Các tình huống ở Alaska v Texas vừa nói tới ở trên thể hiện hai trờng hợp thái cực, trong đó những khu vực rộng lớn bị bao phủ bởi một khối khí có nhiệt độ v độ ẩm ít nhiều đồng nhất.
Trang 1Chơng 9 các khối khí v front
Không một ai nghĩ sẽ có những mùa đông ấm áp ở Alaska, nhng đôi khi điều kiện thời tiết ở đây khắc nghiệt hơn cả thông thờng Điều ny đặc biệt đúng đối với những ngy cuối tháng 1 v đầu tháng 2 năm 1999, khi đó một thời kỳ lạnh cực
đoan kéo di đã gây nên một đợt rét đột ngột tồi tệ nhất trong cả thập kỷ Galena, nằm ở phần phía bắc của bang, đã phá kỷ lục về nhiệt độ tối thấp khi số đo nhiệt kế tụt xuống tới -53 oC (-64 oF) trong tháng 2 Tình hình khắc nghiệt đến nỗi chính quyền thnh phố phải chính thức ngừng mọi hoạt động, ngoại trừ các dịch vụ khẩn cấp Nếu nh vậy cha đủ lạnh, hãy xem chỉ số lạnh do gió -75 oC (-103 oF) ở Kotzebue, gần bờ phía tây bắc Tình trạng cũng không mấy dễ chịu ở Fairbanks,
vo ngy 15 tháng 2 nhiệt độ tối thấp đã tụt xuống dới -37 oC (-35 oF) trong một ngy của đợt rét kỷ lục liên tiếp 19 ngy Khỏi cần nói thêm rằng, không khí cũng
đặc biệt khô, bởi vì điều đó luôn luôn xảy ra trong điều kiện thời tiết lạnh
Hãy so sánh những điều kiện thời tiết ny với những gì m Texas đã trải qua nửa năm về trớc Vùng College Station l một ví dụ, nơi ny có nhiệt độ trung bình các tháng 5, 6 v 7 cao nhất cha từng thấy, nhiệt độ tối cao vợt quá 38 oC(100 oF) đã xuất hiện 51 lần trong thời gian từ ngy 31/5 đến 3/9 Không khí nóng lại đi kèm với độ ẩm cao v ma ro hiếm bất thờng trong suốt thời kỳ ny
Bạn đã bao giờ phân vân về những tình huống giống nh hai trờng hợp trên
đây cha, khi m các vùng rộng lớn trải qua những điều kiện thời tiết ít nhiều giống nhau? Trong những dịp nh vậy, những ngời lm công tác truyền thông thờng dùng những cụm từ nh “khắp miền Midwest,” hoặc “trên khắp miền duyên hải phía đông”, hoặc “Hôm nay vùng tây bắc giáp Thái Bình Dơng đã trải qua ” Nhng trái lại, cũng thờng hay xảy ra những trờng hợp có các khu vực chỉ cách nhau một giờ chạy xe lại có thời tiết rất khác nhau, gần nh không có gì chung Tại sao có những diễn biến nh vậy? Vì sao đôi khi khí quyển tự sắp xếp nó thnhnhững vùng rộng lớn đồng nhất, rồi những lúc khác lại biến đổi rất nhanh qua những khoảng cách nhỏ? Chơng ny sẽ nói về những hiện tợng đó v những vấn
đề liên quan, sử dụng một số khái niệm rất đơn giản, nhng rất tiện ích
Các tình huống ở Alaska v Texas vừa nói tới ở trên thể hiện hai trờng hợp thái cực, trong đó những khu vực rộng lớn bị bao phủ bởi một khối khí có nhiệt độ v độ ẩm ít nhiều đồng nhất Những vùng không khí lớn đó đợc gọi l các khối
khí Thông thờng, một vùng rộng cỡ nh Bắc Mỹ sẽ bị phủ bởi một số khối khí trong cùng một lúc v do đó, lấy ví dụ, phần đông bắc nớc Mỹ v phần đông nam Canađa có thể có điều kiện lạnh, khô, trong khi miền nam nớc Mỹ không khí
Trang 2nóng, ẩm ngự trị Kết quả l, một ngời có thể lên máy bay ở Nashville cảm thấy
hon ton thoải mái với chiếc áo sơ mi ngắn tay, để sau đó bị rét run khi hạ cánh ở Boston Ngoi ra, các khối khí đó thờng phân cách với nhau bởi những vùng biên ráp gianh khá hẹp, đợc gọi l các front, ngang qua ranh giới front các điều kiện thời tiết thay đổi rất nhanh Sự đi qua của các front l sự kiện thời tiết đáng chú ý, bởi vì nó thờng kèm theo những thay đổi đột ngột về nhiệt độ, độ ẩm v gió Nó còn tạo ra một cơ chế thăng trong không khí có thể dẫn tới hình thnh mây vgiáng thủy
Trong chơng ny, chúng ta sẽ mô tả sự hình thnh v bản chất của các khối khí, các front phân cách chúng v ảnh hởng của chúng đến thời tiết địa phơng
Sự hình thnh của các khối khí
Các đặc trng nhiệt độ, áp suất v độ ẩm của khí quyển đợc hình thnh chủ yếu nhờ sự trao đổi nhiệt v hơi nớc liên tục ở gần bề mặt Khi các lợng nhiệt nhận đợc lớn hơn các lợng nhiệt mất, nhiệt độ không khí tăng lên Một cách
tơng tự, khi xảy ra bốc hơi nhiều hơn giáng thủy, trữ lợng hơi nớc của khí quyển giảm đi Nhng do nhiệt lợng v nớc phân bố không đồng đều trên Trái Đất, nên khí quyển bị lạnh đi hay nóng lên khác nhau giữa các nơi, dòng hơi nớc ròng đi
vo khí quyển cũng nh vậy Do đó, ví dụ, không khí trên khu vực xích đạo của Thái Bình Dơng có những đặc trng khác với không khí ở miền bắc Canađa
Các khu vực nguồn
Những vùng trên Trái Đất m các khối khí hình thnh đợc gọi l những khu
vực nguồn Quá trình lm nóng hay lm lạnh những khối không khí lớn đòi hỏi nhiều ngy, thay đổi về trữ lợng nớc cũng nh vậy, cho nên không khí phải tồn tại ổn định ở trên một vùng nguồn trong một khoảng thời gian khá di để cho một khối khí có thể hình thnh Các vùng nguồn của khối khí chỉ xuất hiện ở các vĩ độ cao hoặc ở các vĩ độ thấp; khu vực các vĩ độ trung bình rất biến động, do đó không
có những thời kỳ “bình lặng” cần thiết để một khối không khí có đợc những đặc
trng của bề mặt ở dới Hơn nữa, một vùng cần phải khá rộng lớn, nhiều chục nghìn kilômét vuông, để có thể tác động nh một vùng nguồn Ví dụ, dù l ở gần cực, Iceland quá nhỏ để có thể hình thnh nên các khối khí
Mặc dù các khối khí có nhiệt độ v trữ lợng ẩm khá đồng nhất theo phơngngang, nhng nhiệt độ v độ ẩm không đồng nhất từ bề mặt tới khí quyển tầng cao Thật vậy, các građien thẳng đứng khá lớn của nhiệt độ có thể dễ xuất hiện trong một khối khí Những khác biệt theo phơng đứng của nhiệt độ nh vậy ảnh hởng
đến độ ổn định của khí quyển (chơng 6), đó l những mầm mống quan trọng về
phơng diện khả năng giáng thủy Do đó, một số khối khí với những tính chất tự nhiên của chúng, thờng hay tạo ra giáng thủy hơn so với những khối khí khác Các khối khí đợc phân loại theo các đặc trng nhiệt độ v độ ẩm của những vùng nguồn Dựa vo dung lợng ẩm, các khối khí có thể đợc phân chia thnh
khối khí lục địa (khô) hay khối khí biển (ẩm) Dựa theo nhiệt độ, chúng đợc phân
Trang 3loại thnh khối khí nhiệt đới (nóng), khối khí cực đới (lạnh) hay khối khí Bắc Băng
Doơng (rất lạnh) Các nh khí tợng học sử dụng một hệ thống hai chữ cái viết tắt
để phân biệt các khối khí Một chữ cái thờng c hoặc m chỉ thị tính chất ẩm, tiếp
sau l một chữ cái hoa T, P hoặc A để thể hiện nhiệt độ Nh vậy, ví dụ, khối khí
lục địa cực đới đợc ký hiệu l cP, còn khối khí biển nhiệt đới l mT Mặc dù tổ hợp các chữ cái ny về lý thuyết dẫn tới 6 kiểu khối khí khác nhau, song khối khí biển Bắc Băng Dơng không tồn tại trong tự nhiên, bởi vì các bồn nớc ở đó không đủ lạnh để tạo ra không khí Bắc Băng Dơng (hơi nớc trong không khí ở đó bị kết băng tại các nhiệt độ cực Bắc, lm mất đi phần lớn tính chất biển) Nh vậy, có tất cả 5 kiểu khối khí Các vùng nguồn chính của các khối khí hoạt động ở Bắc Mỹ đợcthể hiện trên hình 9.1
Hình 9.1 Các khu vực nguồn của những khối khí Bắc Mỹ
Trang 4Nếu biết rằng nhiệt độ v độ ẩm thực tế của không khí thay đổi trong một biên rộng, sự phân chia tùy tiện các khối khí thnh có 5 kiểu khối khí có thể tỏ ra có hạn chế nhất định Ví dụ nh, bạn sẽ xếp loại nh thế no đối với một ngy có nhiệt độ
20 oC (68 oF) v điểm sơng 10 oC (50 oF)? Thực sự không có câu trả lời cho trờnghợp ny, bởi vì khó m xác định đó l không khí xích đạo hay không khí cực đới? Hay nếu nhìn nhận vấn đề theo một cách khác, vậy thậm chí tại sao phải phân loại các khối khí nh vậy? Đáp án cho câu hỏi ny l khái niệm khối khí sẽ hữu ích khi chúng ta muốn phân định không khí ở hai bên của các biên ranh giới front, hoặc khi chúng ta chỉ cần một mô tả đơn giản về khối khí l đủ
Các khối khí không bị giữ vĩnh viễn ở các vùng nguồn của chúng; chúng có thể
di chuyển tới những vùng có điều kiện thời tiết ít thái cực hơn Sự di chuyển của một khối khí ra khỏi vùng nguồn của nó gây ra hai hệ quả: (1) khu vực m khối khí
di chuyển tới bị thay đổi mạnh về nhiệt độ v độ ẩm v (2) khối khí trở nên ôn hòa hơn Bây giờ chúng ta sẽ xem xét một số kiểu khối khí, thời tiết m chúng tạo ra v
sự biến tính của chúng khi di chuyển
Các khối khí lục địa cực đới (cP) v khối khí lục địa Bắc Băng D~ơng (cA) Các khối khí lục địa cực đới (cP) đợc hình thnh trên các khối lục địa rộng lớn ở các vĩ độ cao, nh miền bắc Canađa hoặc Siberia Vo mùa đông, những khu vực ny có ngy ngắn v độ cao Mặt Trời nhỏ Những vùng đó còn thờng bị tuyết trong mùa đông v do đó, phản xạ phần lớn phần lợng bức xạ Mặt Trời ít ỏi
đạt tới bề mặt Sự kết hợp những hon cảnh ny thực sự lm cho không khí sẽ mất năng lợng bức xạ trong mùa đông nhiều hơn l nhận đợc Sự lạnh đi của lớp không khí từ phía dới không chỉ lm hạ nhiệt độ không khí, m còn tạo ra nghịch nhiệt bức xạ v những điều kiện ổn định cao
Ngoi việc có nền nhiệt độ rất thấp, các khối khí cP mùa đông cũng rất khô Hãy nhớ lại từ chơng 5 rằng, không thể có nhiều hơi nớc tồn tại trong không khí lạnh, v rằng điểm sơng (hoặc điểm đóng băng) luôn thấp hơn hoặc bằng nhiệt độkhông khí Nh vậy, nếu nhiệt độ không khí rất thấp, ví dụ -30 oC (-22 oF) – một kilôgam không khí ở độ cao mực nớc biển chỉ có thể chứa tối đa 0,24 g hơi nớc.Nếu nh không khí cha bão hòa, lợng hơi nớc thực tế sẽ còn thấp hơn
Sự kết hợp của các điều kiện không khí khô v độ ổn định cao bảo đảm rằng có rất ít mây nếu nh có, hình thnh ở vùng nguồn của khối khí cP Thêm nữa, sự thiếu hụt hơi nớc sẽ lm suy giảm quá trình hấp thụ của khí quyển đối với bức xạ tới của Mặt Trời Do đó, mặc dù nhiệt độ thấp, ở các vùng nguồn của khối khí cP
thờng có bầu trời trong v có nắng Mặt khác, độ ổn định của khí quyển cản trở quá trình xáo trộn thẳng đứng, cho nên những chất ô nhiễm đi lên từ bề mặt sẽ tập trung ở gần mặt đất Do điều kiện thời tiết lạnh lm tăng mức tiêu thụ nhiên liệu cấp nhiệt (thờng l than v dầu), cho nên không có gì ngạc nhiên l không khí cP
thờng gắn liền với chất lợng không khí thấp trên các khu vực đô thị
Các khối khí cP mùa hè cũng tơng tự, nhng ít khắc nghiệt hơn Tức l,chúng ấm hơn v ẩm hơn so với mùa đông Chúng có xu hớng giữ ổn định ở các vĩ
Trang 5độ cao hơn so với các khối khí cP mùa đông, nên chúng không ảnh hởng nhiều tới nhiều phần của Trái Đất nh những phiên bản của chúng trong mùa đông Nghịch nhiệt không hình thnh, bởi vì khối khí phát triển trên một mặt đệm không bị phủ băng tuyết trong khi thời gian ban ngy di Thực tế, không phải l hiếm thấy chuyển động thăng đối lu, tạo ra những đám “mây tích thời tiết đẹp” (những đám mây mảnh mai rải rác trong một bầu trời nói chung l trong xanh) Ngoi ra, những khối khí ny đợc hình thnh trên đất liền v vì vậy, không có đủ độ ẩm để cho giáng thủy đáng kể
Không khí lục địa Bắc Băng Dơng (cA) lạnh hơn so với không khí lục địa
cực đới, nhng khác biệt giữa hai khối khí không chỉ l vấn đề về mức độ nhiệt độ lạnh hơn Quan trọng hơn, không khí cA v cP bị phân cách bởi một vùng chuyển tiếp tơng tự nh front cực đới (chơng 8), đợc gọi l front Bắc Băng D oơng.
Không nh front cực đới có thể mở rộng lên cao đến vi kilômét tính từ bề mặt, front Bắc Băng Dơng nông v thờng không cao quá 1 hoặc 2 km bên trên bề mặt (hình 9.2) Do đó, chúng ta có thể cảm nhận sự thay đổi nhiệt độ khi có front Bắc Băng Dơng đi qua, nhng front tơng đối nông ny không tạo ra một chuyển động thăng mạnh có thể gây ma tuyết Trong một vi trờng hợp hiếm hoi, không khí
cA có thể mở rộng xa về phía nam, nh tới vùng biên giới Canađa – Mỹ
Hình 9.2 Front Bắc Băng D~ơng phân cách một lớp mỏng không khí Bắc Băng D~ơng cực lạnh với không khí lạnh cực đới Nó khác với front cực đới ở quy mô thẳng đứng hạn chế hơn của nó
Sự biến đổi của các khối khí cP Khi rời khỏi vùng nguồn, các khối khí cP
đem theo thời tiết lạnh xuống những vĩ độ ô hòa hơn Hình 9.3 minh họa sự di chuyển của một khối không khí lục địa cực đới giả định Trong hình 9.3a, biên front nằm ở phía bắc của Minneapolis, v các nhiệt độ ô hòa hiện diện ở hầu khắp miền trung nớc Mỹ 24 giờ sau (hình 9.3b), biên của khối khí lục địa cực đới đã đi qua Minneapolis, khiến cho nhiệt độ ở đây giảm đi 20oC (36 oF) Xa hơn về phía nam, St Louis v Birmingham có nhiệt độ ít thay đổi so với hôm trớc, bởi vì không khí lạnh cha lấn xa về phía nam Tuy nhiên, đến ngy thứ ba (hình 9.3c), không khí lạnh
đã xâm nhập tới vùng bờ vịnh Mexico v gây nên giảm nhiệt độ đáng kể tại St Louis v Birmingham, còn Minneapolis thì chịu ảnh hởng của không khí cực lạnh
Trang 6Hãy chú ý rằng, tại mỗi địa phơng nối tiếp, mức độ giảm nhiệt độ do front đi qua đều ít hơn so với vị trí lân cận ở phía bắc Nói cách khác, Minneapouis bị giảm nhiệt độ nhiều nhất, còn St Louis v Birmingham bị lạnh đi ít hơn Đó l do không khí cP dần dần biến tính khi rờ bỏ vùng nguồn của nó
Hình 9.3 Một chuỗi bản đồ thời tiết mặt đất cho thấy sự
di chuyển xuống phía nam của khối khí lục địa cực đới
Trang 7Các khối khí biển cực đới (mP)
Khối khí biển cực đới tơng tự nh khối khí lục địa cực đới, nhng ôn ho hơn
về nhiệt độ cũng nh tính chất khô Không khí biển cực đới hình thnh trên Bắc Thái Bình Dơng khi không khí cP di chuyển ra khỏi phần bên trong của lục địa châu á Hải lu nóng Nhật Bản bổ sung nhiệt v hơi nớc cho không khí lạnh, khô
v chuyển nó từ cP thnh mP Các khối khí đang phát triển ny di c về phía đông ngang qua Thái Bình Dơng, một bộ phận lớn đi qua vịnh Alaska trớc khi đạt tới miền bờ phía tây của Bắc Mỹ Chúng tiếp cận đến phía bắc của bờ tây Bắc Mỹ trong suốt năm, nhng ảnh hởng đến vùng bờ tây California chủ yếu trong mùa đông Không khí biển cực đới cũng ảnh hởng đến nhiều vùng của miền bờ phía
đông, nhng cung cách tiếp cận miền bờ phía đông thì có khác Kiểu không khí nygắn liền với hon lu của không khí quanh các xoáy thuận vĩ độ trung bình sau khi
chúng đi qua một vùng xoáy thuận Do không khí xoay theo kiểu xoáy thuận (ngợcchiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu), nó quét qua hệ thống áp thấp v tiếp cận vùng ven biển từ phía đông bắc Gió kết quả l những tro gió đông bắc quen thộc, gây nên những cơn gió lạnh v tuyết rơi dy (xem chuyên mục 9-1: Chuyên đề: Các khối
khí biển xâm nhập miền đông của Bắc Mỹ).
9-1 Chuyên đề: Các khối khí biển xâm nhập miền đông
Bắc Mỹ
Sự di chuyển của các khối khí gây ra
rất nhiều biến động đột ngột v nghiêm
trọng trong thời tiết Các ví dụ về những
đợt chuyển đổi nh vậy không bao giờ kể
hết v luôn mới mẻ Ba trờng hợp xảy ra
gần đây ở vùng đông bắc Hoa Kỳ v đông
Canađa cho thấy các đợt thay thế những
khối khí có thể ảnh hởng mạnh mẽ tới
môi trờng địa phơng nh thế no:
những cơn bão lớn trong mùa đông các
năm 1994, 1995 v 1996
Đợt bão các ngy 2-4/3/1994
Dân c vùng bờ phía đông còn nhớ
nh in mùa đông năm 1993–1994 nh
một mùa đông băng giá nhất trong lịch
sử Ngy 3/3, trận bão tuyết lớn thứ 15
của mùa đông năm đó đã đổ bộ đến vùng
đông bắc nớc Mỹ, tờ báo New York
Times gọi đó l “gió đông bắc mẫu mực”
Cơn bão đã bắt đầu ở vùng đông nam
nớc Mỹ vo sáng ngy 2/3 (hình 1a v
1b) Một front lạnh kéo di từ áp thấp vĩ
độ trung bình xuống phía nam đến vịnh Mexico v một front nóng chạy dọc theo miền duyên hải đến mũi Hatteras, Bắc Carolina Hon lu ngợc chiều kim đồng
hồ trên khu vực đông nam nớc Mỹ mang theo không khí biển cực đới từ Đại Tây Dơng cùng với ma từ Maryland đến Giorgia
Đến ngy thứ hai (hình 1c v 1d), hệ thống đợc tăng cờng v di chuyển đến miền bờ New Jersey Gió đông bắc mạnh mang không khí nóng, ẩm từ ngoi khơi vo, nó bị hội tụ khi nhập vo tâm áp thấp Sự kết hợp giữa độ ẩm phong phú v hội tụ mạnh đã tạo nên ma tuyết lớn,
ở Martinsburg, Tây Virginia lên đến 34
cm Cơn bão ny còn đợc cờng hóa tiếp khi nó di chuyển về phía bắc đến New England v các tỉnh ven biển của Canađa (hình 1e v 1f), gây nên tổng lợng matuyết mùa hơn 215 cm ở khu vực Boston Cuối cùng, hệ thống ny đã di chuyển ra
Đại Tây Dơng
Đợt bão ngy 5/2/1995
Khác với mùa đông năm trớc, nửa
đầu mùa đông năm 1994–1995 ôn hòa một cách bất thờng ở vùng đông bắc của
Trang 8Hình 1 Trận bão tới từ phía đông bắc tháng 3 năm 1994 Các bản đồ ở mạn bên trái v ảnh mây vệ tinh ở mạn bên phải cho thấy vị trí bão lúc 7 giờ sáng theo giờ chuẩn của miền đông
nớc Mỹ, với nhiệt độ nhìn chung dễ chịu
hệ thống nằm ở gần vịnh Chesapeake vo
Trang 9Hình 2 Trận bão tới từ phía đông bắc tháng 2 năm 1995 sáng ngy 4 (hình 2a v 2b) v mạnh lên
rất nhiều khi nó di chuyển trên New
England v các tỉnh ven biển của Canađa
vo ngy 5 (hình 2c v 2d) Trong khoảng
thời gian 24 h, áp suất tại tâm áp thấp đã
giảm từ 995 mb xuống 962 mb
ở khu vực thnh phố New York, New
Jersey, tuyết bắt đầu rơi ngay từ giữa
đêm v đến sáng tổng lợng tuyết đo
đợc ở Princeton, New Jersey l 38 cm
Mặc dù ma tuyết mạnh chỉ kéo di một
giờ kể từ khi bắt đầu, song gió bão lớn
kèm những cơn gió giật mạnh đến 80
km/h (50 dặm/h) đã gây nên lốc tuyết
mạnh Dân chúng buộc phải ngừng đi lại
trong ngy hôm sau khi các đội bảo
từ Louisiana đến phía tây Mariland v
đông Kentucky (hình 3a v 3b) Trong vòng 24 giờ, bão đã mạnh lên v di chuyển về phía đông đến Georgia – vùng
bờ Nam Carolina (hình 3c v 3d), vtuyết rơi từ cỡ vừa đến mạnh trên một bộ phận lớn của miền đông nớc Mỹ
Đến sáng ngy 8/1 (hình 3e v 3f), tuyết đã tích tụ dy đến 1 m ở Virginia vBắc Carolina Vậy nhng một diện tích rộng lớn của vùng đông bắc vẫn phải tiếp tục hứng chịu những gì tồi tệ nhất mmột cơn bão có thể gây nên Các sân bay ở
Trang 10Hình 3 Cơn bão tới từ phía đông bắc tháng 1 năm 1996 khắp miền đông nớc Mỹ phải đóng cửa,
v ngời dân ở các thnh phố xa bão nh
St Louis đã phải qua những đêm bất tiện
sau khi các chuyến bay nối với vùng bờ
miền đông bị hủy Tất cả có 7600 chuyến
bay – một phần ba trong số đó đã có lịch
khởi hnh ở nớc Mỹ – đã bị hủy bỏ do hậu quả của cơn bão
Độ dy lớp tuyết đặc biệt lớn một phần l do tuyết trong đợt bão ny đặc biệt nhẹ v xốp – ở một số nơi, tỉ lệ tuyết – nớc vợt quá 18:1; nói một cách khác,
Trang 1118 cm tuyết tơng đơng với 1 cm giáng
thủy thực, cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ
thông thờng l 10:1 Đến thời điểm bão
tan, Philadelphia đã trải qua đợt tuyết
rơi kỷ lục cha từng thấy, tới 73 cm trên
mặt đất Providence, Rhode Island đã
hứng chịu một đợt tuyết rơi lớn thứ hai
của vùng, còn Washington v New York
ghi nhận lợng tuyết dy đứng thứ ba
trong lịch sử
ít nhất 86 ngời chết do hậu quả của
cơn bão Song ngoi sự mất mát về ngời,
sự việc còn có thể trở nên tồi tệ hơn Cũng
may l các dự báo đối với khu vực ny
của Cơ quan Thời tiết Quốc gia đã rất
chính xác về thời gian, vị trí v cờng độ
bão Điều đó đã tạo cho dân chúng địa phơng v các cơ sở bị hại có đủ thời gian
đối phó với sự tấn công điên cuồng của không khí biển
Hãy chú ý l các đặc trng của khối khí l những yếu tố quan trọng trong tất cả những cơn bão ny, nhng cha phải l tất cả Trong mỗi trờng hợp, đã có những kiểu hon lu đặc trng xung quanh một nhân áp thấp (xoáy thuận), nó vận chuyển các khối khí theo một cách có
hệ thống Mối liên hệ giữa các khối khí, các front v các xoáy thuận l một chủ đề quá lớn không thể đề cập ở đây – nhngkhông sao, nó sẽ đợc đề cập ở chơng tiếp sau
Các khối không khí lục địa nhiệt đới (cT)
Không khí lục địa nhiệt đới (cT) hình thnh trong thời gian mùa hè trên các vùng vĩ độ thấp, nóng, ví dụ nh vùng tây nam nớc Mỹ v bắc Mexico Các vùng hoang mạc, nơi những khối khí cT hình thnh, có rất ít nớc bề mặt v một
lợng thực vật cực tiểu có thể hút nớc từ trong đất ở phía dới Nhập lợng bức xạ Mặt Trời cực cao trong mùa hè Điều ny cộng với sự thiếu hụt hơi nớc sẽ tạo nên các nhiệt độ đất rất cao đốt nóng lớp không khí phía trên thông qua quá trình vận chuyển nhiệt hiện Kết quả l các khối khí ở đây vô cùng nóng v khô, thờng quang mây
Các nhiệt độ mặt đệm cực kỳ cao lm cho không khí sát mặt đất bị đốt nóng mạnh, gây nên tốc độ giảm nhiệt độ rất cao v điều kiện bất ổn định Tuy nhiên, cho dù bất ổn định, các khối khí cT thờng quang mây do tính chất khô của nó Ví
dụ, ta xét một khối khí nóng, khô ở gần bề mặt, với nhiệt độ tới 45 oC (113 oF) v
điểm sơng 0 oC (32 oF) Do nhiệt độ của một phần tử không khí cha bão hòa đang nâng lên sẽ tiến dần đến điểm sơng với tốc độ 0,8 oC/100 m, cho nên không khí phải bị nâng lên 5,6 km nó mới có thể trở nên bão hòa * Nhng độ dy của lớp bất
ổn định có xu hớng nhỏ hơn nhiều so với độ cao ny, có nghĩa rằng, các phần tử tại
bề mặt có thể không đợc nâng lên đủ cao để mây phát triển Mặt khác, nếu nhlớp bất ổn định dy, hoặc nếu nh có lợng ẩm no đó trong không khí, thì dông tố mạnh có thể phát triển Dông còn có thể đợc hình thnh ở gần các đỉnh núi, nơi
đây chuyển động thăng đợc thúc đẩy nhờ các gió thung lũng hội tụ
* Nhớ lại rằng DALR = 1,0 oC/100 m, nhng đồng thời tốc độ giảm điểm sơng = 0,2 oC/100
m Do đó, một phần tử không khí cha bão hòa đang nâng lên sẽ tiến dần tới điểm sơng với tốc độ 0,8 oC/100 m
Trang 12Các khối khí biển nhiệt đới (mT)
Các khối khí biển nhiệt đới (mT) phát triển trên các vùng nớc đại dơng
nhiệt đới nóng Chúng nóng (tuy không nóng nh cT), ẩm v bất ổn định ở gần bề mặt – lý tởng đối với sự phát triển mây v giáng thủy
Không khí biển nhiệt đới có một ảnh hởng to lớn đến vùng đông nam nớc
Mỹ, đặc biệt trong mùa hè Những khối khí ny hình thnh trên Đại Tây Dơng vvịnh Mexico rồi di chuyển tới Bắc Mỹ Khi không khí thổi vo đất liền, quá trình
đốt nóng do bề mặt nóng lm tăng tốc độ giảm nhiệt độ v khiến không khí thậm chí cng bất ổn định hơn Sự kết hợp giữa trữ lợng ẩm cao v độ bất ổn định gia tăng thuận lợi cho sự phát triển của ma mạnh nhng ngắn, thờng l trên những khu vực tơng đối hẹp, dới dạng các trận ma dông
Sự đi qua của một xoáy thuận vĩ độ trung bình có thể cũng gây giáng thủy trong khối khí mT Ma dạng ny thờng phủ những khu vực rộng hơn v kéo dilâu hơn so với những trận ma phát sinh từ chuyển động thăng cục bộ Tuy nhiên, trong cảc hai trờng hợp, một khối khí mT đang di chuyển về phía cực dần dần bị biến đổi vì nó bị mất hơi nớc bởi giáng thủy Do đó, điểm sơng giảm dần khi lên phía bắc Điều ny không có nghĩa rằng không khí trở nên khô khi nó đạt đến Chicago hay Toronto, nhng nó chắc chắn bớt ngột ngạt hơn so với ở New Orleans hay Miami
Vùng tây nam nớc Mỹ thỉnh thoảng phải chịu ảnh hởng của không khí mT bình lu vo đất liền từ vùng nhiệt đới Đông Thái Bình Dơng Ngoi khơi Nam California, dòng hải lu lạnh lm dịu không khí phía bên trên, khiến nó không còn
độ ẩm cao hoặc nhiệt độ cao nh không khí trên vùng đông nam nớc Mỹ Tuy nhiên, vo cuối mùa hè, hơi nớc đôi khi đợc đa lên phía đông bắc dới dạng dòng phân kỳ mực cao từ các hệ thống bão nhiệt đới hoặc bão cấp hurricane ngoikhơi bờ phía tây của Mexico Tình huống ny có thể dẫn đến một lớp mây cao v độ
ẩm tăng lên ở phía nam California Nó cũng có thể gây ra những cơn ma dông địa phơng Những hiện tợng ny thờng xảy ra bên trên các dãy núi v hoang mạc nằm sâu trong đất liền, những cũng có khi lm chấm dứt nạn khô hạn mùa hạ thờng thấy ở vùng duyên hải Xa hơn về phía đông, ở Arizona v Đông California,
sự xuất hiện của khối khí mT trên các hoang mạc gây nên hiện tợng m ở địa
phơng ngời ta gọi l gió mùa Arizona (tuy tên gọi ny không thật chính xác)
Nh chúng tôi đã nhấn mạnh ở đầu chơng ny, việc phân loại các khối không khí thờng không dễ dng Khái niệm về một khối khí có ý nghĩa nhất khi áp dụng cho những khối khí lớn, đợc phân cách bởi các đới ranh giới rộng tới hng chục (có khi lên tới vi trăm) kilômét Những đới ranh giới ny đợc phân chia thnh bốn kiểu front
Front
Các front l những đờng ranh giới phân cách các khối khí với nhiệt độ v các
đặc trng khác khác nhau Thông thờng chúng thể hiện các ranh giới giữa khối
Trang 13khí cực đới v không khí xích đạo Chúng quan trọng không chỉ vì gây nên những biến đổi nhiệt độ, m còn gây nên chuyển động thăng Không khí lạnh thờng l
đậm đặc hơn không khí nóng, nên khi một khối khí lấn tới một khối khí khác, thì hai khối khí không xáo trộn với nhau Ngợc lại, không khí đặc tiếp tục duy trì ở gần bề mặt v cỡng bức khối khí nóng hơn trợt lên phía trên Những chuyển
động thăng dẫn tới quá trình lạnh đi đoạn nhiệt v đôi khi tới sự hình thnh mây v giáng thủy
Một front lạnh xuất hiện khi một lỡi khối không khí lạnh tiến về phía không khí nóng ở phía trớc nó Mặt khác, một front nóng thể hiện đờng ranh giới của
một khối khí nóng đang di chuyển về phía một khối khí lạnh Một front dừng
thờng tơng tự nh một front lạnh về mặt cấu trúc, nhng khác ở chỗ không có khối khí no hiện đang di chuyển một cách đáng kể (nói cách khác, front không dịch chuyển) Khác với ba loại front trên đây, các front tù không phân cách các khối khí nhiệt đới với các khối khí cực đới Trái lại, nó xuất hiện tại bề mặt nh đờng giáp ranh giữa hai khối khí cực đới, thờng l với một khối khí cực đới lạnh hơn lấn tới phía một khối khí hơi nóng hơn ở phía trớc nó Hình 9.4 đa ra những ký hiệu dùng để thể hiện vị trí của những front ny trên các bản đồ thời tiết mặt đất
Hình 9.4 Các ký hiệu để biểu diễn 4
kiểu front trên các bản đồ thời tiết
Hình 9.5 Một xoáy thuận vĩ độ trung bình điển hình Các front lạnh v nóng
đ ~ợc phân cách bởi một l~ỡi không khí nóng gặp nhau tại tâm của một áp thấp Không khí lạnh ngự trị trên cung phận lớn hơn ở mạn phía bắc của hệ thống
Mặc dù các front đợc đặt tên theo những độ tơng phản nhiệt độ gắn liền với chúng, những sự thay đổi rõ rệt của các yếu tố khí tợng khác cũng xảy ra ở gần vùng ranh giới ny Ngời ta nhận ra một front đang đi qua không chỉ thông qua nhiệt độ biến đổi nhanh, họ còn có thể nhận thấy một sự chuyển đổi tốc độ v