1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu khái niệm về tiền tệ và cách quản lý phần 5 ppsx

5 380 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 93,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó dẫn đến việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết sự tăng, giảm khối lượng tiền trong nền kinh tế của NHNN thời gian qua cũng bị hạn chế ở nhiều mặt.. Điều này

Trang 1

* Góp phần tăng trưởng kinh tế:Việc ổn định giá trị VND đã tạo lòng tin của nhân dân vào đồng bản tệ, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thu hút

được nguồn vốn đáng kể từ trong và ngoài nước Đặc biệt việc điều chỉnh các

công cụ CSTT: lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN ở các giai đoạn cụ

thể đã có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới việc huy động và phân bổ nguồn

vốn có hiệu quả trong nền kinh tế của các TCTD Cũng từ đó mà góp phần

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục qua các năm

Biểu 6: Tình hình tăng trưởng kinh tế ( G DP) của Việt Nam

Năm

Chỉ tiêu

9

1

6 DP (tỉ VND)

giá so sánh

1981-1994

33.99

1

36.73

5

39.98

2

195.5 6

213.83

3

231.2

64

244.6

76

256.26

9

273.43

9

Tăng trưởng

6DP(%)

6 8,6 8,1 8,8 9,5 9,3 8,8 5,8 4,8 6,7

Từ các kết quả trên cho thấy, việc sử dụng các công cụ điều tiết của CSTT ở Việt Nam đã góp phần đạt được hai mục đích thường mâu thuẫn nhau

đó là: Vừa đẩy lùi lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế Có được kết qủa này còn

phải kể đến vai trò của nhiều CSKT vĩ mô khác nữa và đặc thù của nền kinh tế

Việt Nam đó là chúng ta chưa đạt được mức năng suất biên của sản lượng tiềm

năng trong nền kinh tế

* Ngoài ra, việc sử dụng các công cụ của CSTT cũng góp phần gián tiếp

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế, tạo thêm công

ăn việc làm Năm 1999 cả nước giải quyết được việc làm cho 1,2 triệu lao

động và thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp

nông thôn (năm 2000,tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 11%)

tế.ả

Deleted: …

Deleted: Page Break

Deleted: 6 Deleted: 6,7

Deleted: 273.439

Deleted: c

Deleted: 213.2 Deleted: 6 Deleted: 4 Deleted: 244.676 Deleted: 256.269 Deleted: 5 Deleted: 7

Deleted: rất Deleted: u

Deleted:

Deleted:

Deleted: thôn…

Trang 2

2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong qúa trình thực hiện các công cụ của

CSTT những năm qua

Trong những năm qua, chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến việc kiểm

soát và điều hành toàn bộ quá trình cung ứng tiền (phương pháp dự đoán

không phù hợp, phương thức điều hành MS không linh hoạt cùng với các biến

đổi kinh tế, mới chỉ quan tâm đến khối lượng tiền phát hành hàng năm cho 2

mục tiêu (cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế thông qua cho vay

chiết khấu các NHTM và mua ngoại tệ, chưa đánh giá đúng khả năng tạo tiền

của các NHTM)

Từ đó dẫn đến việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều

tiết sự tăng, giảm khối lượng tiền trong nền kinh tế của NHNN thời gian qua

cũng bị hạn chế ở nhiều mặt

Nhóm các công cụ trực tiếp: Được sử dụng chủ yếu trong việc điều tiết

cung tiền thời gian qua, những công cụ này chỉ phù hợp với quá trình chuyển

đổi kinh tế trong giai đoạn đầu nhưng trong tương lai sẽ không còn phù hợp

nữa (rõ nhất là công cụ hạn mức tín dụng đã bị loại bỏ từ quý II/98)

Lãi suất là công cụ được sử dụng thường xuyên nhất trong điều hành

CSTT ở Việt Nam vừa qua Tuy nhiên, cũng như tình trạng ở các nứơc đang

phát triển khác, ở Việt Nam lãi suất không nhạy cảm lắm với đầu tư Điều này

được thể hiện rõ rệt trong hai năm (1998, 1999) khi trần lãi suất cho vay giảm

liên tục nhưng đầu tư vẫn chưa tăng mạnh, giá cả và sản lượng không những

không tăng mà còn tiếp tục giảm (tuy điều này còn liên quan đến các yếu tố

thực của nền kinh tế chứ không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố tiền tệ danh

nghĩa)

.Việc NHNN luôn tiếp điều chỉnh lãi suất trong một khoảng thời gian

ngắn (từ 1/6/99-4/9/99) đã 3 lần giảm lãi suất cho vay )đã gây khó khăn cho

các tổ chức tín dụng.Vì lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm (liên tục) trong

khi đó lãi suất nhận gửi ở thời kì trước vẫn giữ nguyên từ đó xuất hiện khả

năng tiềm tàng về rủi ro lãi suất bất khả kháng.Việc điều chỉnh theo xu hướng

giảm trong thời gian qua ít có tác dụng tích cực đến việc tăng cường huy động

Deleted: Tiết cung

Deleted: so

Deleted: ữ

Deleted: ĐP Deleted: ả Deleted: T Deleted: khác,

Deleted: a

Deleted:

Deleted: ả

Deleted: ả

Deleted: á

Trang 3

vốn trong và dài hạn Việc các NHTM tự quy định lãi suất tiền gửi thanh toán

trong khung trần lãi suất cho vay tối đa đã dẫn tới các NHTM tranh giành

khách hàng bằng việc tăng lãi suất tiền gửi thanh toán lên khá cao, khiến cho

tổng số vốn huy động của toàn ngành NH không tăng mà chỉ chuyển từ NH

này sang NH khác, gây bất ổn định trong kinh doanh

Các NHTMQD đang còn phải bao cấp qua lãi suất cho vay theo chỉ đạo

của NHNN, nếu điều này kéo dài sẽ triệt tiêu tính kinh doanh của các NHTM

Việc điều chỉnh lãi suất của NHNN nhiều khi còn chậm so với thị

trường vì thế nó có tác dụng khẳng định hơn là hướng dẫn diễn biến thực tế

Mặt khác cơ sở để NHNN điều chỉnh lãi suất còn nặng về quan điểm trường

phái trọng tiền ( căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường là chủ yếu,

sự ảnh hưởng của thị trường vốn còn hạn chế)

Hơn nữa, trong nền KTTT về mặt nguyên tắc thì lãi suất phải được hình

thành trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Việc kiểm soát lãi suất

của NHNN hiện nay chính là một kiểu can thiệp giá của nhà nước Nếu cứ

như vậy sẽ là không phù hợp trong tương lai khi hệ thống thị trường ở Việt

Nam phát triển hoàn thiện hơn

Công cụ dự trữ bắt buộc :Trong nhiều năm liền (kể từ khi có pháp lệnh

NH T5/1990 ) chúng ta duy trì một cách cứng nhắc tỉ lệ DTBB 10%, điều này

chỉ phù hợp trong thời kỳ đầu nhưng sau đó khi đồng tiền Việt Nam đi vào ổn

định thì đó là tỉ lệ không hợp lý, thiếu linh hoạt song NHNN trong thời gian

đó vẫn không có quyền thay đổi vì để sửa đổi pháp lệnh phải có thời gian

Kể từ khi luật NHNN được thực hiện, tỉ lệ DTBB tuy có được điều chỉnh

giảm đi (0-20%) và linh hoạt hơn nhưng theo nhiều chuyên gia đánh giá thì nó

vẫn ở mức cao

Việc thực hiện các quy định về DTBB của các TCTD chưa nghiêm, tiềm

ẩn các nguy cơ khủng hoảng khả năng thanh toán Mặt khác đối tượng phải áp

dụng quy chế DTBB còn chưa đầy đủ, các đối tượng áp dụng thì mức độ tỉ lệ

DTBB còn khác nhau- có nhiều yếu tố khộng hợp lý Như vậy NHNN vẫn

chưa thực sự tạo ra được một “sân chơi bình đẳng”đối với các TCTD

Deleted: ong **

Deleted: ền Deleted: c

Deleted:

Deleted:

Deleted: oàn Deleted:

Deleted: sách Deleted: tăng trưởng lãi

Deleted: Đối với Deleted: c Deleted: ả

Deleted: TS Deleted: 190 Deleted: h Deleted: a Deleted: aỉo Deleted: rong

Trang 4

Trong điều kiện thực tế Việt Nam, tác dụng của công cụ nay còn hạn

chế, chưa biểu hiện rõ nét, thời gian gần đây cùng với lãi suất thị trường, lãi

suất tái cấp vốn, chúng ta đã liên tục hạ thấp tỉ lệ DTBB tuy nhiên vẫn chưa

thúc đẩy nền kinh tế phát triển rõ rệt, kết quả biểu hiện còn khá khiêm tốn

Thực tế đó chứng tỏ ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế đầy đủ để

CSTTC (cụ thể là các công cụ của CSTT) phát huy tác dụng, mối liên hệ - tác

động của nó với các biến số kinh tế vĩ mô còn rất hạn chế

Công cụ cho vay tái chiết khấu: Chúng ta còn thiếu tiền đề quan trọng

để thực hiện nghiệp vụ này đó là việc sử dụng thương phiếu chưa phát triển

phổ biến trong các giao dịch thương mại; công cụ mà NHNN thực hiện nghiệp

vụ này là các tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN Theo lý thuyết, lương tiền

phát hành vào lưu thông qua con đường tái chiết khấu sẽ là phù hợp hơn nếu

nó được dựa trên các thương phiếu(vì lượng tiền đó được bảo đảm bằng sự gia

tăng khối lượng hàng hoá của nền kinh tế)

Việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán của

các NHTM hiện nay phải chăng là quá dễ dãi theo nguyên lí phát hành tiền

Nó có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của các NHTM nhưng nó cũng dễ phát

sinh các tiêu cực trong qúa trình thực hiện , chưa kích thích sự năng động của

các NHTM Như vậy sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, gây bất ổn đối với giá trị

đồng tiền quốc gia

.Trong việc điều chỉnh chính sách chiết khấu dường như chúng ta chỉ

nặng về điều chỉnh lãi suất chiết khấu mà chưa chú ý đến “cửa sổ chiết khấu”

của NHTW đối với các NHTM (vì quy mô cung ứng cho vay chiết khấu của

NHNN đối với các NHTM cũng phải căn cứ vào thực lực của chính các NH

đó)

Mặt khác việc áp dụng lãi suất chiết khấu nhiều khi còn mang nặng tính

bao cấp ( ưu tiên NHTMQD) do vậy vai trò “người cho vay cuối cùng” đối với

mọi TCTD của NHNN chưa thực sự thể hiện rõ nét

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở : Về cơ bản thì đây chưa thực sự trở

thành một công cụ điều tiết linh hoạt, chủ yếu của NHNN ở Việt Nam mặc dù

theo lý thuyết vai trò của nó là rất to lớn

Deleted: Đối với Deleted: c

Deleted: ả

-Deleted: ồ Deleted: các Deleted: hoá phiếu, Deleted: rái

Deleted:

-Deleted: x

Deleted: gn

Deleted: ônr

Deleted: -

Deleted: sách

Deleted: tổ chức T D trong nưcs Deleted: Bởi lẽ sự phá sản do khủng

hoảng thanh toán của một số NHTM (tự nhân, cổ phần) gần đây ở một phương diện nào đó cần thiết sự tài trợ, giúp đỡ của NHNN.ả

Deleted: * Đối với Deleted: cô

Deleted: ả

Trang 5

- Vấn đề nêu trên có thể biểu hiện ở các khía cạnh sau:

Quá trình tạo “hàng hoá” còn chậm chạp, việc tổ chức đấu thầu tín

phiếu kho bạc, phát hành tín phiếu NHNN của NHNN còn mang nặng tính

hành chính, các chủ thể tham gia không nhiều chủ yếu là các NHTM quốc

doanh, Công ty Bảo hiểm với mục đích đơn giản là giải quyết nguồn vốn khả

dụng dư thừa của họ

Việc mua bán lại tín phiếu còn chưa phổ biến đối với công chúng khiến

cho lượng tín phiếu mà các TCTD sau khi mua được hầu như lại nằm im trong

két của họ điều đó cũng làm giảm ý nghĩa và sự sôi động của thị trường sơ

cấp

.Trên thị trường mở ,khối lượng giao dịch còn thấp , số thành viên tham

gia chưa nhiều nên tác độngcủa thị trường mở đến lượng vốn khả dụng của

các NHTM còn rất hạn chế

Như vậy,từ các tồn tại trên đòi hỏi phải có những định hướng cơ bản và

các giải pháp cụ thể để có thể sử dụng các công cụ của CSTT một cách có

hiệu quả ở Việt Nam

Deleted: + Deleted: rái Deleted: rái Deleted: trái phiếu Deleted: NN

Deleted: + Deleted: ứ Deleted: âù Deleted: sau

Deleted: mở đến lượng vốn khả dụng

của các NHTM còn rất hạn chế.ả

Deleted: + Dữ các tồn tại đòi hỏi phải

có những định hướng cơ bản và các giải pháp phù hợp có hiệu quả ở Việt Nam

Deleted:

Ngày đăng: 23/07/2014, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm