Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực hiệnchính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Na
Trang 1Chương 2
Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt
Nam hiện nay
2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực
hiệnchính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế
của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp chúng
ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và
mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì ngày nay
việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượng tiền mặt
(C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức tín dụng khác (D)
Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỉ lệ lạm phát
ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiền tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không
đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm )
Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thlống NH đã được phân thành 2 cấp
NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh
vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ Thống đốc NHNN có
quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia
2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua
2.2.1 Công cụ lãi suất:
ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sách tiền
Deleted: :
Deleted: ê Deleted: ụ
Deleted: …
Deleted: …
Trang 2trung sang cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các
Ngân hàng sang cơ chế tự hạch toán kinh doanh
Giai đoạn 1988- 1991: Chính sách lãi suất được thay đổi cơ bản: Lãi suất
tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá (lạm phát ), nâng lãi suất tiền gửi và tiền vay
của các tổ chức kinh tế tiến gần với lãi suất huy động tiết kiệm.Lãi suất cho
vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát (%) ư
Biểu1: Lãi suất cho vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát(%)
Từ T3 / 81 - T 10 /9 1
3/89 6/89 7/89 2/90 IV/90 7/91 10/91
1 Lãi tiết kiệm
2 Lãi cho vay vốn
lưu động
6,8-6,5
5,1-5,5
3-4 3-4 1,8 1,8
2,1-3,7
3 Tốc độ ép + 5,4 - 2,9 -2,5 +0,2 +7,6 +2,5 +5,5
Nhờ việc tăng lãi suất huy động vốn đã thực hiện được chủ trương của
Nhà nước là đâỷ lùi lạm phát và có cơ sở để thực hiện việc tài trợ vốn
cho các xí nghiệp quốc doanh đang lâm vào tình trạng khủng hoảng lúc bấy
giờ Song xét trên bình diện toàn nền kinh tế thì chúng ta đã thất bại trong lĩnh
vực đầu tư vì lãi suất cho vay quá cao, vốn ngân hàng ứ đọng, nền kinh tế phát
sinh các hoạt động kinh tế thiếu tính cực : vay tiền chơi đề, hoặc để gửi lãi ăn
chênh lệch Tình trạng đó đã dẫn đến sự đổ bể của các HTX tín dụng còn các
NHTM thực chất là phá sản nếu không có bàn tay cứu giúp của Nhà nước
Việc thi hành chính sách lãi suất thực dương đã được thực hiện nhưng lại
chưa triệt để vì thực tế với các ngân hàng thì lãi suất cho vay lại nhỏ hơn lãi
suất huy động: Năm 1991 lãi suất huy động tiết kiệm 45% năm; chỉ số trượt
giá bình quân 43,4% năm ; lãi suất cho vay 40,2% năm
Deleted: - Deleted: ; Deleted: T Deleted: -1
Deleted: ả
Deleted: H Deleted: c Deleted:
Trang 3Giai đoạn 1992-1995: Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như công cụ
chính của CSTT, lãi suất thực dương bắt đầu được duy trì từ cuối 1992, điều
chỉnh linh hoạt cùng với tỉ lệ lạm phát và bám sát thị trường (trong thời gian 2
năm từ T8/1992-T8/1994 mức lãi suất được điều chỉnh tới 6 lần), NHNN
khống chế “sàn ” lãi suất tiền gửi, trần lãi suất cho vay và có một bộ phận cho
vay theo lãi suất thoả thuận (T8/1992: Lãi tiết kiệm loại 3 tháng: 2,3%, lãi cho
vay 2,5%, lạm phát +0,3%)
Để thực hiện nguyên tắc trên đồng thời tạo điều kiện giảm lãi suất cho
vay để khuyến khích đầu tư phát triển trong nền kinh tế một số biện pháp sau
đây đã được sử dụng:
Thay đổi cơ cấu nguồn vốn ngân hàng theo hướng tăng nhanh nguồn
vốn có lãi suất thấp ( tăng tiền gửi giao dịch, vốn tín dụng nước ngoài, vốn
ngân sách)
Thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giữa ngoại tệ và bản tệ
theo hướng tăng lãi suất đối với ngoại tệ: Lãi suất cho vay ngoại tệ năm 1993
là 7,5% lên 8,5% năm 1994 và 9,0% năm 1995 và điều chỉnh hàng tháng lãi
suất ngoại tệ theo biến động lãi mất thị trường TCQT SINGAPORE
Qua việc quốc hội thông qua dự luật bỏ thuế doanh thu NH đã hỗ trợ
cho NHNN tiến thêm một bước trong việc cải tiến lãi suất vào cuối T12/1995:
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 2,1% tháng xuống 1,75% tháng ; lãi
suất cho vay trung - dài hạn được giữ nguyên không quá 1,7% tháng Mặt
khác có quy định để các NHTM tuân thủ chênh lệch lãi suất bình quân giữa
huy động và cho vay là 0,35% tháng
Ngoài ra, từ T8/94: Chính sách lãi suất TD còn được cải cách theo hướng
nâng lãi suất tiền gửi có kì hạn lên gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân
cư cùng kì hạn để bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của họ và khuyến khích
họ gưỉ tiền vào ngân hàng Đồng thời thực hiện lãi suất cho vay trung, dài hạn
cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn: Năm 1994 giữ nguyên mức lãi suất cho vay
ngắn hạn; nâng lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn từ 1,2% lên 1,7% tháng
Deleted: *****ả
mức lãi suất tái cấp vốn quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ) Do trong năm
1997 các NHTM đã tích cực hơn trong việc trả nợ NHNN và khả năng huy động vốn tăng nên đến cuối 1997, dư nợ tái cấp vốn của NHNN giảm 11,9% so với 1996 ả Năm 1998, để thực hiện chính sách tiền tệ
“thắt chặt” nhằm hạn chế sự gia tăng lạm phát do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, NHNN đã tăng lãi suất chất khẩu từ 1% tháng 1,1% tháng (thấp hơn tiền lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1% tháng.ả
Năm 1999, với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế, khắc phục nguy cơ giảm phát NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn từ mức 1,1% tháng đầu năm xuất 0,5% tháng
đồng thời quy chế về nghiệp vụ chất khấu, tái chiết khấu đã được ban hành để phát triển một bước hiệu quả công cụ này trong chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối nguồn vốn hoạt động cho các ngân hàng Các giấy tờ có giá ngắn hạnh
được chiết khấu tại NHNN là tín phiếu kho Bạc, trái phiếu NHNN và các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác do NHNN quy định
ở mỗi thời kỳ Mức lãi suất tái chiết khấu
được công bố là 0,45% tháng.ả
Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000, nhằm khuyến khích mở rộng tín dụng của các TCTD, NHNN đã 2 lần giảm lãi suất tái cấp vốn từ 0,5% tháng xuống 0,45% tháng (31/3/2000) và xuống 0,4% tháng (31/7/2000) Đồng thời NHNN cũng giảm lãi suất tái chiết khấu từ 0,45% tháng xuống còn 0,4% tháng (T3/2000) và xuống 0,35% tháng (T7/2000) Tuy vậy cho đến T9 /2000 để hạn chế các TCTD
bù đắp thiếu hụt thanh toán qua hình thức vay tái cấp vốn, tái chiết khấu từ NHNN
và khuyến khích thực hiện bù đắp qua thị trường mở nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường này, đồng thời tạo tín hiệu cho các TCTD tăng lãi suất huy động, ngày 2/11/2000 NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn lên 0,5% tháng và tăng lãi suất tái chiết khấu lên 0,45% tháng ả
Như vậy công cụ cho vay chiết khấu đã dần được áp dụng theo đúng bản chất của
nó là tín hiệu cho các NHTM điều chỉnh lãi suất cùng với sự phát triển của thị trường ở Việt Nam , trở thành một công
cụ đắc lực của chính sách tiền tệ quốc gia ả
Trang 4Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho các
NHTM trong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn và
nhu cầu tín dụng thị trường, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng và
làm giảm chi phí NH có lợi cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTM
thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo mục tiêu chính sách tín dụng
Giai đoạn từ 1996- Nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mức
lãi suất :“trần” theo thời hạn cho vay và khống chế tỷ lệ chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân chung là 0,35%(tháng) (4,2%
năm) Trong phạm vi “trần” lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất được công bố,
các NHTM được điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và huy động
vốn phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và đặc điểm kinh doanh riêng Sau 4
lần điều chỉnh lãi suất kể từ cuối 1995: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm
từ 22% năm xuống 15% năm, lãi suất cho vay trung- dài hạn giảm 21% năm
xuống còn 16,2% năm
Mặt khác nhằm điều chỉnh các luồng vốn dư thừa từ thành thị về nông
thôn thì lãi suất cho vay ở nông thông được duy trì cao hơn một chút so với lãi
suất cho vay ở thành thị
Trong năm 1997, với mục tiêu góp phần tăng trưởng kinh tế và phù hợp
xu hướng giảm lãi suất, việc quy định trần lãi suất cho vay giảm mạnh,
T7/1997 lãi suất cho vay ngắn hạn giảm từ 1,2% tháng xuống 1% tháng, lãi
suất cho vay trung dài hạn giảm từ 1,35% tháng xuống 1,1% tháng ,chênh
lệch lãi suất huy động và cho vay bình quân quy định là 0,35% tháng(4,2%
năm)
Tuy nhiên từ quý IV năm 1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, đồng USD có xu hướng lên giá và lãi
xuất tiền gửi bằng USD ở mức cao trong khi lãi suất huy động của VND
ở mức thấp nên đã có hiện tượng người gửi tiền rút VND để chuyển sang
USD Nhiều tổ chức kinh tế và dân cư găm giữ USD gây khó khăn cho các
NHTM và tăng sức ép đối với đồng nội tệ, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn cho thị
trường tiền tệ và việc huy động vốn của các NHTM, đặc biệt là một số NHTM
Deleted: á
Deleted: ắ Deleted: n Deleted: tiền Deleted: địa
Trang 5Trước tình hình đó, ngày 20/1/1998, thống đốc NHNN ra QĐ số
39/1998 / QĐ- NHNN1 với nội dung chủ yếu là:
- Đưa ra mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng VND: lãi cho vay ngắn hạn từ 1%-1,2% tháng; lãi suất cho vay trung và dài hạn là
1,1- 1,25% tháng ; đồng thời xoá bỏ sự chênh lệch về lãi suất giữa 2 khu vực
thành thị và nông thôn Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND Hạn chế
rút tiền VND tích trữ USD ,tăng vốn cho sản xuất kinh doanh
- Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% năm
như trước đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của các
pháp nhân tại TCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi
góp phần tăng cường cho việc quản lí ngoại hối
- Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh giảm từ
8,5 % xuống 7,5% năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOR, SiBOR hiện
hành; đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế
Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễn
biến kinh tế vĩ mô và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huy động
vốn và cho vay trong nền kinh tế Tổng số vốn huy động ở hầu hết các tổ chức
tín dụng đều tăng lên điều đó cho thấy mối tương quan giữa lạm phát và lãi
suất tiền gửi được coi là tương đối hợp lý Từ đó, quy mô tín dụng cung ứng
cho nền kinh tế tăng lên đặc biệt tín dụng bằng VND có tốc độ tăng cao hơn
Thị trường ngoại tệ ,tỉ giá VND/USD lại trở về trạng thái tương đối ổn định
phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ và
thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của chính phủ , NHNN đã 5 lần điều
chỉnh trần lãi suất cho vay bằng VND theo xu hướng giảm: Từ 1,2% tháng
(ngắn hạn) và (1,25%tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%
tháng (thành thị); 1% tháng (nông thôn); 1,15% tháng (NHTMCP nông thôn-
Quỹ TDND cơ sở ); 0,7% (NH phục vụ người nghèo) Trần lãi suất cho vay
bằng USD là 7,5% năm
Deleted: N một
Deleted: h Deleted: t Deleted: a
Deleted: 1
Deleted: o Deleted: ội
Deleted: M
Deleted: Đ