặc hiện đại chủ nghĩa

và HTXHCN), mà nó còn là phương thức tạo những kết cấu hết sức tự do cho tác phẩm của

họ, khắc phục nguy cơ “phá sản về giao tiếp” luôn đe doạ những tác phẩm hậu hiện đại thường được xây dựng trên những chất liệu tạp nham, rời rạc, thiếu vắng chất người và bộ xương - cốt truyện lúc nào cũng lỏng lẻo, chỉ chực rời ra Có thể coi “mặt nạ tác giả” là chiếc

âm thoa cộng hưởng sóng, là nhân vật “thực” của trần thuật có khả năng liên kết và lôi kéo

sự chú ý của độc giả(9)

Nghiên cứu kết cấu văn bản của tác phẩm hậu hiện đại, các học giả (D Fokkema và

D Lodge) phát hiện ra những phương thức khác nhau trong việc cố ý tạo hiệu ứng trần thuật hỗn độn, diễn ngôn đứt đoạn về sự tiếp nhận thế giới như là bị xé vụn, bị lạ hoá - thế giới đã đánh mất ý nghĩa và trật tự(10) Thủ pháp cắt mảng được sử dụng khá nhiều trong tác phẩm

của nhóm nhà văn Nga và Việt Nam mà chúng tôi phân tích ở phía trên Trong Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh, thủ pháp này giúp tích cực cho sự hoà trộn giữa mơ và thực, giữa

những suy nghĩ tỉnh táo và những cơn mê loạn diễn ra triền miên trong tác phẩm, kéo tiểu thuyết này ra khỏi thể loại sử thi truyền thống - “Lịch sử lớn” về chiến tranh luôn được xây dựng như một mô hình chỉnh thể mang thời-không gian tuyến tính Cảm quan về thế giới

như sự hỗn loạn, sự hỗn loạn đặc trưng cho chiến tranh và cách mạng, đã khiến Nỗi buồn

chiến tranh - một trong những tác phẩm thành công nhất viết về chiến tranh trong văn học

Việt Nam, gần gũi với Tchapaev và Pustota của nhà văn hậu hiện đại Nga Pelevin.

Sự sói mòn niềm tin vào các “Lịch sử lớn”, các “siêu truyện”, “đại tự sự”, vốn được xây dựng và tồn tại tưởng chừng bất biến trong văn học hiện thực cổ điển - một trong những

Trang 6

đặc điểm cơ bản của văn học hậu hiện đại thế giới, mang những nét đặc thù trong văn xuôi Nga và văn xuôi Việt Nam theo khuynh hướng hậu hiện đại Siêu truyện, đại tự sự ở đây không chỉ được hiểu như kiểu tổ chức tác phẩm, mà chủ yếu được hiểu theo nghĩa rộng, tức

“bất cứ tri thức nào” tổ chức nên một kiểu xã hội và biện minh cho nó: lịch sử, đạo đức, mĩ học, triết học, khoa học, nghệ thuật Những đại tự sự, Lịch sử lớn trong văn học cổ điển, văn học HTXHCN cao cả trước đó bị phá đổ (theo cách “giễu nhại” như trong các truyện

ngắn của Pelevin: Giấc mơ thứ chín của Vera Pavlovna (nhại Chernysevski), Đám mây mặc

quần (nhại Maiakovski), hay sự lật tẩy cái gọi là “huyền thoại” ngành vũ trụ học Xô Viết

trong Omon Pa của nhà văn), thay vào là những “huyền thoại phố phường”, thế giới “không

có vua”, trong đó con người, vượt lên mọi ngang trái, đau khổ, nhọc nhằn, miệt mài đi tìm

cái đẹp, nhưng cuối cùng hoá ra cái đẹp chỉ là ảo mộng (Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp, Trapaev và Pustota của Pelevin) Cái đẹp, tình yêu không chỉ bị bóp chết trong

không gian chật chội, hỗn độn - những “ga tàu treo” hôi hám vì chiếu mốc, thiếu sinh khí vì

bẩn thỉu, chật chội (Kiêm ái của Phạm Thị Hoài), mà đơn giản là nó không tồn tại, đúng hơn,

nó chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi mà may mắn lắm người ta mới có được một lần trong đời

Kết thúc trong truyện Người đàn bà có con chó nhỏ của Tchekhov: “Có cảm giác chỉ một lát

nữa thôi không cần nhiều lắm, là lối thoát sẽ được tìm ra, và lúc ấy, một cuộc đời hoàn toàn mới, thật đẹp đẽ sẽ đến ” - một kết thúc, mặc dù không xác định, song vẫn gieo vào lòng

người niềm hi vọng vào tình yêu và cái Đẹp trong đời Còn kết thúc truyện ngắn Người đàn

bà và hai con chó nhỏ của Phạm Thị Hoài xác định đến nghiệt ngã: “Họ tranh nhau trình

bày cái dự định lớn lao, mới mẻ, táo bạo, biểu hiện vô giá của tình yêu đang nồng cháy nhất

Và, trong khi nghe sâu vào giọng nói trầm trầm đầy gợi cảm của nhau, nghe sâu vào tương lai rực rỡ đang hiện ra dưới những từ ngữ cao quý nhất, cả hai đều linh cảm, thuần tuý linh cảm, thước đo tinh lọc nhất của trái tim, đó là buổi gặp gỡ cuối cùng giữa họ Trong lúc yêu nhau - lần chót - ở căn phòng ngột ngạt mùi hôi và chiếu mốc ấy, cả hai đều hiểu rõ, họ có thể đánh đổi tất cả để một lần nữa được chứng kiến vầng mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống

ấy, tiếng chó ấy, bãi cỏ ấy

“Không có cỏ may ”, anh nghĩ và sờ xuống chiếu

Chị có hai con chó, con đực tên Pa, con cái tên Vi, và những nét vẽ run rẩy, xiêu vẹo

Anh có ba chương sách trên giấy và rất nhiều chương, mỗi chương ba mươi lăm trang chẵn, trong đầu

Ngoài ra, họ chẳng có gì để đánh đổi”

Trang 7

Tỡnh yờu và cỏi Đẹp, hoỏ ra, cũng chỉ là simulac - ngụy tạo, được bao bọc bởi những

kớ hiệu ngụn từ vụ nghĩa!

Cho đến nay vẫn cũn một vài nhà phờ bỡnh coi những tỏc phẩm kiểu Người đàn bà

với hai con chú nhỏ, Thiờn sứ, Chớn bỏ làm mười của Phạm Thị Hoài, hay Khụng cú vua, Huyền thoại phố phường, Tội ỏc và trừng phạt của Nguyễn Huy Thiệp là “ảnh

hưởng”, “bắt chước” cỏc nhà văn nước ngoài (Tchekhov, Kafka, Puskin, Dostoevski ) Thậm chớ họ cũn gỏn cho những nhà văn này tội “đạo văn” (hiểu theo nghĩa xấu) Trờn thực

tế, đõy là sự liờn kết trong đối thoại giữa cỏc mẫu hỡnh văn hoỏ khỏc nhau, mà Kristeva gọi bằng thuật ngữ “liờn văn bản” Liờn văn bản mang nhiều chức năng khỏc nhau, vừa được hiểu như sự “phi trung tõm hoỏ chủ thể”: chủ thể bị hoà tan, biến mất và thế giới được xem như văn bản, một văn bản bao gồm nhiều văn bản riờng lẻ khụng ngừng dẫn dựa vào nhau, vừa được coi như sự khắc phục thực tại ngụy tạo (như trờn chỳng tụi đó núi: trích dẫn, liờn kết những văn bản văn hóa hay văn học cú uy tớn là hình thức duy nhất để có thể “tái tạo” lại thực tại), và mang những sắc thỏi đỏnh giỏ khỏc nhau (nghiờm tỳc, giễu-nhại, mỉa mai) của nhà văn với cỏc nền văn hoỏ trước đú, hoặc cựng thời với mỡnh Ch Grivel khẳng định:

“Khụng cú văn bản ngoài liờn văn bản”(11) Trong cuốn Palimpsestes: Văn học bậc

nhỡ (1982), G Genette đưa ra 5 loại tương tỏc khỏc nhau: 1/ Liờn văn bản như sự cựng hiện

diện trong một văn bản hai hay nhiều văn bản (trớch dẫn, điển tớch, đạo văn ); 2/ Cận văn bản (paratextualite) - quan hệ giữa văn bản với phụ đề, lời núi đầu, lời bạt, đề từ, v.v ; 3/ Siờu văn bản (metatextualite) - sự chỳ giải hoặc viện dẫn văn bản trước đú một cỏch cú phờ phỏn; 4/ Ngoa dụ văn bản (hypetextualite) - sự cười cợt; 5/ Kiến trỳc văn bản (architextualite)

- mối quan hệ thể loại giữa cỏc loại văn bản(12) Đú là những tầng lớp cơ bản của liờn văn

bản, mà soi chiếu vào Viện Puskin của Bitov, Moskva-Petuski của Erofeev, cỏc sỏng tỏc của Pelevin (tiểu thuyết Tchapaev và Pustota và cỏc truyện ngắn của nhà văn), sỏng tỏc của

Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bỡnh Phương ta thấy rừ ràng, đú là một thứ

“chiến lược trần thuật”

Nếu Viện Puskin chủ yếu dựa vào uy tớn của văn hoỏ hiện đại chủ nghĩa bằng những

“trớch dẫn” ở những đề từ cỏc chương liờn quan đến văn học Nga thế kỉ Bạc, thỡ ở trường

ca Moskva-Petuski liờn văn bản văn hoỏ, tụn giỏo dày đặc và xuống đến tận cấp độ cõu, từ,

tạo sự thống nhất đa chiều nghĩa và làm nổi lờn tiếng cười giễu nhại cỏc loại diễn ngụn trong văn hoỏ, văn học Nga Trớch đoạn sau đõy cho thấy tỏc giả sử dụng thủ phỏp oskimoron như thế nào khi kết hợp cỏi cao cả và thấp hốn về phương diện phong cỏch và ngữ nghĩa: “Và sau đấy (xin hóy nghe), và sau đấy, lỳc họ biết được vỡ sao Puskin lại chết,

Trang 8

tôi đã đưa cho họ đọc “Vườn hoạ mi” của Aleksandr Blok Ở đấy, ở trung tâm trường ca, nếu như, tất nhiên, vứt sang bên những bờ vai thơm tho và làn sương mù đùng đục và những đỉnh tháp màu hồng khoác tấm áo lễ - màn sương, ở đó, trung tâm trường ca là nhân vật trữ tình bị đuổi việc vì nát rượu và lêu lổng chơi bời Tôi nói với họ: “Một cuốn sách rất cấp thời, - tôi bảo thế, - các bạn đọc sẽ có lợi cho bản thân” Sao hả? Họ đã đọc Nhưng cho dù

có mọi thứ ấy, cuốn sách vẫn gây cho họ sự ức chế nặng nề: trong tất cả các cửa hàng đồng loạt biến mất toàn bộ “Tươi mát” (“Cvezect” - Một loại odecolon có cồn dùng cho đàn ông

Ở Liên Xô thời kì cấm rượu, các bợm rượu Nga đã phải uống thứ nước thơm này - ĐTA) Không tài nào hiểu được vì sao sika (một loại rượu Nga - ĐTA) bị quên, vermut (Một loại vang của Nga - ĐTA) bị quên, sân bay quốc tế Seremenchevo bị quên, - chỉ “Tươi mát” là đăng quang chiến thắng, tất cả chỉ uống có “Tươi mát”!

Ô sự thanh thản! Ô những con chim thiên đường không tính đậu lại chốn trần gian! Ô cháu con Solomon ăn mặc dã chiến hàng nối hàng! - Họ uống tất cả “Tươi mát” từ ga Dolgoprudnaia đến tận sân bay quốc tế Seremechevo”

Không biết văn hóa, văn học Nga và “truyền thống uống rượu” của dân Nga, khó lòng hiểu được tiếng cười, phong cách Erofiev thông qua trích đoạn liên văn bản nêu trên

Mở đầu, trong lời giải thích giễu cợt, phong cách thi ca cao cả của kỉ nguyên Bạc được tái dựng (“những bờ vai thơm tho và sương mù đùng đục và những đỉnh tháp hồng khoác áo lễ

- màn sương), sau đó đột ngột bị hạ thấp bởi ngôn ngữ dân giã, hè đường (rượu chè, lêu lổng chơi bời) và trích dẫn Lênin (“một cuốn sách rất cấp thời”) Nhưng phần kết của trích đoạn lại là sự quay trở về với thanh điệu cao cả của thi ca, trong đó “Tươi mát” - tên loại nước thơm thời Xô Viết mang âm điệu làm liên tưởng tới “Vườn hoạ mi” và phù hợp với văn phong thánh kinh sau đó (“Ô, cháu con Solomon ) Cái cao cả và cái thấp kém trong phong cách Erofiev không phá nhau, không thay thế cho nhau, mà tạo nên sự thống nhất mang nghĩa hai chiều Có thể nói, đây chính là nguyên tắc xây dựng hình tượng văn hoá trong trường ca của Erofiev

Nếu Người đàn bà với hai con chó nhỏ của Phạm Thị Hoài được coi là sự “nhại”

Tchekhov một cách nghiêm túc (tác giả thậm chí còn chú thích xuất xứ văn bản của mình

lấy từ Người đàn bà có con chó nhỏ của Tchekhov), trong đó có sự kết hợp chất thơ của tình

yêu lãng mạn (vầng mặt trời đỏ ối từ từ lặn xuống biển, cỏ may, tiếng chó sủa) với hiện thực

trần trụi, nghiệt ngã đời thường: căn phòng tồi tàn, hôi mùi chiếu mốc, thì truyện ngắn Một

truyện cổ điển được xây dựng theo kiểu “siêu văn bản”, trong đó tác giả viện dẫn văn bản

“vắng mặt”, đúng hơn, tập hợp cụm văn bản nghệ thuật vắng mặt của Tchekhov về trí thức

Trang 9

tỉnh lẻ Nga với hỡnh thức ngoa dụ văn bản, cười giễu rừ rệt Một điều khỏ lớ thỳ khi so sỏnh

văn bản Khụng cú vua của Nguyễn Huy Thiệp ở thể loại truyện ngắn và thể loại kịch Ở cả hai thể loại này Khụng cú vua đều mang tinh thần Anh em Karamazov, song ở thể truyện

ngắn, đú là sự khắc phục Dostoevski Với kết thỳc “cú hậu”: nhõn vật tử tế nhất trong truyện, Sinh, dõu nhà lóo Kiền, sinh con và đứa bộ ra đời trong khụng khớ đoàn viờn gia đỡnh, Nguyễn Huy Thiệp cố gắng chứng minh tư tưởng nhõn đạo của Dostoevski về cỏi Đẹp, tớnh

nữ cứu chuộc thế giới, hướng người đọc về một tương lai tốt đẹp, thỡ ở thể loại kịch, sự loạn

luõn giữa chị dõu em chồng tụ đậm thờm mụ hỡnh “gia đỡnh ngẫu hợp” trong Anh em

Karamazov từ lâu đã mất hết kỉ cương nền nếp, mọi quan hệ nghĩa tình và sự phỏ sản

của một trong những “đại tự sự” - hụn nhõn, gia đỡnh truyền thống - từng là hạt nhõn vững chắc của xó hội

Như đó núi phớa trờn, cỏc nhà văn hậu hiện đại sử dụng chiến thuật liờn văn bản để tỏi tạo lại hiện thực “đó mất”, một hiện thực bị che lấp bởi những ngụy tạo cỏc loại Kết hợp trong một văn bản những văn bản mẫu gốc của văn hoỏ dõn gian, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cố gắng tỏi dựng lại thực tại bằng cỏch huyền thoại hoỏ, cổ tớch húa nú (hỡnh tượng

mẹ Cả trong Chảy đi sụng ơi hay cỏc hỡnh tượng “mẫu gốc” trong chựm truyện cổ tớch Những ngọn giú Hua Tỏp của nhà văn) Trong cỏc tiểu thuyết của Nguyễn Bỡnh Phương,

thấy rừ sự rỏo riết khắc phục những đoản mạch, đứt góy, sự ngụy tạo, tha hoỏ của hiện thực, nhằm chạm tới được cỏi thực tại bản nguyờn, cỏi thoạt kỡ thuỷ tinh khiết, khụi phục lại ý nghĩa “đớch thực” của “ngụn từ khởi thuỷ” Để thực hiện ý đồ của mỡnh, tỏc giả dựa vào uy tớn của thơ Mới, trong trường hợp này là thơ “điờn” Hàn Mạc Tử, mà chỳng tụi xem là loại thơ hiện đại chủ nghĩa nửa đầu thế kỉ XX của Việt Nam Đõy là một vấn đề khỏ thỳ vị mà phờ bỡnh đó bắt đầu động chạm tới

Dường như nhận thấy sự bất lực của cỏc nhà văn đàn anh trong việc “đi tỡm thực tại

đó mất”, cỏc nhà văn trẻ ở Nga và Việt Nam thế hệ 7x, 8x cú phần cực đoan hoỏ chiến lược liờn văn bản bằng cỏch “chế” (rimmed) cỏc loại văn bản văn hoỏ, nhằm tạo một ngụn ngữ riờng - biến ngụn ngữ - “vị thần linh em ỳt” trong giai tầng trớ thức chọn lọc (ý của Hassan) thành một mún nộm cú phần suồng só hơn, nhằm biện hộ cho những hi vọng đang cũn chưa

rừ rệt Trong cuộc thể nghiệm này, hi vọng, giống như cỏc thế hệ nhà văn đàn anh, họ cũng

sẽ làm được điều gỡ đú mới mẻ cho văn học, làm giàu thờm hệ thống thi phỏp mới đó thành hỡnh, đẩy nhanh hơn nữa văn học dõn tộc vào giũng chảy chung của văn hoỏ thế giới

Kết luận:

Trang 10

- Hậu hiện đại là một khuynh hướng lớn trong văn học thế giới, nên việc xuất hiện những yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là điều dễ hiểu

- Hướng tiếp cận so sánh loại hình cho phép “đọc khác” những tác phẩm văn học đương đại, qua đó nhận diện rõ hơn những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam hai thập niên vừa qua, thấy được sự tìm tòi, thể nghiệm của các nhà văn, đặc biệt các nhà văn trẻ Việt Nam, nhằm tạo dựng được một thứ văn học mới có khả năng soi chiếu những vấn đề và các góc tối của thời đại họ đang sống

- Nếu thể nghiệm này thành công, thì đây cũng là một đóng góp cho việc nghiên cứu văn học hậu hiện đại nói chung, bằng cách đưa ra những đặc trưng riêng biệt của các yếu tố hậu hiện đại trong văn học dân tộc giai đoạn hai thập niên vừa qua

Ngày đăng: 23/07/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w