1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp thúc đẩy ibs trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh

53 380 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 336,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực tập tại Công ty chứng khoán ngân hàng công thươngIBS tôi quyết định lựa chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy IBS trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh” làm chuyên

Trang 1

Phần mở đầu

1.Tính cấp thiết của đề tài.

Từ thời trung cổ khi mỗi quốc gia lúc đó đều có một đồng tiền riêng của quốc gia mình, và đồng tiền này chỉ được giao dịch trong biên giới của quốc gia đó và nó trở lên không có giá trị đối các quốc gia còn lại Chính điều này bắt buộc các thương nhân khi vận chuyển hàng hoá từ quốc gia này sang bán ở quốc gia khác, sau khi bán xong hàng tại quốc gia đó thì tiến hành các hoạt động đổi đồng tiền của nước sở tại trở thành

đồng tiền quốc gia mình rồi mới mang về nước Để đáp ứng nhu cầu này xuất hiện một đối tượng đứng ra thực hiện việc trao đổi giữa các đồng tiền các quốc gia với nhau Đối tượng này là hình thức sơ khai của các trung gian tài chính Cùng sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt sự ra

đời và phát triển của thị trường chứng khoán thuật ngữ “ nhà tạo lập thị trường”(Market maker) đã ra đời, tuy nhiên về bản chất vẫn giữ nguyên vai trò là một trung gian tài chính, đó là thực hiện việc kết nối giữa người

có nhu cầu mua với người có nhu cầu bán một loại hàng hoá nào đó

Trên thị trường chứng khoán(TTCK) đặc biệt là tại các thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ, Anh vai trò của nhà tạo lập thị trường là rất quan trọng Các nhà tạo lập thị trường tại đây có nghĩa vụ đảm bảo cho chứng khoán mà họ đăng ký tạo lập luôn thanh khoản Đề đảm bảo nhiệm

vụ này họ có thể đứng ra thực hiện kết nối giữa người có nhu cầu mua với người có nhu cầu bán loại chứng khoán đó với nhau Ngoài ra họ đảm bảo bằng việc thực hiện liên tục việc mua-bán loại chứng khoán bằng chính tài khoản của mình trên cơ sở yết giá liên tục các mức giá họ sẵn sàng mua-và sẵn sàng bán Chính vai trò này góp phần làm cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn Đối với TTCK Việt Nam đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 với sự ra đời của trung tâm giao dịch chứng khoán tphố Hồ Chí Minh Tuy trải qua hơn 5 năm hoạt động nhưng TTCK chưa thực sự trở thành một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế Điều đó thể hiện số lượng chứng khoán niêm yết còn ít(35 công ty niêm yết và 1 quỹ

đầu tư), chưa thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Nguyên nhân giải thích cho hạn chế này đó là tính thanh khoản của chứng khoán chưa cao Khi chứng khoán có tính thanh khoản cao thì nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi nó thành tiền với chi phí thấp, do đó tính thanh khoản không cao điều đó có nghĩa chi phí chuyển thành tiền cao, điều đó làm mức hấp dẫn việc đầu tư trở lên kém hơn Trước thực trạng như thế và sau thời gian

Trang 2

thực tập tại Công ty chứng khoán ngân hàng công thương(IBS) tôi quyết

định lựa chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy IBS trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình, với hi vọng qua đề tài tôi có thể đưa ra khuyến nghị góp phần thúc

đẩy TTCK Việt nam phát triển

2.Mục đích nghiên cứu.

2.1 Đề tài nghiên cứu vấn đề mang tính lý luận về nhà tạo lập thị trường trong mối quan hệ với các đối tượng đó là các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại

2.2 Trên cơ sở thực tiễn của hoạt động tự doanh phát hành của IBS đối chiếu lý luận, đưa ra kiến nghị đối IBS phát triển hoạt động tự doanh để trở thành nhà tạo lập thị trường

1 Kết cấu của chuyên đề.

Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những cơ sở lý thuyết về nhà tạo lập thị trường.

Chương 2: Thực trạng hoạt động tự doanh của IBS.

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy IBS trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh.

Chương 1: Những cơ sở lý thuyết về nhà tạo lập thị trường

1.1 Khái niệm công ty chứng khoán(CTCK)

Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian thực hiện các nghiệp

vụ trên thị trường chứng khoán

Trang 3

năng: chủ thể kinh doanh chứng khoán, chủ thể kinh doanh tiền tệ và kinh doanh bảo hiểm Mô hình này có 2 hình thức sau:

- Loại đa năng một phần: đối loại hình này ngân hàng nếu muốn kinh doanh chứng khoán hay bảo hiểm thì phải thành lập công ty con hạch toán

độc lập và kinh doanh độc lập với công ty mẹ.Mô hình này áp dụng rộng rãi ở Anh

- Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được phép kinh doanh hỗn hợp: kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm

và các dịch vụ khác mà không cần lập công ty con Mô hình này thông dụng ở Đức

Giữa 2 loại mô hình trên thì mô hình đa năng toàn phần có ưu điểm đó là kết hợp của nhiều lĩnh vực kinh doanh do đó giảm bớt rủi ro trong hoạt

động đầu tư do ưu thế của danh mục đầu tư Ngoài ra mô hình này do có nhiều ưu thế về vốn cho nên khả năng chống chịu trước sự biến động tài chính cũng cao hơn hẳn so với mô hình đa năng 1 phần Bên cạnh đó ngân hàng tận dụng những lợi thế về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và hiểu biết

rõ về khách hàng cũng như đối với các doanh nghiệp khi họ cung cấp tín dụng và tài trợ dự án

Tuy nhiên mô hình này có những hạn chế nhất định Đó là sự không tách biệt giữa các hoạt động Do đó có khả năng ngân hàng sử dụng các nguồn huy động được từ dân chúng để đầu tư chứng khoán, khi thị trường chứng khoán diễn biến xấu khiến nhà đầu tư rút tiền hàng loạt, và kết quả dẫn sụp đổ dây chuyền của hệ thống ngân hàng.Sự khủng hoảng tài chính 1929-1933 là minh chứng cho hạn chế đó.Thứ 2 do không tách biệt giữa các nghiệp vụ ngân hàng có thể lũng đoạn thị trường tài chính, ảnh hưởng quyền lợi của nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra do vừa là tổ chức tín dụng vừa là

tổ chức kinh doanh chứng khoán, cho nên khả năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh Điều này làm cho thị trường kém phát triển vì ngân hàng có xu hướng bảo thủ thích hoạt động cho vay hơn là các hoạt động trên thị trường chứng khoán: hoạt động tư vấn, hoạt động bảo lãnh, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục đầu tư

1.2.2 Mô hình CTCK chuyên doanh

Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do một công ty

độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách Các công ty thường lấy tên hoạt động đặt tên cho công ty của mình Các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán

Trang 4

Mô hình này có ưu điểm đó là tính chuyên môn hoá cao do đó làm rủi ro liên quan kinh doanh chứng khoán Chính sự chuyên môn hoá này thúc

đẩy thị trường phát triển Mô hình này áp dụng rộng rãi ở các nước Nhật, Mỹ

Tuy nhiên với xu thế hình thành các tập đoàn tài chính khổng lồ hiện nay thì những hạn chế không cho phép ngân hàng tham gia kinh doanh chứng khoán đã dần được nới rộng Các ngân hàng vẫn được kinh doanh chứng khoán tuy nhiên phải thành lập công ty con hạch toán độc lập với ngân hàng mẹ

1.3 Các hoạt động của CTCK

1.3.1 Hoạt động môi giới: Môi giới là hoạt động trung gian hoặc đại diện cho khách hàng thực hiện giao dịch để hưởng hoa hồng Đối CTCK sẽ là người đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch trên sở giao dịch hoặc trên thị trường OTC và khách hàng sẽ là người chịu trách nhiệm đối kết quả giao dịch của mình

Thông qua môi giới khách hàng sẽ nhận được các sản phẩm hay dịch vụ từ phía công ty Đối một số trường hợp khách hàng còn nhận được cả lời tư vấn từ phía công ty.Do đó về hoạt động môi giới không chỉ là việc kết nối giữa người mua và người bán chứng khoán mà môi giới còn là người bạn, những người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời qua đó giúp nhà đầu tư có quyết định tỉnh táo

1.3.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành: CTCK sẽ giúp cho tổ chức phát hành thực hiện thành công đợt phát hành Qua đó CTCK sẽ tư vấn cho đợt phát hành, thực hiện bảo lãnh và phân phối ra công chúng.Tuỳ thuộc vào cam kết giữa tổ chức phát hành và CTCK mà có hình thức bảo lãnh sau

đây:

1.3.2.1 Bảo lãnh chắc chắn: với hình thức này CTCK sẽ mua lại toàn bộ

số lượng chứng khoán phát hành với mức giá chiết khấu Sau đó CTCK sẽ tiến hành phân phối lại số chứng khoán này cho nhà đầu tư

1.3.2.1 Bảo lãnh với nỗ lực tối đa: CTCK cam kết cố gắng giúp cho đợt phát hành thành công Tuy nhiên CTCK không cam kết chắc chắn đợt phát hành sẽ thành công

1.3.2.2 Bảo lãnh tất cả hoặc không: nếu khối lượng chứng khoán không

được chào bán hết thì đợt phát hành đó coi như bị huỷ

Trang 5

1.3.2.3 Bảo lãnh tối thiểu-tối đa: số lượng chứng khoán phát hành nếu không đạt một giới hạn đặt ra trước thì đợt phát hành coi như không thành công, và bị huỷ bỏ.

1.3.3 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư: Đây là hình thức CTCK quản

lý nguồn vốn uỷ thác của khách hàng.CTCK sau khi nhận được nguồn vốn sẽ tiến hành đầu tư theo một danh mục, và danh mục này được thiết

kế sau cho đảm bảo mục tiêu sinh lợi cho nhà đầu tư và bảo toàn vốn Với việc đầu tư theo danh mục CTCK đã giảm thiểu tối đa các rủi ro cho nhà

đầu tư Sau khi kết thúc hợp đồng giữa CTCK và nhà đầu tư thì CTCK sẽ nhận được phí do thực hiện quản lý danh mục đó trong thời gian thực hiện hợp đồng

1.3.4 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán: đây là hình thức CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến

đợt phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng

1.3.5 Hoạt động tự doanh: đây là việc công ty tự tiến hành kinh doanh cho bản thân mình Hoạt động tự doanh được tiến hành thông qua cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch và trên thị trường OTC.Tại các thị trường áp dụng theo cơ chế khớp giá(quote driven) thì hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường CTCK lúc này nắm giữ chứng khoán lớn và tiến hành giao dịch với các khách hàng hoặc với các đối tượng trung gian khác Các CTCK sẽ hưởng lợi nhuận chủ yếu là nhờ chênh lệch giữa giá chào mua và chào bán trên thị trường Hoạt động tự doanh hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới, vừa thực hiện giao dịch cho khách hàng lại vừa thực hiện cho bản thân mình, do đó trong quá trình hoạt động xảy ra các hiện tượng mâu thuẫn về lợi ích giữa CTCK và của khách hàng Để đảm bảo cho lợi ích khách hàng luật chứng khoán của các nước có qui định CTCK phải ưu tiên lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình.Thậm chí một số nước quy định tách biệt hoàn toàn 2 hoạt động môi giới và tự doanh chứng khoán Do sự tách biệt này

sẽ xuất hiện 2 loại hình CTCK là công ty môi giới chỉ làm chức năng môi giới chứng khoán và công ty tự doanh có chức năng tự doanh

1.4 Các khái niệm về nhà tạo lập thị trường

Đầu tiên chúng ta đề cập tới khái niệm của nhà tạo lập thị trường

Định nghĩa đầu tiên đưa ra trên trang web http://www.investopedia.com:" nhà tạo lập thị trường là một công ty môi giới-giao dịch chấp nhận rủi ro

Trang 6

do nắm giữ một khối lượng lớn chứng khoán nhất định (những chứng khoán này công ty đăng kí tạo lập thị trường), và thực hiện việc giao dịch liên tục đối với chứng khoán này thông qua việc công bố liên tục các giá mua và bán đối với loại chứng khoán đó trên thị trường.

Các nhà tạo lập thị trường sẽ cạnh tranh với nhau trên thị trường để giành lệnh đặt từ phía khách hàng (lệnh đặt này có thể là lệnh mua hoặc lệnh bán); thông qua hình thức cung cấp các lệnh chào bán (offer) hoặc lệnh chào mua (bid) với khối lượng nhất định của một loại chứng khoán

cụ thể nào đó Ngay khi nhận lệnh của khách hàng các nhà tạo lập thị trường (các nhà tạo lập) sẽ tiến hành các giao dịch bằng chính chứng khoán trong tài khoản của mình, hoặc họ tiến hành tìm kiếm nhà tạo lập thị trường khác để hoàn thiện giao dịch này- quá trình này diễn ra trong khoảng vài giây

Công ty môi giới-giao dịch là công ty đồng thời thực hiện cả

2 vai trò là: người môi giới, và thực hiện tự kinh doanh cho bản thân mình Đối vai trò thứ nhất, công ty sẽ đứng ra đại diện cho khách hàng vừa gửi lệnh đến thực hiện giao dịch Họ tìm kiếm các người bán hoặc người mua chứng khoán tốt nhất và thông báo danh sách người này cùng các mức giá tương ứng cho khách hàng của mình, sau mỗi giao dịch hoàn thành công ty sẽ được hưởng phần trăm (các khoản phí) trên giá trị chứng khoán giao dịch từ phía khách hàng do thực hiện thành công các giao dịch

đó Đối với vai trò thứ 2, công ty sẽ tiến hành mua bán chứng khoán bằng chính tài khoản của mình Điều đó có nghĩa công ty cũng tự chịu với những rủi ro, những lợi nhuận do việc mua- bán chứng khoán đó đem lại.Khái niệm thứ 2 về nhà tạo lập thị trường đưa

www.nasdaqtrader.com: "nhà tạo lập thị trường là một tổ chức thành viên của NASD Họ sẵn sàng mua hoặc bán chứng khoán tại các mức giá yết trên NASDAQ bằng tài khoản của bản thân hoặc cho tài khoản của khách hàng”

1.5 Vai trò của nhà tạo lập thị trường(MM)

Trên thị trường chứng khoán các MM có vai trò quan trọng làm tăng tính thanh khoản của các chứng khoán mà họ thực hiện tạo lập thị trường

Điều này được thể hiện ở sự cam kết của họ tiến hành giao dịch chứng khoán nhất định tại những thời điểm chứng khoán này gặp khó khăn trong giao dịch hay tính thanh khoản của chứng khoán này thấp Trên cơ sở việc yết giá mua và giá bán đối loại chứng khoán đó thường xuyên trên thị

Trang 7

trường, khi có lệnh đối ứng phù hợp với các mức giá mà MM niêm yết, họ sẵn sàng thực hiện giao dịch bằng cách mua hoặc bán đối với chứng khoán đó Một đặc điểm của MM đảm bảo cho giao dịch hoàn tất đó là các MM luôn nắm giữ một khối lượng lớn các chứng khoán mà họ tạo lập thị trường Thông qua việc mua-bán các chứng khoán tính thanh khoản của chứng khoán do đó mà tăng lên, giúp cho chứng khoán đó tránh tính trạng “thừa cung” hoặc “thừa cầu” đối chứng khoán đó khi trên thị trường chưa xuất hiện MM.

Bên cạnh việc làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán, nó còn thúc đẩy thị trường hoạt động hiệu quả hơn Như chúng ta đều biết để

đánh giá một thị trường hoạt động có hiệu quả hay không thì một chỉ tiêu luôn được quan tâm đó là tính thanh khoản của thị trường đó Do đó với việc góp mặt của các nhiều các MM đối nhiều chứng khoán trên thị trường, tính thanh khoản của thị trường sẽ tăng lên, dẫn đến rủi ro nhà đầu tư đối mặt cũng giảm đi Hơn thế nữa việc MM tiến hành giao dịch giúp bình ổn thị trường thông qua việc tạo định hướng đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ trên thị trường, giúp tránh hậu quả do việc đầu tư theo cảm tính hoặc “theo bầy đàn” dẫn đến đối hoạt động của thị trường

đến như các chuyên gia thị trường(speacialist) Mỗi chuyên gia này có thể tạo lập thị trường cho hơn 1 chứng khoán Tuy nhiên mỗi chứng khoán chỉ

được 1 chuyên gia duy nhất tạo thị trường Nhà tạo lập thị trường trong hệ thống này thực hiện báo giá liên tục sau khi nhận các thông tin từ hệ thống ghi lệnh giới hạn và thông tin từ các nhà môi giới gửi lên Khi chứng khoán xác định giá sau khi khớp lệnh các chuyên gia tiến hành tìm kiếm đối tác để cuộc giao dịch tiến hành nhanh chóng Và họ sẽ kết nối người bán và người mua với nhau, và họ nhận khoản hoa hồng nếu tiến hành giao dịch thành công Các nhà tạo lập thị trường sẽ chỉ thực sự dùng tài khoản của mình để giao dịch khi họ nhận thấy dấu hiện kém thanh khoán đối với 1 loại chứng khoán mà họ nắm giữ; thể hiện ở lượng chứng

Trang 8

khoán bán ra ít hơn nhiều so với lượng mua vào, hoặc ngược lại lượng chứng khoán bán ra quá nhiều so lượng mua vào thì lúc này các chuyên gia đứng ra giao dịch loại chứng khoán đó bằng tài khoản của mình Các chuyên gia còn thực hiện giao dịch trong trường hợp để đảm bảo cho chi phí giao dịch duy trì sự ổn định và thấp hơn đối với thị trường tập trung khi không có nhà tạo lập thị trường Trên thị trường chứng khoán trước khi hoàn tất một giao dịch chứng khoán thì các nhà đầu tư phải tiến hành rất nhiều bước: thu thập thông tin, đánh giá thông tin để đưa ra các quyết

định mua hoặc bán Tất cả các chi phí này tính là các chi phí giao dịch, do

đó với một chứng khoán có tính thanh khoản cao thì chi phí giao dịch mà nhà đầu tư bỏ ra sẽ thấp hơn so với chứng khoán có tính thanh khoản thấp, vì lúc này để có thể ra quyết định chính xác nhà đầu tư bỏ nhiều chi phí

để có thông tin giúp mình có thể ra quyết định Mỗi chuyên gia không chỉ

là những cá nhân đơn lẻ, mà thường họ là đại diện cho cả một tổ chức-một tập đoàn tài chính, họ có trách nhiệm theo dõi một vài chứng khoán nhất

định, họ tự chịu trách nhiệm với những quyết định liên quan đến các chứng khoán này Vì thế mỗi chuyên gia được nhiều sự hỗ trợ của các bộ phận khác trong tập đoàn :bộ phận nghiên cứu phân tích, bộ phận tìm hiểu thị trường các bộ phận này sẽ cung cấp nhiều sản phẩm tài chính, các nghiên cứu, các điều tra thị trường do đó giúp cho các chuyên gia có thể

dễ dàng hơn đưa ra quyết định của mình Họ hoàn toàn dự đoán cung cầu của thị trường tập trung, nên họ hòan toàn có thể hạn chế rủi ro của mình bằng cách duy trì một thị trường công bằng Việc tạo lập thị trường trên thị trường phi tập trung (thị trường OTC), điển hình thị trường NASDAQ của Mỹ, thị trường này có điểm khác biệt đối vai trò của chuyên gia trên thị trường tập trung đó là: họ không ở tập trung một chỗ, thay vào đó họ

có thể liên lạc với nhau thông qua hệ thống điện tử từ bất kì một máy tính nào tại thị trường này có thể có nhiều nhà tạo lập cho cùng một loại chứng khoán Các nhà tạo lập thị trường này sẽ phải cạnh tranh với nhau thông qua cách đưa ra giá quyết chào mua-chào bán tốt nhất để giành được lệnh

đặt của khách hàng Sau khi nhận được lệnh của khách hàng họ tiến hành thủ tục giống như các chuyên gia trên thị trường NYSE Mỗi buổi chiều, các nhà tạo lập thị trường trên OTC sẽ gởi các báo gía nội bộ cho hội

đồng báo giá quốc gia để xuất bản Các báo giá này in trên giấy màu hồng

và thông thường được gọi là bảng màu hồng, nó có 6 đặc điểm như sau:

 Thể hiện riêng cho các chứng khoán trên OTC

Trang 9

 Đây chỉ là báo giá, không phải là các giá giao dịch thực sự.

 Là các báo giá giữa các nhà kinh doanh(không phải là các giao dịch chi tiết)

 Bảng màu hồng chỉ để tham khảo không phải là báo giá chắc chắn

 Với các chứng khoán trên hệ thống NASDAQ, ký hiệu NASDAQ sẽ xuất hiện bên phải sau tên của chứng khoán

 Ký hiệu “M” trước tên chứng khoán có nghĩa là chứng khoán đó có thể giao dịch bảo chứng

Mặc dù các báo giá màu hồng chỉ có ý nghĩa tham khảo, các nhà kinh doanh đưa ra báo giá phải sẵn sàng thực hiện giao dịch 100 cổ phiếu theo báo giá Bảng màu hồng do văn phòng báo giá quốc gia xuất bản hàng ngày và liệt kê tất cả các báo giá ngày hôm trước của những người tạo thị trường trên OTC Trên thị trường Nasdaq hiện này có khoảng hơn 500 tổ chức đóng vai trò như các nhà tạo lập thị trường liên tục đưa ra các mức giá chào mua-chào bán giúp cho thị trường hoạt động có hiệu quả

Thứ 2, phân loại theo hình thức: nhà tạo lập thị trường chính thức, và các nhà tạo lập thị trường phi chính thức Tiêu chí này sử dụng tại thị trường chứng khoán London (London Stocks Exchange-LSE) Đối nhà tạo lập thị trường chính thức, họ tạo lập thị trường cho nhiều chứng khoán (không chỉ các chứng khoán của công ty lớn, hoặc công ty có khối lượng giao dịch lớn) Họ có nghĩa vụ yết các giá chào mua-chào bán đối từng loại chứng khoán mà họ đăng kí tạo lập thị trường Thông qua hệ thống

điện tử (Stock Exchange Automated Quotation System) giá cả chứng khoán được xác định Sau đó, các nhà tạo lập thị trường này cùng với các nhà môi giới phải thực hiện hoàn tất quá trình giao dịch đối chứng khoán

đó Trên LSE, mỗi chứng khoán luôn luôn có ít nhất 2 nhà tạo lập thị trường Do sự cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường nên các khoảng chênh lệch giữa các mức giá đưa ra luôn đảm bảo: đem lại cho họ lợi nhuận nhưng đồng thời cũng phải sự cạnh tranh đối nhà tạo lập khác-vì khách hàng luôn chọn mức giá cho mình, cho nên nếu sự chênh lệch quá lớn thì họ không lựa chọn mức giá mà mình yết, kết quả mình không tiến hành các giao dịch với khách hàng Còn đối với nhà tạo lập thị trường phi

Trang 10

chính thức, họ tự do trong việc có thực hiện các lệnh của thị trường đối chứng khoán họ nắm giữ, và họ không có nghĩa vụ công bố các giá chào mua-chào bán đối chứng khoán của họ, điều này giúp họ không phải đối mặt rủi ro do phải thực hiện giao dịch với giá đã yết và vì thế họ không

có ưu thế gì so với đối tác quan hệ với họ

Tiêu chí thứ 3 là căn cứ vào đối tượng trở thành MM mà người ta chia ra: CTCK, các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm

và các tổ chức tài chính do giới hạn của đề tài phần dưới đây chỉ đề cập tới 2 đối tượng chủ yếu đó là: CTCK và các ngân hàng thương mại

Đối tượng thứ 1 là CTCK, đối công ty chứng khoán họ được biết như là tổ chức trung gian đầu tư Thông qua các nghiệp vụ của mình: nghiệp vụ môi giới, tự doanh, quản lí danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành họ thu hút các nguồn vốn từ các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư Điều thuận lợi đối với các công ty chứng khoán là các nghiệp vụ trên đều khá gắn bó với hoạt động tạo lập thị trường Cụ thể:

Đối với hoạt động môi giới các công ty chứng khoán tiến tư vấn và giới thiệu cho khách hàng biết về lợi ích của hoạt động tài chính, giúp khách hàng thấy được cơ hội do đầu tư các sản phẩm tài chính đem lại Các nhà môi giới sẽ giúp khách hàng xác định mục tiêu tài chính của mình Trên cơ sở những mục tiêu đó các nhà môi giới sẽ giúp khách hàng thiết lập một danh mục chứng khoán tối ưu, danh mục này sẽ giúp khách hàng thực hiện tốt nhất mục tiêu của mình Các nhà môi giới sẽ là đại diện cho khách hàng của mình thực hiện mua-bán các loại chứng khoán và hưởng phí hoa hồng do thực hiện nghiệp vụ đó

Đối với hoạt động tự doanh - đây là yếu tố quyết định khiến cho công ty chứng khoán có thể trở thành nhà tạo lập thị trường Họ người trực tiếp kinh doanh bằng chính tài khoản chứng khoán của mình Lợi nhuận mà họ nhận được trực tiếp từ hoạt động mua bán chứng khoán

đem lại Mỗi giao dịch chứng khoán của công ty thường có khối lượng lớn

do đó chính giao dịch này gián tiếp làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán đó trên thị trường

Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chính hoạt động này yêu cầu công ty chứng khoán phải biết cân nhắc rủi ro - lợi nhuận của từng chứng khoán để từ đó xác định là phải nắm giữ chứng khoán nào, và khối lượng của từng chứng khoán là bao nhiêu Hoạt động quan hệ với

Trang 11

hoạt động tạo lập thị trường đó là nhà tạo lập phải tính toán xem dự trữ các chứng khoán trong tài khoản mình bao nhiêu.

Cuối cùng đó là hoạt động bảo lãnh, các công ty chứng khoán muốn tiến hành bảo lãnh thành công điều đầu tiên đó là xác định cung - cầu của thị trường, xác định khối lượng chứng khoán phát hành ra bao nhiêu thì đủ đáp ứng thị trường, đưa ra mức giá nào thì thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư Hoạt động liên quan việc yết giá của nhà tạo lập thị trường:ýêt giá mức nào, khối lượng bao nhiêu thì phù hợp

Bên cạnh có sự tương quan hoạt động của công ty chứng khoán với hoạt động tạo lập thị trường thì các công ty chứng khoán còn có những lợi thế trở thành nhà tạo lập thị trường, những lợi thế đó là:

Lợi thế thứ 1 do họ là trung gian đầu tư cho nên các thông tin

mà họ nắm giữ về thị trường, về các chứng khoán là lớn hơn nhiều so với chủ thể khác trên thị trường chứng khoán Họ có bộ phận riêng chuyên nghiên cứu, đánh giá các thông tin này Đây là cơ sở giúp cho các công ty chứng khoán có thể đưa ra quyết định chính xác

Lợi thế thứ 2, họ có đội ngũ cán bộ lành nghề, có kinh nghiệm khi đánh giá các chứng khoán, có thể dự kiến biến động thị trường

Lợi thế thứ 3, họ tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có để tiến hành giao dịch Các công ty chứng khoán thường có hệ thống cơ sở trang thiết bị hiện đại do đó rất thuận lợi khi họ trở thành nhà tạo lập thị trường

Đối tượng thứ 2 là ngân hàng thương mại,họ là đối tượng tiềm năng để trở thành nhà tạo lập thị trường Những lợi thế về nguồn vốn lớn của ngân hàng thương mại là tiêu chí đầu tiên đáp ứng đìêu kiện về vốn để trở thành nhà tạo lập thị trường Ngân hàng có cơ sở vật chất hiện đại, hệ thống đại lí phân phối lớn hỗ trợ cho việc phân phối chứng khoán Đặc biệt là mối quan hệ với khách hàng lâu năm của ngân hàng thương mại khiến cho ngân hàng có nguồn thông tin liên quan khách hàng đa dạng Cuối cùng là khả năng đa dạng hoá dang mục đầu tư giúp cho ngân hàng giảm thiểu rủi ro do đầu tư Trên thế giới các mô hình phát triển của ngân hàng thương mại bao gồm: ngân hàng đơn năng, ngân hàng đa năng hoàn toàn, ngân hàng đa năng một phần Trong mô hình ngân hàng đơn năng ngân hàng tập trung vào một nghiệp vụ duy nhất, các ngân hàng loại này thường khó trở thành nhà tạo lập thị trường; còn 2 mô hình sau (ngân hàng đa năng một phần, ngân hàng đa năng hoàn toàn) thì có lợi thế hơn hẳn so ngân hàng đơn năng Các dịch vụ tài chính cho 2 mô hình sau sẽ

Trang 12

đa dạng hơn tạo một giỏ nhiều hàng hoá Điều này không chỉ thuận tiện cho khách hàng, mà nó giúp ngân hàng tránh rủi ro Đối 2 mô hình đa năng một phần, đa năng hoàn toàn họ thực hiện việc kinh doanh chứng khoán Do đó hoạt động này làm cơ sở thuận tiện cho ngân hàng thương mại trở thành nhà tạo lập thị trường Hiện nay việc nắm giữ và giao dịch chủ yếu trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc chủ yếu là do các ngân hàng thương mại Một phần trái phiếu này tính thanh khoản cao do đó ngân hàng thường dùng đó như một khoản dự trữ thứ cấp trong danh mục tài sản của mình, trong trường hợp khẩn cấp cần thanh toán ngay họ có thể đem chiết khấu đối ngân hàng trung ương Do đó, ngân hàng thương mại dễ dàng trở thành nhà tạo lập thị trường cho trái phiếu chính phủ.1.7 Những lợi ích-bất lợi khi trở thành nhà tạo lập thị trường(MM).

$65.30 Nếu nhà tạo lập thị trường sau khi tiến hành giao dịch trên vai trò của người mua MSFT với giá $65.25 và bán lại MFST ngay sau đó với giá

$65.30 thì họ hưởng phần chênh lệch đối với mỗi cổ phiếu MFST sẽ là

$0.05(=$65.30-$65.25), tuy nhiên có một qui định đó là nhà tạo lập thị trường khi tiến hành giao dịch thì khối lượng chứng khoán phải đạt mức tối thiểu là 1000 chứng khoán (đối thị trường Mĩ) Do đó kết quả mà nhà tạo lập thị trường nhận được sau tiến hành 2 giao dịch mua và bán tại cùng thời điểm đối với cổ phiếu MSFT trên là $40 (=1000*$0.04) Thực

tế phần lợi ích không hoàn toàn như trong ví dụ, đơn giản vì nhà tạo lập khi mua và bán đối với chứng khoán có thời điểm, khối lượng chứng khoán là hoàn toàn khác nhau, do đó mà phần lợi ích thu được sẽ lớn hơn rất nhiều so với phần lợi ích đã được đơn giản hoá trong phần ví dụ trên Tuy nhiên đây là 1 yếu tố dẫn đến những rủi ro chính mà nhà tạo lập thị

Trang 13

trường phải gánh chịu: đó là sự khác nhau giữa thời điểm mua và bán chứng khoán Do thời điểm mua và bán chứng khoán thường không cùng diễn ra, do đó họ chịu rủi ro do nắm giữ chứng khoán điều này thể hiện: nếu nhà tạo lập thị trường tiến hành 2 giao dịch trên đối MSFT (giao dịch mua-giao dịch bán) càng nhanh thì phần lợi tức thu được sẽ càng giống như lợi ích tính toán Còn như ngược lại, thời điểm của mua và bán MSFT càng xa nhau điều đó đồng nghĩa họ gặp rủi ro do nắm giữ chứng khoán MSFT, mức độ rủi ro này tuỳ thuộc mức độ biến động giá trên thị trường Phần lợi ích thu được từ hoạt động giao dịch có thể là phần phí hay “phần hoa hồng” do nhà tạo lập thị trường thực hiện hoạt động môi giới cho khách hàng Khi họ nhận lệnh từ phía khách hàng, nhưng họ không có đủ chứng khoán để thực hiện giao dịch, thì lúc này họ sẽ đại diện cho khách hàng của mình(đóng vai trò là nhà môi giới) để tiến hành kết nối các MM hoặc các nhà môi giới khác có chứng khoán khách hàng yêu cầu để thực hiện giao dịch Sau khi hoàn tất các giao dịch, họ sẽ nhận được khoản hoa hồng do thực hiện thành công giao dịch đó Hoạt động môi giới thể hiện khá rõ nét đối các nhà tạo lập thị trường trên thị trường tập trung, và thể hiện không rõ ràng đối nhà tạo lập trên thị trường OTC.

Lợi ích thứ 2 do họ nắm giữ chứng khoán lớn, bản thân họ nhận các khoản thu nhập do chính tài sản họ nắm giữ đem lại Phần thưởng này

là cổ tức từ các cổ phiếu, đây là nguồn thu nhập lớn được các công ty niêm yết chi trả thường xuyên 6 tháng 1 lần Thu nhập thứ 2 là thu nhập

do giá cả chứng khoán thay đổi(capital gains), đây chính là phần lợi nhuận có được do chênh lệch giữa mức giá mua và giá bán Bên cạnh đó với việc nắm giữ khối lượng chứng khoán lớn họ có thể tham gia vào hội

đồng quản trị, tham gia điều khiển hoạt động của các công ty, đây chính

là cơ sở giúp cho hoạt động thâu tóm sát nhập với các công ty khác một cách dễ dàng Đây là những lợi ích lớn mà các nhà tạo lập ở các nước phát triển rất quan tâm

Lợi ích thứ 3 mà nhà tạo lập thị trường có được là những hỗ trợ của nhà nước đối chức năng tạo lập thị trường Do thực hiện chức năng tạo thị trường cho các chứng khoán được coi “kém hiệu quả” trên thị trường ,qua đó các nhà tạo lập thị trường đã gián tiếp giúp cho thị trường hoạt

động một cách hiệu quả Để bù đắp cho những rủi ro mà họ phải đối mặt nhà nước luôn có chính sách hỗ trợ đối các đối tượng này Sự hỗ trợ này

được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 14

Sự hỗ trợ này có thể là ưu đãi mang tính đảm bảo của chính phủ giúp cho các nhà tạo lập thị trường có thể vay vốn lớn với lãi suất thấp, hoặc là sự giúp đỡ trực tiếp thông qua các chính sách của chính phủ nhằm bảo hộ một số quyền lợi đặc biệt của các nhà tạo lập thị trường.

Lợi ích thứ 4 đó là nhà tạo lập thị trường trong một số trường hợp được tiếp cận nguồn thông tin đa dạng (nguồn thông tin này thường rất ít người có khả năng tiếp cận)- nguồn thông tin này sẽ giúp các nhà tạo lập thị trường có thể đưa ra phán đoán chính xác xu thế của thị trường dẫn

đến đưa ra các quyết định của mình một cách chính xác như quyết định

điều chỉnh giá chào bán-chào mua, khối lượng chứng khoán dự trữ trong tài khoản của mình, điều chỉnh lượng chứng khoán chào bán làm sao giúp cho nhà tạo lập hạn chế được rủi ro

 Phần bất lợi

Thứ nhất, phần bất lợi mà các nhà tạo lập phải đối mặt đó là nghĩa

vụ phải tiến hành giao dịch khi trên thị trường đối chứng khoán mà họ làm nhà tạo lập có dấu hiệu kém thanh khoản Đây chính là mâu thuẫn

đối bản chất của hoạt động tự doanh, vì đối hoạt động tự doanh thì mục tiêu là lợi nhuận tuy nhiên khi thị trường có dấu hiệu kém thanh khoản, họ phải từ bỏ mục tiêu lợi nhuận của mình để thực hiện giao dịch qua đó giúp cho thị trường nhanh chóng trở lại trạng thái ổn định

Thứ 2, do chính các nhà tạo lập chỉ là cá thể tham gia thị trường cho nên bản thân nhà tạo lập cũng chịu rủi ro do quyết định mình đem lại, vì vậy chỉ 1 quyết định không chính xác cũng dẫn đến sự tổn hại lớn

đối nhà tạo lập thị trường

Cuối cùng, đối lợi ích do tiếp cận nguồn thông tin "không công bố rộng rãi" đề cập trên Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thông tin mà họ tiếp cận thì không quá nhiều so thông tin công bố thị trường, đặc biệt trường hợp xuất hiện giao dịch nội gián đối chứng khoán của nhà tạo lập thị trường, những người có thông tin nội bộ sẽ có nhiều thông tin hơn đối nhà tạo lập thị trường, do đó bản thân các nhà tạo lập cũng trở thành nạn nhân thiếu thông tin trên thị trường

1.8 Các điều kiện trở thành MM

Mỗi quốc gia có đìêu kiện kinh tế- xã hội là khác nhau, qui mô của TTCK khác nhau do đó dẫn đến là điều kiện đưa ra từng nước để trở thành nhà tạo lập thị trường cũng khác nhau Do đó phần dưới đây chỉ đề cập

điều kiện tại thị trường chứng khoán Mỹ

Trang 15

Điều kiện thứ 1, nhà tạo lập thị trường được phép giao dịch (market maker authorized trader-MMAD) phải là viên chức, cổ đông, ông chủ, hoặc những người quan hệ với các nhà tạo lập thị trường, họ đáp ứng

đầy đủ các phẩm chất để thực hiện các hoạt động tạo lập thị trường, bên cạnh đó họ được đào tạo và có chứng chỉ về sử dụng thiết bị ArcaExR (đây

là hệ thống điện tử cho phép các nhà tạo lập thị trường tiến hành các hoạt

động niêm yết giá, và thực hiện liên quan khác liên quan giao dịch) Để một cá nhân có đủ tư cách để đăng kí, người có được yêu cầu:

 Trải qua cuộc kiểm tra trở thành người đại diện kinh

doanh chứng khoán

 Hoàn thành khoá đào tạo và chứng chỉ kèm theo

Cuộc thi kiểm tra đề cập trên có thể được bỏ qua đối với những thí sinh đã từng là nhà kinh doanh chứng khoán/ nhà phân tích trên thị trường được chứng nhận bởi sở giao dịch, hoặc hiệp hội chứng khoán trong 2 năm liên tiếp Thêm vào đó nhà tạo lập thị trường được yêu cầu sử dụng phần mềm Realtick để thực hiện chức năng nhà tạo lập thị trường và

có thể trực tiếp nhận lệnh từ phía khách hàng Đây coi là điều kiện qui

định về cơ sở vật chất đối với các nhà tạo lập thị trường

Dưới đây trình bầy một số nghĩa vụ của nhà tạo lập thị trường:

 Duy trì liên tục chế độ yết giá 2 chiều đối chứng khoán

mà mình đăng kí tạo lập trong suốt thời gian giao dịch (từ sáng 9h-chiều 4h)

 Duy trì vốn tối thiểu đối với yêu cầu của PCXE(Pacific Equities, Inc-tổ chức đưa quyết định có được trở thành nhà tạo lập hay không)

 Các giao dịch thông qua hệ thống giao dịch rõ ràng và minh bạch Yêu cầu này áp dụng đối các bên trực tiếp tham gia

 Bảo đảm báo giá của mình hợp lý trong mối quan hệ với thị trường hiện tại của chứng khoán đó

 Tuân thủ giới hạn chênh lệch giá tối đa cho phép

 Báo cáo dữ liệu giao dịch hàng tháng và các thông tin yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền

Trang 16

 Báo cáo khối lượng giao dịch hàng ngày của loại chứng khoán mà mình chịu trách nhiệm tạo thị trường.

Điều kiện thứ 2 về vốn đối với nhà tạo lập thị trường Các nhà tạo lập thị trường có vốn tối thiểu:

Bên cạnh về qui định vốn tối thiểu của vốn chủ sở hữu qui định chi tiết trình bày ở trên, các nhà tạo lập thị trường đã đăng kí và được cung cấp dịch vụ bởi Pacific Clearing Corporation phải buộc duy trì tính thanh khoản của tài sản cụ thể:

1 $250,000, cộng thêm $2,500 đối với mỗi chứng khoán vượt qua số lượng 50, các nhà tạo lập thị trường được phép đăng kí giao dịch nhưng không vượt quá $2,000,000 nếu không qui định bởi điều khoản 2

2 Khối lượng giao dịch bằng 25% tổng giá trị thị trường giao dịch đối những chứng khoán được nhà tạo lập đăng kí

Khai trừ người tạo thị trường: những người tạo thị trường có thể

bị cấm đưa ra các báo giá trên hệ thống, nếu họ:

 Gặp tình trạng tài chính hay tình hình hoạt động khó khăn đến độ có thể gây hại cho các nhà đầu tư

 Bị đình chỉ hay khai trừ tư cách thành viên của NASD hay thành viên của một Sở giao dịch quốc gia

1.9 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động MM

1.9.1 Nhân tố bên trong

Cũng như mọi đối tượng khác trên thị trường chứng khoán, các nhà tạo lập thị trường cũng phải chịu nhiều tác động từ phía môi trường xung

Trang 17

quanh Phần dưới đây sẽ trình bày về các nhân tố tác động đến hoạt động của các nhà tạo lập thị trường:

Nhân tố thứ 1 là các yếu tố về nội tại của bản thân nhà tạo lập thị trường bao gồm: khả năng tài chính, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng phân tích nhu cầu thị trường, cuối cùng là khả năng sử dụng các công cụ phòng vệ Điều kiện đầu tiên để trở thành nhà tạo lập thị trường

đó là họ có nguồn tài chính đủ lớn, đủ để nắm giữ một khối lượng lớn các chứng khoán Trong cơ cấu nguồn vốn của mình có một phần là nguồn vốn huy động từ bên ngoài -phần này tạo áp lực cho nhà tạo lập thị trường vì phải chịu "chi phí vốn" Một rủi ro mà nhà tạo lập thị trường phải đối mặt là những rủi ro vỡ nợ của tổ chức phát hành chứng khoán (những chứng khoán nhà tạo lập đăng kí tạo lập thị trường) Chính rủi ro này đòi hỏi các nhà tạo lập thị trường phải có khả năng nắm bắt thông tin, đánh giá chất lượng thông tin đó Trên cơ sở thông tin thu thập được sẽ tiến hành nghiêncứu qua đó đưa ra các đánh giá-dự đoán tình hình diễn biến của thị trường Có dự đoán đúng thị trường thì có thể giúp nhà tạo lập tiến hành xác định chính xác nên nắm giữ bao nhiêu chứng khoán, cơ cấu các chứng khoán trong toàn bộ tài khoản nhà tạo lập thị trường như thế nào là hợp lí Một yếu tố nội tại quan trọng đó chính là trình độ nguồn nhân lực, yếu tố liên quan cơ sở hạ tầng Biến động của thị trường chứng khoán là phức tạp do đó để đánh giá nó cần có đội ngũ cán bộ lành nghề và có kinh nghiệm, thêm vào đó cần có cơ sở trang thiết bị hiện đại để có thể liên tục cập nhật thông tin biến động của thị trường Cuối cùng yếu tố quyết định

sự thành công của nhà tạo lập thị trường đó chính là khả năng các công cụ phái sinh Các công cụ phái sinh được các nhà tạo lập thị trường biết đến như công cụ sinh lợi, đồng thời là công cụ đề phòng rủi ro Bên cạnh những lợi ích đối nhà tạo lập thị trường nó còn giúp cho nhu cầu khách hàng đáp ứng tốt hơn thông qua kĩ thuật xử lý kì hạn của nhà tạo lập thị trường

1.9.2 Nhân tố bên ngoài(các yếu tố khách quan)

Các yếu tố bên ngoài chia 2 loại: yếu tố vĩ mô, các yếu tố vi mô

Yếu tố vĩ mô ở đây đó chính là hệ thống luật pháp, sự tác

động của thị trường chứng khoán thế giới-khu vực, tác động của nền kinh tế�

Yếu tố đầu tiên đề cập đó là hệ thống luật pháp, thông qua

hệ thống luật pháp nhà nước sẽ tiến hành điều chỉnh hoạt động của các

Trang 18

nhà tạo lập thị trường Như phần trên đề cập các nhà tạo lập thị trường do nắm giữ chứng khoán lớn, do đó có nhiều khả năng thôn tính thị trường,

điều này không có lợi cho sự phát triển của thị trường Do đó thông qua sự

điều chỉnh luật pháp chỉ cho phép những đối tượng nhất định trở thành nhà tạo lập thị trường

Yếu tố thứ 2, đó là yếu tố tác động của thị trường chứng khoán quốc tế-trong khu vực Với xu hướng quốc tế hoá hiện nay thị trường chứng khoán mỗi nước không chỉ đóng vai trò trong gianh giới quốc gia nước đó, mà thể hiện mối quan hệ với các quốc gia khác Thể hiện rõ nét nhất đó là sự niêm yết chéo của chứng khoán trong nước trên thị trường chứng khoán nước ngoài, sự kết nối thông tin giữa các trung tâm chứng khoán lớn trên thế giới Mối quan hệ giữa các thị trường chứng khoán các quốc gia ngày càng khăng khít, do đó mối quan hệ này thể hiện

ở sự tác động dây chuyền giữa các quốc gia, bất kì sự biến động nào của thị trường chứng khoán nước nào kéo theo sự tác động đến thị trường nước khác, các nhà tạo lập thị trường là chủ thể trong thị trường đó hiển nhiên không tránh khỏi những tác động này

Yếu tố vĩ mô đề cập thứ 3 đó là tác động của nền kinh tế:những biến động như lãi suất, lạm phát đều tác động đến thị trường chứng khoán Đối chứng khoán dài hạn thì lãi suất luôn là kẻ thù số một,

do đó sự tăng lên -giảm đi lãi suất tác động nhà tạo lập thị trường trong việc đưa đến việc quyết định: có nên nắm giữ chứng khoán hay không, nếu nắm giữ thay đổi cơ cấu danh mục chứng khoán ra sao

Tiếp theo là các nhân tố mang tính vi mô tác động đến hoạt

động nhà tạo lập thị trường Các nhân tố này bao gồm: ảnh hưởng từ phía khách hàng, và sự cạnh tranh của các nhà tạo lập thị trường

Thứ 1 với khách hàng, họ là người quyết định đưa ra lựa chọn đối các mức giá của nhà tạo lập thị trường Do vậy nhà tạo lập nào

đưa ra mức ra tốt nhất thì họ sẽ lựa chọn nhà tạo lập đó Chính điều này gia tăng áp lực đối nhà tạo lập thị trường

Thứ 2 ảnh hưởng của sự cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường Đối các thị trường phát triển thì số lượng các nhà thị trường luôn

đảm bảo số lượng lớn, do đó sự cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường với nhau là rất gay gắt Ví dụ, trên thị trường LSE, có ít nhất 2 nhà tạo lập thị trường cho mỗi chứng khoán, điều đó buộc các nhà tạo lập "nỗ lực" để

có thể đưa ra mức giá tốt nhất của mình

Trang 19

Chương 2: Thực trạng về hoạt động tự doanh của IBS.

2.1 Giới thiệu về IBS

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty Chứng khoán ngân hàng Công thương(IBS)được thành lập theo quyết định số 126/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 01/09/2000 của Ngân hàng Công Thương Việt nam theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chủ sở hữu là Ngân hàng Công thương Việt Nam Công ty chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 16/11/2000

 Tên đầy đủ :Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam

 Tên giao dịch quốc tế: Incombank Securities Co, Ltd( viết tắt là IBS)

Trang 20

Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ :153 Hàm Nghi- Q1-Tp Hồ Chí Minh

đáng tin cậy của các nhà đầu tư trong nước Với phương châm

“sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạt của công ty” Chúng tôi lấy “nhiệt tình, trung thực, chuyên nghiệp và hiệu quả” là tôn chỉ phục vụ khách hàng

 Thế mạnh của IBS.

Là đơn vị thành viên của Ngân hàng Công thương Việt Nam, IBS ra đời nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính cao cấp và đa dạng hoá các dịch vụ của ngân hàng mẹ Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ được đào tạo trong nước và ngoài nước chuyên sâu về chứng khoán, đồng thời có nhiều kinh nghiệm hoạt động kinh doanh tài chính và ngân hàng Với hệ thống chi nhánh ngân hàng công thương tại 64 tỉnh thành trong cả nước, IBS không những tận dụng được mạng lưới khách hàng truyền thống của ngân hàng mẹ mà còn có khả năng cung cấp các dịch vụ của

Trang 21

mình tới khách hàng trong cả nước một cách tốt nhất Mặt khác, NHCTVN là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất Việt Nam do vậy IBS luôn có tiềm lực tài chính mạnh trên thị trường chứng khoán để thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà không phải bất kì công ty chứng khoán nào ở Việt Nam cũng có thể đáp ứng được.

 Trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên.

Đội ngũ cán bộ của IBS là những cán bộ năng động, có năng lực

và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, tín dụng, pháp luật, đầu tư, kinh doanh tiền tệ và được lựa chọn từ ngân hàng công thương Việt Nam Với quan điểm con người là điều kiện tiên quyết dẫn tới sự thành công và phát triển của công ty, IBS luôn chú trọng trong hoạt động đào tạo nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và làm hài lòng

đối tượng khách hàng Các cán bộ quản lí và kinh doanh của IBS

đều được trải qua các khoá đào tạo về chứng khoán cả trong và ngoài nước, các chuyến đi khảo sát thực tế thị trường chứng khoán các nước châu âu, châu á được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 2000-2004 nhằm giúp cho các cán bộ của IBS

có thêm nhìêu kinh nghiệm thực tế từ các nước có thị trường chứng khoán phát triển Cho đến nay, phần lớn các cán bộ của IBS đã trải qua các kì thi sát hạch và được cấp giấy phép hành nghề chứng khoán Các cán bộ quản lí và kinh doanh đều có bằng cử nhân chuyên ngành tài chính ngân hàng, chứng khoán

Trang 22

ban điều hành

Trong đó chức năng, nhiệm vụ của các phòng trụ sở chính của công ty

 Phòng tự doanh và bảo lãnh phát hành

oChức năng

 Kinh doanh chứng khoán

 Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

 Tự vấn phát hành

oNhiệm vụ

o Kinh doanh chứng khoán

 Nghiên cứu, phân tích thị trường nhằm đề xuất các phương án tự doanh chứng khoán

 Xây dựng mạng lưới khách hàng tiềm năng giao dịch tự doanh với công ty

doanh

phòng kế toán lưu kí

văn phòng

đại lý tại

đà nẵng đại lí tại cần thơ đại lý tại KCN biên

hoà

Trang 23

 Tổ chức thực hiện hoạt động tự doanh theo phương án và quy trình tự doanh của công ty.

 Nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới có liên quan

 Tổ chức thực hiện đại lý, bảo lãnh phát hành theo phương

 Môi giới mua bán chứng khoán

 Nghiên cứu, phân tích thị trường chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán

 Kế toán giao dịch và các dịch vụ hỗ trợ khách hàng

 Lưu ký chứng khoán

o Nhiệm vụ

 Nghiên cứu và phân tích

Trang 24

- Thu thập thông tin; theo dõi, phân tích thị trường chứng khoán; đưa ra các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.

- Cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán và các loại chứng khoán cho khách hàng và nội bộ công ty

- Tổ chức tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng

 Môi giới chứng khoán

- Trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng

- Cung cấp thông tin về tài khoản và thị trường chứng khoán cho khách hàng

- Quản lý các đầu mối nhận lệnh và phát triển dịch

vụ môi giới của công ty

- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa ra các sản phẩm mới có liên quan đến hoạt động môi giới

 Kế toán và dịch vụ hỗ trợ khác

- Tổ chức kế toán giao dịch, hạch toán và quản lý tài khoản tiền gửi, chứng khoán lưu ký của khách hàng

- Lưu ký và tái lưu ký chứng khoán cho khách hàng

- Thực hiện dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư chứng khoán liên quan đến hoạt động môi giới và lưu ký chứng khoán

Trang 25

- Đơn vị đầu mối và tham mưu quản lý hoạt động nghiệp vụ môi giới trong toàn công ty.

 Phát triển các sản phẩm quản lý danh mục đầu tư

 Tiếp thị, tìm kiếm khách hàng sử dụng dịch vụ quản lý danh mục đầu tư

 Thực hiện đầu tư theo uỷ thác của khách hàng

 Theo dõi hạch toán, phân bổ giao dịch cho tài khoản uỷ thác của từng khách hàng riêng biệt, thực hiện báo cáo thông tin về tài khoản cho khách hàng

o Các nhiệm vụ khác

 Xây dựng, nghiên cứu, đề xuất, cải tiến các quy trình nghiệp vụ liên quan

 Thực hiện công tác phân tích và báo cáo hoạt động nghiệp

vụ quản lý danh mục đầu tư

 Đơn vị đầu mối và tham mưu quản lý hoạt động nghiệp

vụ quản lý danh mục đầu tư trong toàn công ty

Trang 26

- Lập kế hoạch tài chính năm, quý và giám sát thực hiện kế hoạch được duyệt.

- Giám sát về mặt về mặt tài chính trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch mua sắm tài sản, quản

lý trang thiết bị, tài sản của công ty

- Tham mưu về các vấn đề phân phối lợi nhuận, sử dụng các quỹ, thu chi tài chính

- Tham mưu về xây dựng đơn giá tiền lương, thanh toán tiền lương, thưởng

- Quản lý an toàn két tiền mặt của công ty

 Công tác báo cáo, kiểm tra, kiểm soát

- Lập báo cáo tài sản có và tổng hợp báo cáo toàn công ty theo quy định

- Định kỳ hoặc đột xuất tiến hành kiểm tra công tác

kế toán tài chính chi nhánh để kịp thời phát hiện sai sót và có biện pháp khắc phục và xử lý

o Các nhiệm vụ khác

 Xây dựng, nghiên cứu, đề xuất, cải tiến các quy chế quy trình nghiệp vụ liên quan

 Thực hiện công tác phân tích và báo cáo hoạt động nghiệp

vụ kiểm toán tài chính

 Đơn vị đầu mối và tham mưu quản lý hoạt động nghiệp

vụ kế toán tài chính trong toàn công ty

 Các công việc khác

 Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ

Chức năng nhiệm vụ theo quyết định số38/QĐ-NHCT ngày 18/12/2001 của chủ tịch công ty về quy chế tổ chức và hoạt động của phòng kiểm soát nội bộ công ty chứng khoán công thương

Ngày đăng: 23/07/2014, 09:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình thị trường chứng khoán-Trường đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thị trường chứng khoán
Nhà XB: Trường đại học kinh tế quốc dân
1. Hệ thống các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán-Bộ tài chính và Uỷ ban chứng khoán nhà nước Khác
3. Giáo trình phân tích và đầu tư chứng khoán-Uỷ ban chứng khoán trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán Khác
4. Nghề môi giới chứng khoán-Ts Trần Thị Thái Hà Khác
5. Tạp chí chứng khoán Việt Nam Khác
6. Báo đầu tư chứng khoán Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng doanh thu từng hoạt động trong năm 2 năm 2004-2005. - giải pháp thúc đẩy ibs trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh
Bảng doanh thu từng hoạt động trong năm 2 năm 2004-2005 (Trang 32)
Bảng cơ cấu thu nhập của phòng tự doanh 2 năm 2004-2005. - giải pháp thúc đẩy ibs trở thành nhà tạo lập thị trường thông qua hoạt động tự doanh
Bảng c ơ cấu thu nhập của phòng tự doanh 2 năm 2004-2005 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w