Ngoài việc phối hợp với Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc vận động phía Đài Loan, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã thực hiện các biện pháp giảm tỷ lệ lao động bỏ hợ
Trang 11.2 Đài Loan
Từ khi mở rộng thị trường Đài Loan cuối năm 1999 đến nay, ta đã đưa hơn 73.000 lao động Riêng trong 3 năm 2001- 2003, đã đưa khoảng 65.000 lao động Đặc biệt là từ cuối năm 2002 đến nay, tốc độ đưa lao động sang Đài Loan tăng mạnh
Gần đây, số lượng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài sống và làm việc bất hợp pháp ở Đài Loan gia tăng ( khoảng 6,55%) Ngoài việc phối hợp với Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc vận động phía Đài Loan, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội
đã thực hiện các biện pháp giảm tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng:
- Chỉ đạo các doanh nghiệp chấn chỉnh công tác tuyển chọn, đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi;
- Đề nghị các địa phương có biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đúng các quy định của Nhà nước, vận động con em đang bỏ hợp đồng về nước;
- Xử lý nghiêm những doanh nghiệp có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao Đã đình chỉ có thời hạn
38 doanh nghiệp, tạm dừng hoạt động cung ứng thuyền viên tàu cá đối với 8 doanh nghiệp;
- Trước mắt yêu cầu các doanh nghiệp hạn chế tuyển lao động ở những địa phương có số lượng lao động bỏ hợp đồng cao
1.3 Hàn Quốc
Từ năm 1993 đến nay, có 8 doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam đã đưa trên 30.000 lượt người lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Hàn Quốc Hiện nay co 18.771 lao động Việt Nam đang làm việc và tu nghiệp tại Hàn Quốc, trong đó số lao động trong hợp đồng là 5.520 người và ngoài hợp đồng là 13.251 người Ngoài ra, Hàn Quốc
Trang 2còn tiếp nhận một số lượng lớn sĩ quan, thuỷ thủ tàu vận tải biển và thuyền viên đánh cá Việt Nam Trong 3 năm 2001 – 2003, ta đưa sang Hàn Quốc gần 11.000 lao động và tu nghiệp sinh
Tháng 8 năm 2003, Quốc hội Hàn Quốc thông qua Luật cấp phép cho lao động nước ngoài, có hiệu lực từ tháng 8 năm 2004 Để chuẩn bị thực hiện đạo luật này, vừa qua Hàn Quốc đã có chính sách gia hạn cư trú tại Hàn Quốc cho số lao động đa làm việc dưới
4 năm Bộ Ngoại giao và Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã phối hợp vận động, khuyến khích người lao động thực hiện đúng quy định của Bạn, đã có 7.300 lao động Việt Nam ( chiếm 83 % số lao động bất hợp pháp) đăng ký tiếp tục ở lại làm việc Phía Hàn Quốc đánh giá cao các giải pháp cũng như sự phối hợp của Việt Nam trong việc thông tin
và động viên lao động Việt Nam ra đăng ký Các giải pháp kiên quyết trên của Nhà nước
ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục tăng cường hợp tác với Hàn Quốc về tu nghiệp sinh và lao động
1.4 Nhật Bản
Nhật Bản chỉ nhận tu nghiệp sinh Trong 3 năm 2001 – 2003, ta đã đưa hơn 6.400 lao động sang tu nghiệp tại Nhật Bản ( bình quân mỗi năm đạt hơn 2.100 người) Ngoài
ra, cũng đã đưa một số lượng lớn thuyền viên sang làm việc trên các tàu biển Nhật Bản Tổng số lao động và tu nghiệp sinh đưa sang Nhật Bản trong 3 năm qua là hơn 8.100 người
ở thị trường Nhật Bản, điều kiện làm việc và thu nhập của người lao động thuận lợi
và thu nhập tương đối cao, nên đa số lao động muốn kéo dài thời hạn hợp đồng Song do chính sách và pháp luật của Bạn chưa thay đổi như Hàn Quốc, nên tỷ lệ bỏ hợp đồng, cư
Trang 3trú bất hợp pháp cao Các Bộ, ngành liên quan đang nghiên cứu để có những giải pháp thích hợp Đồng thời chỉ đạo các doanh nghiệp tăng cường chất lượng tuyển, chọn và quản lý tu nghiệp sinh ở nước ngoài
2 Về chuẩn bị nguồn lao động:
2.1 Về công tác tuyển chọn lao động
Điểm mới trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia từ đầu năm 2002 đến nay là đã tổ chức và thực hiện thành công mô hình liên kết trách nhiệm giữa chính quyền
cơ sở với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong việc triển khai hoạt động xuất khẩu lao động tại địa phương Mô hình này được thí điểm ở 2 tỉnh Hải Dương và Phú Thọ từ giữa năm 2002 đến nay đã được mở rộng ra trên 40 tỉnh, thành phố trong cả nước Các địa phương đã tổ chức quán triệt và triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu lao động và chuyên gia; ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, phê duyệt các đề án, thành lập Ban chỉ đạo về xuất khẩu lao động; chỉ đạo các Ban ngành về cho lao động vay vốn từ ngân hàng, từ quỹ tín dụng nhân dân để đi xuất khẩu lao động; về cải tiến thủ tục hành chính, khám sức khỏe, cấp hộ chiếu, tạo thuận lợi cho người lao động Một
số địa phương còn ban hành cơ chế, chính sách cụ thể hỗ trợ tài chính về đào tạo và về lãi suất ưu đãi đối với người lao động nghèo, diện chính sách
Qua công tác tuyên truyền vận động sâu rộng trong triển khai mô hình đã tạo được
sự nhất trí cao về nhận thức trong các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, đoàn thể về xuất khẩu lao động và chuyên gia, coi việc triển khai thực hiện là trách nhiệm của cấp uỷ, nhiệm vụ chính trị của các cấp các ngành, các đoàn thể Mô hình liên kết đã đạt được những kết quả
rõ rệt là:
Trang 4- Làm rõ và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước tại địa phương đối với xuất khẩu lao động, khắc phục được các hiện tượng tiêu cực như cò mồi, môi giới, lừa đảo người lao động
- Người lao động được tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc làm thủ tục hành chính
và vay vốn; giảm được chi phí
- Địa bàn tham gia xuất khẩu lao động mở rộng trên 45 tỉnh, thành phố và đến được các tỉnh miền núi phía bắc ( Yên Bái, Bắc Cạn, Hoà Bình), Tây Nguyên ( Gia Lai, Đăc Lắc) và các tỉnh miền tây Nam Bộ Lao động thuộc diện nghèo, đối tượng chính sách, bộ đội xuất ngũ có cơ hội tham gia xuất khẩu lao động và chuyên gia đã tham gia trực tiếp và
có hiệu quả vào công tác xoá đói giảm nghèo
Qua triển khai mô hình liên kết, đã xây dựng được các điển hình tốt về công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức xuất khẩu lao động tại địa phương, đặc biệt là các xã Thái Mỹ, xã Trung Lập Thượng ( huyện Củ Chi – Tp Hồ Chí Minh), phường Nghi Hải (Thị xã Cửa Lò – Nghệ An), xã Tân Hội (huyện Đan Phượng – Hà Tây), xã Đồng Lạc (huyện Chí Linh – Hải Dương), xã Vĩnh Lạc (Lâm Thao – Phú Thọ), tỉnh Đồng Tháp
2.2 Đào tạo, giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu
- Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành quy chế về đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi; các quy định cụ thể về đào tạo – giáo dục định hướng và giáo trình đối với từng thị trường trọng điểm; chỉ đạo kiểm tra các doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình đào tạo – giáo dục định hướng theo quy định
- Các địa phương đã quan tâm phối hợp cùng với các doanh nghiệp trong công tác đào tạo – giáo dục định hướng, chỉ đạo các cơ sở đào tạo ở địa phương tổ chức đào tạo tại chỗ để
Trang 5tạo thuận lợi cho người lao động Một số địa phương như Hải Dương, Phú Thọ đã có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo cho người lao động
- Các doanh nghiệp đã thực hiện tương đối tốt việc đào tạo – giáo dục định hướng Hầu hết các doanh nghiệp đã có cơ sở đào tạo, bố trí ăn ở cho người lao động trong thời gian học tập Nhiều doanh nghiệp đã bổ sung thêm các nội dung cụ thể vào chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của từng thị trường, góp phần chuẩn bị tốt hành trang kiến thức cho người lao động
2.3 Chính sách hỗ trợ người lao động
- Ngân hàng Nhà nước đã có Quyết định số 440/2001/QĐ-NHNN ngày 17/4/2001 quy định việc cho vay đối với người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông và Ngân hàng Chính sách xã hội đều đã ban hành các quy định cụ thể cho người lao động vay tín dụng và đã triển khai rộng khắp trên toàn quốc ở một số tỉnh như Hải Dương, Phú Thọ, Nghệ An, Thái Bình , hầu hết lao động đi làm việc ở nước ngoài có nhu cầu đều đã được vay tín dụng
- Sửa đổi chính sách Bảo hiểm xã hội Khi đi làm việc ở nước ngoài, người lao động được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Trường hợp đã tham gia bảo hiểm xã hội trước khi
đi và không muốn tham gia bảo hiểm xã hội tiếp thì được giải quyết trợ cấp một lần hoặc bảo lưu thời gian đã đóng
- Đơn giản hoá các thủ tục hành chính: Bộ Công an đã quy định rõ ràng, minh bạch về thủ tục và thời hạn cấp hộ chiếu
2.4 Về bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Trang 6- Đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý lao động làm việc ở nước ngoài từ Đại sứ quán Việt Nam tại các nước sở tại đến đại diện các doanh nghiệp ở các nước sở tại có nhiều lao động như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc đều đã thành lập Ban Quản lý lao động; đã xúc tiến thành lập Ban Quản lý lao động tại Nhật Bản và Lào Phần lớn các vấn đề phát sinh với người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài đều được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động theo Pháp luật Việt Nam và Pháp luật nước nhận lao động; đồng thời có cơ chế xử lý đối với người lao động vi phạm
- Đã ký kết thoả thuận với một số nước, tạo ra khung pháp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động Đối với các nước chưa có thoả thuận lao động, cũng đã thiết lập được quan hệ với các cơ quan quản lý của bạn để giải quyết kịp thời vấn đề phát sinh
- Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ đã có quy định về thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động để giải quyết rủi ro đối với người lao động
3 Củng cố và đổi mới doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động và chuyên gia đã được hình thành từ năm 1991 khi chuyển đổi cơ chế Kết quả xuất khẩu lao động và chuyên gia phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về xuất khẩu lao động và chuyên gia năm 2000 và 2001, ba năm vừa qua, đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới và phát triển doanh nghiệp trên các lĩnh vực:
- Xây dựng và ban hành tiêu chí nhằm tăng cường đầu tư về: vốn, cơ sở vật chất, cơ
sở đào tạo và cán bộ có trình độ
Trang 7- Các Bộ, ngành, địa phương chủ quan đã sắp xếp lại một bước và đầu tư nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Bộ Lao động-Thương binh và xã hội thường xuyên cung cấp thông tin thị trường
và bồi dưỡng cán bộ cho doanh nghiệp như:
+ Tổ chức giao ban với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động định kỳ 6 tháng
và 1 năm để sơ kết, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia
+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề về từng lĩnh vực của xuất khẩu lao động như thị trường, công tác chuẩn bị nguồn lao động, tuyển chọn lao động, chính sách xuất khẩu lao động
+ Tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia cho gần 300 cán bộ của các doanh nghiệp
Qua quá trình sắp xếp lại một bước các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, hiện nay có 154 doanh nghiệp có giấy phép xây dựng lao động, trong đó 16 doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động, 134 doanh nghiệp được bổ sung chức năng xuất khẩu lao động và 4 doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong 3 năm 2001- 2003 có 145/153 doanh nghiệp đã ký kết được hợp đồng và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Một số doanh nghiệp đã hoạt động có hiệu quả cao, có uy tín đối với đối tác nước ngoài và với người lao động, đưa được nhiều lao động đi làm việc
ở nước ngoài:
- 1 doanh nghiệp đưa được trên 10.000 lao động;
- 4 doanh nghiệp đưa được trên 5.000 lao động;
Trang 8- 37 doanh nghiệp đưa được trên 1.000 lao động;
Phần lớn các doanh nghiệp đã tích cực đầu tư mở rộng thị trường, chủ động khảo sát, tìm kiếm và khai thác hợp đồng; tăng cường thiết lập các mối quan hệ với các tổ chức trong
và ngoài nước; áp dụng các công nghệ tiên tiến để tìm kiếm thông tin, mở rộng quan hệ nhằm mở ra các thị trường lao động mới
Các doanh nghiệp chú trọng công tác tuyển chọn, thực hiện chỉ đạo của Nhà nước về việc phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương với các cơ sở đào tạo trong hoạt động tuyển chọn người lao động
Hầu hết các doanh nghiệp đã có trung tâm đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi Một số doanh nghiệp đã thành lập mới các trường đào tạo hoặc đưa các trường đào tạo hiện có vào đào tạo xuất khẩu (Công ty Hợp tác lao động nước ngoài – LOD, Công ty Dịch vụ Xuất khẩu lao động và chuyên gia – SULECO, Công ty Xuất khẩu lao động, Thương mại và Du lịch – SOVILACO, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam – VINACONEX, Tổng Công ty Xây dựng Sông Đà )
Các doanh nghiệp đã có biện pháp hữu hiệu quản lý, bảo vệ quyền lợi người lao động làm việc ở nước ngoài, kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh ở các nước có những quy định khắt khe đối với việc nhập cảnh của cán bộ doanh nghiệp sang quản lý lao động như Malaysia, Đài Loan, , các doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp tích cực để thực hiện tốt công tác quản lý
4 Kết quả đạt được và nguyên nhân đạt được kết quả trên
4.1 Kết quả đạt được
Trang 9Trong vài năm gần đây, nhất là từ sau khi có Nghị định 81 (81/2003/NĐ-CP), công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, bước đầu đã đạt những kết quả khả quan tạo được đà cho sự phát triển trong thời kỳ tới
- Thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia đang dần được mở rộng ra nhiều nước, từ 12 nước năm 1992 lên 38 nước năm 1999 và đến nay đã là gần 50 quốc gia Số lượng lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài đang từng bước gia tăng, từ 1,3 vạn lao động năm 1996 tăng lên 2,2 vạn lao động năm 1999, đến cuối năm 2004 đã đưa đi được 24,6 vạn lao động, số ngoại tệ do người lao động chuyển về ngày càng nhiều, chỉ tính riêng năm 2004 số lao động và chuyên gia làm việc ở nước ngoài đã gửi về nước 1,65
tỷ USD
- Công tác đào tạo nguồn lao động và chuyên gia để đi làm việc ở nước ngoài bắt đầu được đặt ra và tổ chức thực hiện
- Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia, phân biệt ngày càng rõ hơn công tác quản lý nhà nước và hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp xuất khẩu lao động, tạo ra cơ chế đ• tương đối thông thoáng, đơn giản thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu lao động
4.2 Nguyên nhân đạt được kết quả trên
- Đã xây dựng được hệ thống chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động và chuyên gia tương đối đồng bộ, phù hợp với cơ chế chung của đất nước và của các nước nhận lao động Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, trong đó bổ sung 6 điều quy định cụ thể về xuất khẩu lao động và chuyên gia; Chính phủ
Trang 10đã ban hành Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài; Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành và cùng Bộ Tài chính ban hành theo thẩm quyền các thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế đã sửa đổi cơ chế, thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động
- Các cơ quan thuộc Quốc hội và Chính phủ đã thường xuyên chỉ đạo, giám sát việc hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia, đặc biệt là sự chỉ đạo cụ thể về các giải pháp đối với những thị trường trọng điểm Đã tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức và sự quan tâm quản lý, chỉ đạo và thực hiện các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của các ngành, các cấp Nhiều Bộ, ngành địa phương chủ quản các doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư, chỉ đạo quản lý hoạt động của các doanh nghiệp trực thuộc Công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của các cấp chính quyền địa phương đã được củng
cố một bước
- Công tác thanh tra, kiểm tra đã được nâng cao chất lượng, góp phần quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động và chuyên gia, hạn chế vi phạm của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, góp phần tích cực ngăn ngừa các hành vi lừa đảo của các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã rút ra những vấn đề bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức điều hành để tiếp tục hoàn thiện; đảm bảo các quy định của Pháp luật phù hợp với thực tiễn trong nước và thị trường lao động quốc tế, thực sự đi vào cuộc sống