Trong những năm qua, Việt Nam tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham gia tích cực vào các tổ chức kinh tế quốc tế nên thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đã có những thay đổi rõ r
Trang 1Trong những năm qua, Việt Nam tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham
gia tích cực vào các tổ chức kinh tế quốc tế nên thị trường xuất khẩu hàng hoá
của Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt theo chiều hướng đa dạng hơn Trước
kia, hàng hoá của Việt Nam chủ yếu xuất sang Liên xô và các nước XHCN
Nhưng từ những năm 90 trở lại đây do sự sụp đổ của hệ thống này, hàng hoá của
ta xuất sang những thị trường mới ở nhiều châu lục khác nhau Thị trường xuất
khẩu của Việt Nam được mở rộng như vậy là nhờ vào chính sách đa dạng hoá
mặt hàng và đa phương hoá các quan hệ kinh tế thương mại Mỗi mặt hàng khác
nhau đã xuất đi nhiều nơi trên thế giới để vùa khai thác được lợi thế của thị
trường vừa phân tán được rủi ro Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với
120 nước và vùng lãnh thổ
Hàng năm doanh số xuất khẩu chè chiếm trên 90% trong tổng số doanh
thu của Tổng công ty cho nên vấn đề chính là thị trường nước ngoài Đây là triển
vọng để Tổng công ty có thể mở rộng thị trường, khuếch trương uy tín của Tổng
công ty trên thị trường thế giới Để thực hiện những mục tiêu trên thì vấn đề cốt
yếu đầu tiên phải giải quyết là thị trường tiêu thụ, vì đó là mục tiêu lớn nhất để
cho một ngành hàng kinh tế kỹ thuật phát triển, nó quyết định toàn bộ quá trình
kinh doanh và sự phát triển trong tương lai Để giữ vững được thị trường đã có
và ngày càng mở rộng nhiều hơn điều quan trọng là phải tạo ra được sản phẩm
chè có chất lượng cao, bao bì đẹp thu hút được người tiêu dùng, giá thành hợp lý,
sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường mà trong đó chất lượng là nhân tố
quyết định hàng đầu (Xem biểu3)
Biểu3: Thị trường và doanh thu xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt
Nam
Đơn vị tính: USD/Năm
Năm
Nước
Trang 2Paskistan 197.180 126.177 529.220
Jordan 41.622
Iraq 7.961.889 1.762.181 31.589.909 28.065.690
Nguồn của tổng công ty chè
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kể song thị trường xuất khẩu
chè của chúng ta còn nhiều yếu kém, chưa thâm nhập được vào các thị trường lớn
nhiều tiềm năng, đặc biệt khi gặp các đối thủ “nặng ký” Tổng công ty trở nên
quá “nhỏ bé” và chịu nhiều thua thiệt Vì vậy, trước mắt chúng ta đặc biệt là
Tổng công ty chè cần chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếm và khai thác thị
trường mới, duy trì và củng cố những thị trường truyền thống với sự hỗ trợ của
nhà nước trong việc khai thác các mối quan hệ kinh tế – chính trị, ký kết các
hiệp định thương mại hoặc các văn bản thoả thuận hợp tác với các nước Nhìn
chung, vấn đề thị trường vẫn là vấn đề lớn còn nhiều bức xúc đòi hỏi nhiều nỗ
lực không chỉ về phía doanh nghiệp mà còn từ phía Nhà nước
III Đánh giá chung
1 Những mặt tích cực
Trang 3trước hết ta phải thấy rằng trong cả nước có rất nhiều các doanh nghiệp cũng như các đơn vị chế biến và sản xuất chè, trong Tổng công ty chè Việt Nam
là một Đơn vị rất quan trọng Ta thấy rằng chúng ta đã có ự thống nhất với nhau giữa các đơn vị trong nước ,và vai trò của Tổng công ty chè Việt Nam là rất to lớn như: Tổng công ty đã tạo được mối liên kết chặt chẽ với các đơn vị thành viên, mở rộng ra cả các vùng chè dân Tuy có số lượng đơn vị khá lớn, ở nhiều vùng khác nhau, nhưng Tổng công ty đã thống nhất được sự quản lý từ trên xuống dưới thể hiện ở chỗ: các thành viên tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch và nhiệm vụ được giao; khi có khó khăn về nguồn hàng Tổng công ty vẫn có thể
đảm bảo được hàng xuất khẩu bằng cách yêu cầu các đơn vị dừng việc bán hàng
ra ngoài để tập trung toàn bộ lượng hàng giao cho Tổng công ty ở đây không xảy ra tình trạng "Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" như vẫn thường thấy ở một
số Tổng công ty Việt Nam hiện nay Sở dĩ tạo ra được mối liên hệ này là nhờ Tổng công ty đã gắn được lợi ích của mình với lợi ích của các thành viên Và thực tế đã chứng minh không có mối quan hệ kinh tế nào bền chặt bằng mối quan hệ kinh tế hai bên cùng có lợi.Do làm tốt công tác này mà tránh được tình trang tranh mua tranh bán ở nhiều nơi, làm thiệt hại cho các cônt ty và bà con trồng chè, xuất khẩu chè đã làm cho mức sống ở các vung trồng chè được cải thiện đáng kể, môi trường cũng phần nào được cải thiện vì hiện nay diện tích trồng chè của chúng ta đã tăng lên gấp nhiều lần làm đã phủ xanh đất trống đòi núi trọc, khi xuất khẩu chè thì hiện nay chúng ta đã xâm nhập được vào các thỉtường mới đầy tiềm năng như :irap, Nhật Bản, Mỹ không còn phụ thuộc vào thị trường Liên Bang Nga và các nước Đông Âu như trước kia, và hiện na chúng
ta có rất nhiều mối quan hệ với các nước bạn hàng Điều nay làm cho các doanh nghiệp của nước ta học hỏi được rất nhiều điều và nắm bắt được những thông tin quan trọng, làm cho các doanh nghiệp chủ động trước những sự biến động của thị trường, chúng ta đã tạo ra nhiều giống tốt để ohục vụ cho qua trình xuất khẩu trình độ quản lý cũng được cải thiện, trình độ thâm canh cây chè cung được từng bước nâng cao
Trang 4- Trong sản xuất nguyên liệu: Năng suất bình quân thấp do tổ chức sản xuất sai lầm trong nhiều năm
Một thời gian dài trước đây, chè được phát triển tràn lan theo kiểu rải mành mành, tập trung vào quảng canh
Bộ giống chè nghèo, không có giống tốt, giống đặc sản
Việc quản lý chăm sóc kém, mất khoảng nhiều do đầu tư không đủ, quy trình kỹ thuật chưa được thực hiện nghiêm túc, không thâm canh ngay từ đầu Cộng với việc khai thác quá mạnh làm cây chè chóng cạn kiệt, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, sớm phải thanh lý
Dùng nhiều phân vô cơ làm đất bị nghèo dinh dưỡng, độ pH tăng cao Vườn chè thiếu hay không có cây bóng mát do nhận thức sai lầm rằng đây
là nơi trú ngụ của sâu bệnh nên đã cho chặt Thiếu cây bóng mát làm cho đất bị xói mòn, mực nước ngầm xuống thấp, chè bị héo vào những tháng nóng
Vườn chè không được quan tâm đồng đều Thậm chí ngay trong một xí nghiệp, có vườn chè tốt có vườn lại rất xấu Có vườn được đầu tư đúng mức, canh tác đúng quy trình có thể đạt năng suất 15 - 20 tấn/ha Có vườn bị buông lỏng, khoán trắng chỉ khai thác, không đầu tư làm năng suất chỉ còn 1,6 tấn/ha Đặc biệt, nhiều vườn chè dân xung quanh cơ sở chế biến chưa được quan tâm một cách đầy đủ, có trợ giá nhưng nông dân vẫn không đủ vốn đầu tư
Chè trồng trên dốc nhiều, lại không có hệ thống tưới nước đầy đủ
- Chất lượng sản phẩm kém Nhiều đánh giá cho rằng chất lượng của ta chỉ
đạt mức trung bình so với thế giới Chất lượng thấp làm giảm năng lực cạnh tranh, kéo giá chè XK xuống thấp hơn hẳn giá chè thế giới Trong các yếu tố ảnh hưởng xấu tới chất lượng, nổi lên những yếu tố sau:
+ Công nghệ: Chỉ một số ít nhà máy mới xây dựng bằng thiết bị công nghệ của ấn Độ là tương đối hoàn chỉnh Còn phần lớn là các nhà máy công nghệ Liên Xô (cũ) đến nay đã xuống cấp hay nâng cấp chắp vá bằng các phụ tùng trong nước nên không đảm bảo tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất chèđen theo tiêu chuẩn Một số đơn vị đã đầu tư bổ sung thêm máy héo, máy vò, máy sấy để nâng công suất nhà máy nhưng khâu bảo quản chè búp tươi, phòng lên
Trang 5men, phòng sàng chưa được nâng cấp tương xứng nên công suất các công đoạn mất cân đối, chè bị ùn tắc cục bộ dẫn đến chè bị ôi ngay trước khi đưa vào máy héo hoặc chua thiu trong quá trình lên men Sự không đồng bộ của dây chuyền
dễ dẫn đến cắt xén quy trình từng công đoạn trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm cũng giảm theo
+ Con người: Cùng với sự yếu kém về công nghệ, thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề cũng như nguyên nhân làm chất lượng chè thấp Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và trên đại học ngày càng thưa thớt, nhiều
đơn vị chè lớn không có kỹ sư chế biến, thậm chí thiếu cả cán bộ chế biến có trình độ trung cấp Công nhân lành nghề được đào tạo những năm 60 - 70 nay dần đã về hưu, thay thế là thế hệ công nhân trẻ thiếu kinh nghiệm và tay nghề thấp Do thiếu cán bộ có trình độ đại học nên việc bồi dưỡng và nâng cao tay nghề cho công nhân cũng hạn chế
+ Quản lý: Vẫn còn nhiều đơn vị vì lợi ích cục bộ, chỉ chạy theo số lượng cốt hoàn thành kế hoạch mà không có trách nhiệm với người tiêu dùng, không quan tâm duy trì và cải tiên, làm cho chất lượng sa sút ảnh hưởng tới chất lượng chung của Tổng công ty Đây là hậu quả của cơ chế cũ Ngành chè ra đời và phát triển trong thời kỳ hệ thống XHCN còn vững mạnh Ta đã nhận được thiết bị chế biến qua con đường viện trợ không hoàn lại hay trên cơ sở hợp tác ưu đãi Phần lớn chè được xuất dưới dạng bán thành phẩm Sản phẩm sản xuất ra dù có chất lượng hay không đều có thị trường tiêu thụ ổn định Sản xuất đến đâu bán hết
đến đó do được bao cấp cả đầu ra Chính cơ chế này đã gây ra sự trì trệ và thói quen coi thường chất lượng ở một số cán bộ Điều này đã thực sự làm cho tiêu thụ chè nói riêng và hàng hoá Việt Nam nói chung bị "sốc" khi khối XHCN sụp
đổ, thị trường cũ đột ngột co hẹp, buộc phải vươn ra các thị trường mới mà chất lượng mới chính là yếu tố cạnh tranh để sống còn
- Tuy Tổng công ty đã mở ra nhiều thị trường mới nhưng chưa có bạn hàng thực sự lâu dài, thậm chí còn bị mất thị trường chè vàng ở Hồng Kông Nguyê nhân là do:
Trang 6Sản phẩm còn đơn điệu về chủng loại, mẫu mã, bao bì, ta chủ yếu xuất chè
có kích thước và kiểu dáng tự nhiên Trong khi người tiêu dùng đặc biệt người tiêu dùng ở các nước tư bản lại ưa thích sản phẩm tiện dụng và cho phép tiết kiệm thời gian
Chưa hình thành hệ thống phân phối trực tiếp ở nước ngoài Ngay cả ở các thị trường truyền thống, các thị trường lớn như Nga, I rắc cũng vẫn phải bán qua các nhà nhập khẩu của họ XK phải qua nhiều khâu trung gian vòng vèo (do cơ chế trả nợ)
Với vai trò nhỏ bé trên thị trường thế giới và tình hình chất lượng như hiện nay, chúng ta chưa có khả năng áp dụng nhiều chính sách giá như giá tấn công, giá hớt váng, chiến tranh giá cả XK vẫn kiểu cầm chừng, gặp khách thoả thuận
được giá bán, nên yêu cầu chủ yếu với giá xuất khẩu là đủ bù đắp chi phí và có lãi chứ chưa sử dụng được giá như một công cụ cạnh tranh
Chi phí dành cho các hoạt động xúc tiến, yểm trợ còn thấp Các hình thức quảng cáo còn nghèo nàn - đây là nhược điểm chung của các doanh nghiệp Việt Nam Công tác tiếp thị yếu, chưa có một đội ngũ tiếp thị chuyên môn
Vẫn theo quan điểm marketing truyền thống, coi trọng khâu tiêu thụ Đã
có các dây chuyền công nghệ như vậy, đã sản xuất ra các sản phẩm như vậy, vấn
đề phải quan tâm là tìm đầu ra Chính vì vậy chưa thực sự có được vị trí trên thị trường thế giới
- Tất cả những hạn chế trên còn có chung một nguyên nhân là tổ chức quản lý của ngành chè chưa được hợp lý Các đơn vị sản xuất chè còn manh mún, phân tán , còn phân biệt năng nề giữa trung ương và địa phương Cơ cấu chưa ổn
định, Tổng công ty mới được thành lập trong thời gian ngắn nhưng đang có sự xáo trộn do việc chuyển đổi một số đơn vị từ Trung ương sang địa phương Nhìn chung, các nhà sản xuất và kinh doanh chè trong cả nước chưa tập trung về một mối để tạo nên sức mạnh tổng hợp, để cạnh tranh được trên thị trường quốc tế
3 Các nguyên nhân khách quan
* Khó khăn cho sản xuất chè: Những người trồng chè ngoài thuế sử dụng
đất nông nghiệp còn phải nộp phí quản lý, khấu hao vườn chè, bảo hiểm, xã