Ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất: chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng VND và cơ c
Trang 1Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với
diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy
cơ giảm phát đang là chậm lại tốc độ tăng trưởng
Năm 2000, lãi suất trong nước có những diễn biến khá phức tạp Thực
hiện chủ trương kích cầu của chính phủ, lãi suất cho vay bằng VND vẫn tiếp
tục được điều chỉnh theo xu hướng giảm: lãi suất cho vay phổ biến gỉam từ
0,75% tháng xuống 0,70% tháng Trong khi đó lãi suất ngoại tệ lại chịu tác
động của thị trường tài chính quốc tế, trong năm 2000, lãi suất thị trường quốc
tế liên tục tăng buộc lãi suất ngoại tệ trong nước cũng phải tăng theo (từ 3,5%
năm lên 4,5% năm ), nhiều khi lãi suất VND thấp hơn lãi suất USD
Ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất:
chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ
bản đối với cho vay bằng VND và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với
cho vay bằng ngoại tệ: Đối với cho vay VND, lãi suất cho vay không vượt quá
lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng Hiện nay, lãi suất cơ bản là 0,75%
tháng, biên độ cho vay ngắn hạn là 0,3% tháng, biên độ cho vay trung và dài
hạn là 0,5% tháng Đối với lãi suất cho vay USD, lãi suất cho vay không vượt
quá lãi suất USD trên thị trường liên NH Singapore (SiBOR) kì hạn 3 tháng
đôí với cho vay ngắn hạn, kì hạn 6 tháng đối với cho vay trung dài hạn tại thời
điểm cho vay cộng biên độ do thống đốc NHNN quy định (Hiện nay biên độ
cho vay ngắn hạn là 1% năm , biên độ cho vay trung dài hạn là 2,5% năm )
Còn đối với các ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt động tiền gửi
TD nên cho phép các TCTD tự xác định
Với nội dụng điều hành lãi suất cơ bản như trên cho thấy lãi suất cơ bản
được xác định trên cơ sở lãi suất thị trường với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo sự
kiểm soát lãi suất của NHNN, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đây là một bước
tiến mới, bước đi tiếp theo trong tiến trình tự do hoá lãi suất
Như vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định
tỷ giá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng
trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng
Deleted: t Deleted: ỗ
Deleted: một
Deleted: -Deleted: bên Deleted: ủ
Deleted: ý Deleted: ô
Deleted:
Deleted: ụ
Deleted: ổn Deleted: ứ
Trang 2tình trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở
Việt Nam
Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển
chưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn
Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu
của thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm
phát: Những năm 1990-1991do lạm phát còn ở tỉ lệ cao (67,6% tháng ) Để
khống chế lạm phát, NHNN chủ trương thi hành CSTT “thắt chặt” ngay từ đầu
năm để giảm bớt lượng tiền cung ứng Dựa trên một số chỉ tiêu vĩ mô dự kiến
năm 1992là: Tăng trưởng kinh tế (4,5%); chỉ số lạm phát (30%/ năm), NHNN
đưa ra hạn mức tín dụng đối với tất cả hệ thống NHTM là 34,5% (mức tăng so
với năm trước) Bằng nhiều biện pháp kết hợp, năm đó chúng ta đã đạt được
kết quả thực tế rất khả quan: mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2 lần so với dự
kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều (17,6%), tiền tệ đi dần
vào ổn định
ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức TD chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD( NH
Ngoại thương, NH Công thương, NH Nông nghiệp, NH đầu tư phát triển)
nhưng sau vài năm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá
nhanh, số lượng các NHTM ngày càng nhiều nên NHNN quyết định áp dụng
hạn mức tín dụng cho hầu hết các NHTM Tính đến cuối năm 1997 có 26
NHTM trong nước phải áp dụng hạn mức tín dụng còn các NH nước ngoài và
NH liên doanh tuy chiếm thị phần tín dụng đáng kể (10-15% thị phần tín dụng
trong nước) nhưng vẫn chưa phải áp dụng hạn mức tín dụng
Những năm sau đó, đặc biệt là từ 1995 đến 1997, NHNN vẫn tiếp tục
thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” để kiểm soát lạm phát từ đó đưa ra rỉ lệ
hạn mức tín dụng ở mức vừa phải cho các NHTM Song kết quả thực tế cho
thấy hiện tượng phổ biến là hầu hết các NHTM đều có xu hướng vượt qúa chỉ
tiêu hạn mức tín dụng được giao, cụ thể
Deleted: từng Deleted: ạ
Deleted: H Deleted: M Deleted: T
Deleted: i Deleted: chính sách tiền tệ
Deleted: ở Deleted:
Deleted: ,
Deleted: h Deleted:
Trang 3Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức tín dụng (1995-1998)
/1998
Năm
hiện
KH giao
Thực hiện
KH giao
Thực hiện
KH giao
Thực hiện Tăng so với
năm trước
21% 37,8% 25% 29% 21% 26,4% 4% 4,8%
Hiện tượng trên xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn nay tốc độ huy động vốn nhàn rỗi bình quân
hàng năm của các NHTM tăng nhanh (khoảng 26% đến 37% năm) vì vậy các
NHTM tất yếu phải thực hiện đầu tư tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế
vì con đường để đầu tư qua thị trường tiền tệ, thị trường vốn là khó khăn trong
điều kiện nước ta lúc bấy giờ
Thứ hai, Do diễn biến lãi suất đang có xu hướng giảm trần lãi suất cho
vay trong khi đó để huy động nguồn vốn nhàn rỗi các NHTM phải tăng lãi
suất huy động (do tâm lý người dân không muốn gửi), điều đó làm cho chênh
lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động giao động ở mức 0,15% -
0,25% tháng, thấp hơn so với trước đây 0,3%-0,45% tháng Với chênh lệch
như vậy để đảm bảo hoạt động kinh doanh đủ bù đắp chi phí hoạt động thì
buộc các NHTM phải tăng dư nợ đối với nền kinh tế
Hiện tượng trên cũng góp phần giải thích tại sao trong những năm 1995-
1997 mặc dù lạm phát được kiểm chế ở mức thấp (bình quân 6,9% năm)
nhưng nền kinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao 9,28% năm
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần
vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán
vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của nền
kinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu
Deleted: S
Deleted: ọ
Deleted: Đ
Trang 4này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ (mặc dù
có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết)
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định , thị
trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm
nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có
thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM
Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM Việt
Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN đã
quy định tỉ lệ DTBB là 10%; được áp dụng cho các NHTMQD, NHTM cổ
phần ,chi nhánh NH nước ngoài,NH liên doanh và các công ty tài chính
Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10%
nhất là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này,
trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức
DTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi
khác nhau : tiền gửi, tiền tiết kiệm không kì hạn: 13%;tiết kiện kì hạn 3,6
tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu: 8%) ; đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng
quy chế phạt đối với các TCTD không thực hiện đúng quy chế DTBB
Năm 1995, NHNN quy định (T10/1995) DTBB chỉ được tính đối với loại
tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% được áp dụng
cho tất cả các NHTM( trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹ TDND
tạm thời chưa phải thực hiện) Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên, lại bỏ
dần tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB được hợp
nhất với tiền gửi thanh toán của các NHTM vào một tài khoản chung là tài
khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN Tiền gửi dự trữ vượt được trả lãi 0,1%
tháng (Năm 1996) Điều này đã tạo sự linh hoạt hơn cho việc điều chỉnh dự
trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chế lãi suất thị
trường và khối lượng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế
lạm phát
Deleted: hoàn thiện khi thị trường tiền
tệ ổn định, thị trường vốn phát triển và thị
Deleted: d
Deleted: quỹ IV/199 Deleted: 4 Deleted: ổng kết Deleted: ả Deleted: Tổng kết Deleted: C
Deleted: C
Trang 5Đến T12/97, Quy chế DTBB có sự thay đổi để đảm bảo tính cụ thể, rõ
ràng hơn: Tiền gửi DTBB tại NHNN được tính bình quân trong cả kì duy trì,
tỷ lệ DTBB vẫn là 10%, tiền dự trữ vượt được hưởng lãi suất 0,2% tháng (bằng
VND) và 4,86% năm (đối với USD) Đồng thời NHTM nào thiếu tiền gửi
DTBB trong kì duy trì sẽ bị phạt theo mức 200% lãi suất cho vay tái cấp vốn
của NHNN (VND), từ đó khuyến khích các NHTM thực hiện đúng quy chế
DTBB
Để luật NHNN có hiệu lực (từ 1/10/1998) ,từ cuối 1998 và trong năm
1999, quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tượng áp dụngđược mở
hiện chính sách tiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBB trước
đây: 70% gửi tại NHNN và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạn thanh toán;
việc trả lãi tiền DTBB do chính phủ quy định
Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB được
điều chỉnh nhiều lần theo xu hướng gỉam nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thíh đầu
tư, tiêu dùng
Biểu 3: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999
Tỉ lệ DTBB (%) TCTD
1/1/99 1/3/99 1/6/99 1/7/99 1/10/99
1 NHTMQD, NHTM của đô thị,
chi nhánh NH nước ngoài, NH
liên doanh & Công ty TC
2 NHTMCP nông thôn, NH hợp
tác, Quỹ TDNDTW, khu vực
3 TCTD có số dư tiền gửi phải
tín DTBB dưới 500trđ quỹ
TDND cơ sở, HTX tín dụng, NH
phục vụ người nghèo
Deleted: 2
Deleted: ọ
Deleted: T Deleted: ếm
Deleted: , Deleted: V
Deleted: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD
năm 1999 ả Tính tiền tổng số dư tiền gửi huy động (VND, ngoại tệ) kì hạn dưới 12 tháng
Deleted: ân Deleted: c Deleted: