Tia chớp từ mây tới mây ny xuất hiện khi građien điện thế trong phạm vi một đám mây, hoặc giữa các đám mây, vợt quá điện trở của không khí.. Giai đoạn dẫn xuống, va đập v lóe sáng T
Trang 1Chơng 11 sét, sấm v vòi rồng
Khó tởng tợng một ai đó lại không có ấn tợng gì về vẻ đẹp cũng nh sự nguy hiểm m một cơn dông tố mang lại Mặc dù rất ngoạn mục, nhng những cơn dông tố không phải l hiếm xảy ra Thực tế, chúng rất phổ biến trên khắp thế giới
v diễn ra khoảng 40000 lần mỗi ngy Mặc dù tần suất xuất hiện của chúng biến
đổi đáng kể từ nơi ny đến nơi khác, thực tế l từng địa phơng trên Trái Đất đều
bị tổn thơng bởi sấm sét trong một thời gian no đó
Sét có thể gây nên những bất tiện - nh lm hỏng những dụng cụ điện trong nh Nó cũng có thể gây tác hại đáng kể, nh lm mồi cho những vụ cháy rừng V
dĩ nhiên, nó có thể gây chết ngời; trung bình mỗi năm khoảng 200 ngời bị chết do sét ở Mỹ v Canađa Nhng nếu xét rằng dân số của hai đất nớc lớn ny tới 300 triệu ngời, thì dễ dng thấy rằng khả năng để bạn bị sét đánh l rất xa vời
Hình 11.1 Sean v Michael McQuilken ở trong một điện tr ~ờng mạnh ngay tr~ớc lúc sét đánh
Song ngời ta vẫn bị sét tấn công Xét trờng hợp xảy ra với gia đình McQuilken trong cuộc dạo chơi của họ tới Công viên Quốc gia Sequoia, California tháng 8 năm 1975 Khi bầu trời bắt đầu tối sầm lại, Sean, Michael v em gái Mary thấy tóc họ dựng đứng lên Nhận ra sự buồn cời vẻ ngoi của tình huống ny, các cậu bé đã chụp một tấm ảnh nh trên hình 11.1 Ma đá tức thời rơi Rồi tia chớp giáng xuống ngay sau đó - Sean bị quật ngã bất tỉnh Michael nhanh chóng lm hô hấp nhân tạo, có lẽ chính vì thế m Sean đợc cứu vớt Nhng một nạn nhân khác thì ít may mắn hơn Tia chớp có vẻ rẽ thnh nhiều nhánh, một nhánh khác chiếu vo hai ngời bên cạnh v một trong hai đã bị giết
Nhng những tác động của sét v sấm chớp còn cha l gì so với một mối nguy
Trang 2hiểm thậm chí lớn hơn - vòi rồng Bây giờ chúng ta sẽ xem nh thế no, ở đâu vtại sao thời tiết dữ tợn xuất hiện, v chúng ta sẽ xét những tình huống lm cho một
số cơn gió lốc thì yếu, còn một số cơn khác lại trở thnh tác hại v gây chết ngời
Những quá trình hình thnh sấm sét
Khoảng 80 phần trăm tất cả những tia chớp l do tích điện trong phạm vi các
đám mây, ngợc lại với sự tích điện từ mây tới bề mặt Tia chớp từ mây tới mây ny
xuất hiện khi građien điện thế trong phạm vi một đám mây, hoặc giữa các đám mây, vợt quá điện trở của không khí Kết quả l một tia sáng lóe lên rất lớn vmạnh, một phần tơng đơng với sự chia tách điện tích Tia chớp từ mây tới mây lm cho bầu trời sáng lên một cách ít nhiều không đều nhau Bởi vì tia sáng lóe bị che chắn bởi chính đám mây, nên nó thờng hay đợc gọi l chớp xa
20 phần trăm còn lại của các tia chớp l những sự kiện kịch tính hơn, trong đó
điện tích truyền giữa chân mây v bề mặt Phần lớn sét từ mây tới đất xuất hiện khi điện tích âm tích tụ ở trong những phần dới thấp của đám mây Các điện tích dơng bị hút tới một khu vực tơng đối nhỏ trên mặt đất ở ngay bên dới đám mây
Điều đó tạo thnh một hiệu điện thế lớn giữa mặt đất v chân mây Điện tích dơng tại bề mặt l một hiện tợng cục bộ; nó tạo ra bởi vì điện tích âm tại chân mây đẩy các điện tử trên đất phía dới ở cách xa chỗ đó thì bề mặt duy trì điện tích âm bình thờng của nó so với khí quyển Mặc dù thuật ngữ từ mây tới đất đợc
dùng, song một hiệu ứng đúng nh vậy diễn ra trong nớc - v tia sét thờng hay
đánh xuống các hồ, sông v đại dơng
Mặc dù một cú sét có thể xuất hiện v tiếp diễn chỉ trong vi tích tắc, song trớc đó phải có một chuỗi những sự kiện bình thờng đã diễn ra Sự tạo ra điện của một đám mây l giai đoạn khởi đầu trong tất cả các tia chớp sét Sau đó, phải
có một con đờng để các điện tử có thể truyền qua Chỉ sau đó điện mới thực sự
đợc tích để tạo ra một cú sét
Sự chia tách điện tích
Tất cả các tia chớp đòi hỏi lúc đầu các điện tích dơng v âm phải chia tách vonhững vùng khác nhau của một đám mây Thờng hay xảy ra nhất l các điện tích dơng tích tụ ở các chóp phía trên của một đám mây, các điện tích âm ở các phần phía dới Những túi điện tích dơng nhỏ có thể cũng tập trung ở gần chân mây (hình 11.2a) Vậy bây giờ câu hỏi l: sự chia tách điện tích xảy ra nh thế no ở
vị trí thứ nhất? Không ai biết chắc chắn, bởi vì những đám mây m tạo ra sét vsấm tỏ ra l những phòng thí nghiệm không mấy mến khách Nhng chúng ta biết một số thực tế quan trọng, từ đó chúng ta có thể có ý niệm no đó về các điện tích chia tách ra nh thế no Trớc hết, tia chớp chỉ xuất hiện trong những đám mây
mở rộng tới trên mực kết băng v cũng bị giới hạn ở những đám mây gây ma Nhvậy, các quá trình tinh thể băng l nguyên nhân gây ma cũng đồng thời phải tác
động đến sự chia tách điện tích Trong nhiều năm, nhiều lý thuyết đã đợc đề xuất v bị tranh cãi gay gắt Không có một đáp án cuối cùng no đợc đa ra cho đến khi
Trang 3một phát hiện lớn vo năm 1998, khi một mô hình đề cập tới sự truyền điện tích qua những lớp nớc mỏng ở trên các tinh thể băng v hạt ma đá đã đợc khẳng
định bằng thực nghiệm
Hình 11.2 Sau khi sự chia tách điện tích diễn ra bên trong một đám mây (a) thì một đầu dẫn từng b ~ớc di chuyển xuống phía d ~ới (b) v (c) tr~ớc khi tiếp xúc với đối t~ợng tại mặt đất Dòng điện tạo ra sóng va đập của tia sét (d)
Mặc dù chúng ta không nhận ra, nhng các vật rắn thờng hay bị bao bọc bởi một lớp bề mặt lỏng với độ dy chỉ vi phân tử Lớp ny cấu tạo từ những phân tử chỉ liên kết yếu ớt với chất rắn ở phía trong v nó hiện diện thậm chí tại những nhiệt độ khá thấp hơn so với điểm đóng băng (Ngoi những lý do khác, sự hiện diện của lớp ny giải thích tại sao băng lại trơn nh vậy tại các nhiệt độ khá thấp
dới không độ bách phân) * Trong một đám mây, khi một tinh thể băng v một hạt ma đá va chạm với nhau, một số phân tử nớc lỏng ở trên bề mặt hạt ma đá di csang băng Thực tế, có bằng chứng để cho rằng sự va chạm thực sự lm tăng xu thế chất lỏng hóa v nhờ đó lm tăng sự vận chuyển khối lợng Cùng với các phân tử
nớc, còn có sự vận chuyển điện tích dơng từ hạt ma đá tới tinh thể băng hay, một cách tơng đơng, vận chuyển điện tích âm từ tinh thể tới hạt ma đá Bằng
*
Cú thӇ bҥn tӯng nghe núi rҵng ỏp suҩt tӯ mӝt lѭӥi dao dày trѭӧt băng làm tan ÿӫ băng ÿӇ tҥo ra mӝt lӟpmàng nѭӟc trѫn, nhѭng ÿiӅu ÿú khụng ÿỳng Băng tӵ nú ÿó trѫn bҩt chҩp bҥn cú nộn mҥnh nú hay khụng
Trang 4cách ny m các tinh thể băng nhờng những iôn âm cho phần lớn những hạt ma
đá lớn, sau đó những hạt ny rơi xuống dới tới phía chân mây
Giai đoạn dẫn xuống, va đập v lóe sáng
Trong tia chớp từ mây tới đất, sự kiện chớp thực thụ đợc dẫn trớc bởi một sự tiến về phía dới rất nhanh v va chạm của một nhánh chớp gồm không khí tích
điện âm, gọi l một đầu dẫn từng bớc (hình 11.2b), từ chân của đám mây Đầu
dẫn không phải l một cột đơn của không khí bị iôn hóa; nó rẽ thnh các nhánh từ một nhánh chính ở một số chỗ Với đờng kính chỉ bằng khoảng 10 cm, từng nhánh chớp lúc đầu từ chân mây bổ nho kiểu sóng xuống phía dới khoảng 50 m trong vòng khoảng một phần triệu giây Đầu dẫn không nhìn thấy ny dừng lại trong khoảng 50 μm, sau đó ln sóng nho xuống phía dới 50 m nữa hoặc đại loại nhvậy Chính vì chuyển động hớng xuống dới thnh một chuỗi rất nhanh các bớcriêng lẻ m ngời ta gọi l đầu dẫn từng bớc
Khi đầu dẫn tiếp cận mặt đất (hình 11.2c), một chớp sáng từ mặt đất phóng lên trên tới phía đầu dẫn Khi đầu dẫn v chớp sáng gặp nhau, chúng tạo ra một đờngdẫn cho dòng điện tử phát sinh lúc đầu thnh một chuỗi các sóng xung phát sáng chói lòa, hay các sóng xung đập trả lại Dòng điện với cờng độ khoảng 20000
ampe có đờng dẫn xuống phía dới từ chân của đám mây, nhng sóng xung đập thực sự truyền lên phía trên (hình 11.2d) Đờng dẫn điện kết thúc tại bề mặt m
từ đó có một sóng xung đập của điện tích dơng phóng lên trên về phía mây Dòng
điện đốt nóng không khí trong kênh dẫn đến các nhiệt độ cao tới 30000 K, hay bằng năm lần nhiệt độ của bề mặt Mặt Trời! (xem hình 11.3)
Hình 11.3 Chớp
Sự phóng điện của sóng xung đập thứ nhất lm trung hòa một số, nhngkhông phải l tất cả các iôn tích điện âm ở gần chân mây Kết quả l, một đầu dẫn khác (gọi l đầu dẫn liên tục) hình thnh trong phạm vi khoảng một phần mờigiây v từ nó có một sóng xung đập tiếp theo xuất hiện Chuỗi các đầu dẫn liên tục
Trang 5v các sóng xung đập ny có thể lặp lại bốn hay năm lần Bởi vì các sóng xung đập riêng rẽ diễn ra rất nhanh nối tiếp nhau, nên chúng tỏ ra nh một sóng xung đập
đơn nhấp nháy v nhảy xung quanh Chúng ta gọi tập hợp các sóng xung đập lmột tia chớp, hiệu ứng ròng của nó l vận chuyển các điện tử từ mây xuống đất Vận chuyển tổng cộng các điện tử không lớn, chỉ nhiều bằng khoảng chúng ta
sử dụng để lm sáng một bóng đèn 100 W trong một phút hoặc khoảng đó Vậy lmthế no tia chớp có thể cắt xẻ các cây v thực hiện những việc kịch tính khác? Vì một lý do l trong tia chớp sự truyền điện tích rất nhanh, cho nên dòng điện bằng khoảng 100 lần dòng điện dùng trong nh Để hiểu vì sao, hãy suy nghĩ về ví dụ bóng đèn có dòng điện thấp chạy trong một thời gian tơng đối lâu Điện tích tổng cộng bị vận chuyển bằng đúng nh trong tia chớp khi một dòng điện lớn chạy qua chỉ trong một thoáng Nhân tố khác, đó l građien điện thế lớn hơn nhiều so với trong một dòng điện sinh hoạt, cho nên năng lợng giải phóng lớn hơn nhiều do mỗi
điện tử đợc vận chuyển Tất cả những thực tế đó có nghĩa rằng một lợng lớn năng
lợng đợc giải phóng trong một thời khoảng rất ngắn, lm cho mỗi sóng xung đập cực kỳ mạnh hơn so với bóng đèn 100 W
đập âm thanh tiếp sau Dạng chớp dơng ny do đó đặc biệt nguy hiểm Nó có thể xuất hiện cách xa bão một số dặm, nơi m ngời ta không cảm thấy bị đe dọa; nó có dòng điện tử đỉnh điểm lớn hơn v nó thờng kéo di hơn, dễ gây những vụ cháy
Các loại chớp
Rất ít phổ biến hơn so với những tia chớp xung đập v đầu dẫn đó l kiểu sinh
điện lạ gọi l sét hòn Sét hòn xuất hiện thnh một khối tròn, sáng nóng của không
* Cú khi mӝt chӟp cú thӇ gӗm hѫn 30 súng xung ÿұp riờng rӁ
Trang 6khí nhiễm điện, kích thớc bằng tới một quả bóng chuyền, nó có vẻ chạy đu đatrong không khí hoặc dọc theo bề mặt trong khoảng 15 giây hoặc đại loại nh vậy trớc khi tan biến hoặc nổ tung Có một dạng sét hòn l một khối mu đỏ xẫm, trôi
tự do, nó có xu hớng tránh những dây dẫn điện v trôi vo những khoảng không gian khép kín hoặc qua các cửa ra vo v cửa sổ Dạng khác thì sáng chói hơn nhiều
v bị thu hút bởi những vật dẫn điện (kể cả ngời) Nhiều cách giải thích về sét hòn
đã đợc đa ra trong ít nhất một trăm năm mơi năm qua, nhng cho tới gần đây không cách giải thích no thâu tóm đợc tất cả những khía cạnh của hiện tợng vphần lớn cách giải thích có nhợc điểm rất thô sơ Tình hình mới đợc cải thiện
đáng kể vo đầu năm 2000 với một thông báo về những cuộc thí nghiệm liên quan tới sét nhân tạo trên đất Ngời ta thấy rằng sét lm suy giảm các hợp chất của silic trong đất tới những phần tử kích thớc nano nhỏ bé của silicon carbibe (SiC) v silic ôxit đơn (SiO) v silic kim loại (Si) Khác với các hợp chất silic nguyên thủy, những hợp chất ny chứa hóa năng lớn đáng kể v không bền vững trong môi trờng ôxy Chúng thoát vo trong không khí, ở đó chúng bị lạnh đi nhanh v
ngng tụ thnh các chuỗi xích v mạng lới rất mỏng Các mạng lới rất nhẹ, cho nên chúng trôi dễ dng trong khí quyển V điều quan trọng l chúng cháy sáng khi bị ôxy hóa, giải phóng năng lợng dự trữ dới dạng ánh sáng nhìn thấy
Vầng lửa thánh Elmo cũng l một dạng hiện tợng điện hiếm v lạ thờngkhác Sự iôn hóa trong không khí - thờng l ngay trớc khi hình thnh chớp từ mây tới đất - có thể lm cho những đối tợng cao nh các tháp chuông nh thờ hoặc các cột buồm của tầu thủy nóng sáng lên khi chúng phát ra một loạt lóe sáng liên tục Hiện tợng ny tạo ra một sắc mu xanh lam - xanh lá cây cho không khí, kèm theo một âm thanh rít lên
Hình 11.5 ảnh một bóng ma
Những quan trắc v ảnh chụp gần đây từ không gian đã phát hiện ra hiện tợng điện cha từng đợc biết ở trên đỉnh của cơn dông lốc Các bóng ma (hình 11.5) l những loạt chùm sáng điện rất lớn nhng ngắn ngủi nâng lên từ các đỉnh mây khi chớp xuất hiện ở phía dới Một bóng ma trông giống nh một con sứa mu
đỏ khổng lồ, mở rộng tới 95 km bên trên các đám mây, có các vòi mu xanh lơ hoặc xanh thẫm treo lơ lửng ở dới thân Những vụ bóng ma chỉ xảy ra khoảng một
Trang 7phần trăm của tất cả những hiện tợng chớp (Điều thú vị l, các phi công quân sự
v dân sự bây giờ thừa nhận l họ đã từng nhìn thấy những bóng ma trớc khi hiện tợng ny đợc quan sát từ các chuyến bay đặc nhiệm trong không gian, nhng
trớc đây họ thờng không thông báo về chúng, sợ rằng họ bị quy kết có chứng hoang tởng)
Những tia sáng xanh (hình 11.6) l những
vụ phóng điện hớng lên phía trên từ các phần
đỉnh cao của các bộ phận dông tố hoạt động mạnh
nhất Chúng phóng vọt lên trên với tốc độ khoảng
chớp lm cho không khí nở ra rất nhanh v tạo
thnh âm thanh quen thuộc của sấm Mặc dù âm
truyền đi rất nhanh - khoảng 0,3 km/s - song nó
chậm hơn tốc độ của ánh sáng (300000 km/s) rất
nhiều Chênh lệch ny tạo ra một khoảng trễ giữa
tia chớp v tiếng sấm; chớp cng ở xa thì thời gian
trễ cng lâu Bạn có lẽ đã biết một quy tắc kinh
Hình 11.6 Một tia sáng xanh
nghiệm để ớc lợng khoảng cách của một tia chớp: đơn giản l đếm số giây giữa chớp v sấm v đem chia cho ba để xác định khoảng cách bằng kilômét (chia cho năm để có khoảng cách bằng dặm)
Phơng pháp ny có thể sai đối với những sóng xung đập rất xa, xa hơn khoảng
20 km Sự giảm mật độ không khí theo độ cao lm cho sóng âm bị lệch hớng lên trên Tại những khoảng cách ngắn, lợng lệch hớng có thể bỏ qua Nhng với khoảng cách 20 km, thì nó đủ lm dịch chuyển các sóng âm để không thể nghe thấy tại mực bề mặt Tia chớp tởng nh xuất hiện không có sấm đôi khi đợc gọi l
chớp nhiệt, mặc dù chuyên từ ny gây nhầm lẫn ở chỗ nó hm ý có một cái gì đó không bình thờng ở loại chớp ny Sự bất thờng duy nhất chỉ l âm thanh của sấm không đạt tới ngời nghe m thôi
Bạn có lẽ đã để ý thấy rằng ở gần thì sấm nghe nh một tiếng nổ lớn, đanh ròn ngắn, còn sấm ở xa thờng hay xuất hiện thnh một tiếng rì rầm kéo di Một sóng xung của chớp tạo ra sấm có thể di một số km, nên một phần của nó có thể khá xa
đối với ngời nghe so với các phần kia Do đó, tiếng sấm tạo thnh một âm thanh kéo di vì các âm thanh của phần ở xa của sóng xung đập cần thời gian lâu hơn để
đạt tới ngời nghe Tại những khoảng cách lớn hơn, tiếng vọng của sóng âm từ các tòa nh v đồi núi có thể lm cho sấm thnh một âm thanh rì rầm
Trang 8điện) có nhiều nhất ở trên cao của khí
quyển, đó l quyển iôn, ở khoảng từ 90
đến 480 km Khí quyển tầng cao có điện
tích dơng, giống nh chúng ta thấy ở
gần cực dơng của một bình ác quy Theo
đúng nh kiểu m một bình ác quy tích
trữ năng lợng, các điện tích trong khí
quyển thể hiện năng lợng tích lũy v có
tiềm năng thực hiện công Đối với cả các
ác quy lẫn khí quyển, tiềm năng điện
đợc biểu diễn băng điện thế, tức năng
lợng trong một đơn vị điện tích Chẳng
hạn, nếu một ác quy có điện thế 1,5 V, có
nghĩa rằng 1,5 J hiện có cho một culông
điện tích (1,5 J/C) Một C tơng đơng với
điện tích m 6 ì 1019 điện tử mang theo
Điện thế cng cao, năng lợng giải phóng
từ mỗi culông vận chuyển cng lớn
Trong trờng hợp Trái Đất, hiệu
điện thế khổng lồ tồn tại giữa bề mặt v
iôn quyển - khoảng 400000 V! Građien
điện thế ny hình thnh nên cái m
chúng ta gọi l điện trờng thời tiết
đẹp Điện trờng thời tiết đẹp luôn luôn
hiện diện, thậm chí trong thời tiết xấu,
cho nên tên đúng hơn lẽ ra phải l điện
trờng trung bình Điện trờng thời tiết
đẹp có thể xem nh trạng thái nền, ở trên
đó các sự kiện cực đoan nh chớp đợcxếp chồng lên
Điện có bị truyền đi một cách thích ứng với građien điện thế của điện trờng thời tiết đẹp hay không? Có, nhng bởi vì không khí l một vật cách điện tốt, nên dòng điện yếu, khoảng 2000 culông một giây đối với ton hnh tinh (2000 A) ởBắc Mỹ, trong mỗi tòa nh điển hình
đợc mắc dây để si 200 A, nên chúng ta thấy rằng dòng điện khí quyển thực sự rất nhỏ nhoi Tuy nhiên, điện liên tục bị thất thoát, bởi vì các điện tử vận chuyển
từ bề mặt, hay (một cách tơng đơng) các điện tích dơng đợc vận chuyển khỏi khí quyển Từ đây suy ra rằng để cho trờng điện trung bình đợc duy trì, thì
nó phải liên tục đợc bù lại Thực tế lnhiễm điện chớp đợc xem l cơ chế tái tích điện chủ yếu Nói khác đi, sự tích
điện trong chớp từ mây tới đất đã truyền các điện tử cho bề mặt, duy trì hiệu điện thế v phát sinh trờng điện
Trong khí quyển tầng thấp, građien của điện trờng thời tiết đẹp bằng cỡ 100 V/m (Mặc dù điều ny có vẻ rất ấn tợng, hãy nhớ lại rằng chỉ có ít iôn có mặt, thnh thử tổng năng lợng hiện có l rất thấp) Để cho chớp xuất hiện, độ lớn của trờng phải đợc cờng hóa nhiều so với giá trị nền Chỉ khi građien điện thế đạt tới hng triệu vôn trên một mét thì điện trở của khí quyển sẽ bị sụt giảm, dẫn đến
“lóe sáng” m chúng ta gọi l chớp vtiếng rền của sấm đi kèm
Do đó, câu hỏi chớp hình thnh nhthế no l câu hỏi dông tố có tích điện đủ không Ngay cả ngy nay mới chỉ có một phần đáp án, nh chơng ny đã mô tả
An to n sét
Mặc dù rất lộng lẫy, chúng ta không đợc quên rằng sét có thể dữ tợn chết
ngời, nó giết hại trung bình 69 ngời ở Mỹ một năm v 7 ngời - ở Canađa May thay, hiểu biết ngy nay của chúng ta về sét mách bảo cho chúng ta một số quy tắc
an ton quan trọng
Thứ nhất v cơ bản nhất, đó l khi có sét, hãy luôn ẩn náu trong một tòa nh,
Trang 9không tiếp xúc với bất kỳ dụng cụ điện no hoặc máy điện thoại V dĩ nhiên, không quan sát cơn giông bão có sét từ một hồ nớc hoặc một bồn nớc nóng Các xe
ô tô (không phải loại mui trần) l tơng đối an ton, nhng không phải vì các bánh
xe bằng cao su đảm bảo cách điện với mặt đất (nh nhiều ngời vẫn nghĩ) Nguyên nhân thực sự l nếu nh xe ô tô bị dính sét, điện sẽ truyền xung quanh thân xe chứ không truyền vo phía bên trong nội thất (hoặc những ngời trong đó) Chính thực
tế ny giải thích tại sao sét hiếm khi lm rơi các máy bay, thậm chí mặc dù một chiếc máy bay dân dụng cụ thể đều bị dính sét trung bình một lần mỗi năm
11-2 Chuyên đề:
Một ng ời thấy sét hòn *
Tôi thấy sét hòn trong một trận
dông bão vo mùa hè năm 1960 Bấy giờ
tôi 16 tuổi Lúc đó vo khoảng 9g00ph
tối, trời rất tối, còn tôi đang ngồi với bạn
gái của mình bên một chiếc bn dã ngoại
trong một chiếc lều tại công viên ở phía
bắc bang New York Chiếc lều có thiết kế
mở thông ở ba mặt v chúng tôi đang
ngồi quay lng về phía khép kín Trời
ma rất nặng Một quả cầu mu trắng
nhờ - vng nhạt, kích thớc cỡ quả bóng
bn, xuất hiện ở bên trái chúng tôi, cách
khoảng 30 m, v vẻ ngoi của nó không
hề gắn liền với một tia chớp Gió nhẹ
Quả cầu ở cao 2,5 m bên trên mặt đất v
đang trôi chầm chậm về phía lều Khi vo
tới, nó lớt gần đầu chúng tôi ở khoảng
cách 1 mét, rồi đột ngột rơi xuống sn gỗ
ẩm Nó lăn long lóc theo sn ra ngoi lều
ở phía bên phải, nâng lên độ cao gần 2 m, trôi tiếp khoảng 9 m, rơi xuống đất v tắt ngấm Khi nó đi qua đầu mình, tôi không cảm thấy nóng âm thanh của nó, tôi thấy giống nh ngời ta quẹt mạnh một que diêm Khi nó lăn trên sn, nó biểu lộ những tính chất đn hồi (một nh vật lý chắc sẽ gọi chúng l những dao động rung cộng hởng) Độ rọi sáng của nó nhthể nó không sáng lóa lắm Tôi ớc lợng
nó giống nh ánh sáng của một bóng đèn nhỏ hơn 10 W Tất cả mọi chuyện kéo dikhoảng 15 giây Ngay cả bây giờ tôi vẫn nhớ nh in về nó, nh tất cả những ngời chứng kiến, bởi vì nó quá bất thờng Chỉ sau đó mời năm, tại một buổi hội thảo
về sét hòn, tôi mới nhận ra cái gì tôi đã
lẻ giết chết sáu ngời gần thnh phố Gokwe Những vụ chết do sét đang trở thnh
thờng xuyên hơn bao giờ hết ở vùng khi rừng bị thu hẹp, lng mạc sinh sống bị lộ
ra trớc những diện tích trống trải Vấn đề trở nên rất căng thẳng do sử dụng rơm rạ hoặc lá cọ lm vật liệu lợp mái nh Muội khói từ lửa bếp thấm vo rơm rạ với chất cacbon lm cho mái nh dẫn điện tốt v hấp dẫn đối với sét
Trang 10Trong khi nạn phá rừng đang lm tăng nguy cơ chết ngời do sét ở một số bộ phận của thế giới, thì ở Mỹ một mức giảm đáng kể (hơn 50 %) đã diễn ra về số tử nạn do sét từ những năm 1920 Thực tế ny còn gây ấn tợng hơn khi ngời ta cho rằng từ thời gian đó dân số đất nớc đã tăng từ khoảng 150 triệu tới 270 triệu Sự tiết giảm về số tử vong đợc xem l nhờ một phần ở sự giảm dân số các vùng nông thôn, nơi nguy cơ bị sét tấn công lớn hơn Giáo dục cộng đồng tốt hơn, thông tin cảnh báo đợc cải thiện, những tiến bộ về trợ giúp y tế v những hệ thống điện hiện
đại hóa trong nh ở v các tòa nh khác đợc xem l có đóng góp vo mức giảm ny
Bão tố: tự tiêu tan v tự sinh sôi
May mắn cho chúng ta, đại đa số những sự kiện sét gắn liền với các trận dông
tố địa phơng, thời gian sống ngắn, chúng tiêu tan trong vòng vi chục phút sau khi hình thnh Những trận dông tố đó, gọi l tố lốc khối khí, thực sự tự chúng
tiêu tan nhờ tạo ra những dòng giáng cắt mất nguồn cung ứng độ ẩm vo trong những đám mây gây ma Vì lý do đó, chúng thờng không tạo ra thời tiết khắc nghiệt Tuy nhiên, trong những dịp khác, các dòng giáng từ ma lớn thực sự lmmạnh các cơn lốc tố gây nên ma Những con lốc tố đó đợc xếp loại cực đoan v gây
ra thiệt hại v tổn thất sinh mạng nhiều nhất
Những trận lốc tố khối khí
Những trận lốc tố khối khí l phổ biến nhất v ít phá hoại nhất trong các lốc
tố Chúng cũng có thời gian sống rất hạn chế, thờng chỉ kéo di không đến một giờ Mặc dù tên gọi của nó ngụ ý rằng những trận lốc tố ny có thể chiếm cứ ton bộ những khối không khí (chúng rất rộng lớn), những trận lốc tố khối khí rất cục bộ
Nhng thuật ngữ không có nghĩa khi bạn xem rằng các trận lốc tố xuất hiện trong phạm vi những khối không khí riêng biệt v di chuyển khá xa khỏi các biên front.Hãy suy xét theo cách ny: các cơn lốc tố khối khí đợc chứa trong phạm vi các khối
không khí đồng nhất, nhng chúng không chiếm cứ to un bộ khối khí
Nhận thức hiện tại của chúng ta về các cơn lốc tố khối khí dựa trên Dự án Lốc
tố, dự nán ny nghiên cứu những sự kiện nh vậy ở Ohio v Florida trong thời gian cuối những năm 1940 Một trận lốc tố khối khí thờng gồm một số nhân riêng biệt, mỗi nhân trải qua một tuần tự ba giai đoạn khác biệt - giai đoạn mây tích, giai
đoạn trởng thnh v giai đoạn tiêu tan (hình 11.7)
Giai đoạn mây tích Giai đoạn thứ nhất của một cơn lốc khối khí bắt đầu khi
không khí bất ổn định nâng lên, thờng l do đối lu địa phơng xảy ra khi một số
bề mặt bị đốt nóng nhanh hơn những bề mặt khác Vì các cơn lốc tố khối khí thờnghay xảy ra vo ban đêm, khi không khí bị lạnh đi, chúng ta biết rằng những quá trình thăng khác có thể cũng phát động dòng thăng Bất kể quá trình no gây nên dòng thăng, không khí nâng lên sẽ bị lạnh đi đoạn nhiệt để hình thnh những đám mây tích thời tiết đẹp Những đám mây khởi đầu ny có thể tồn tại chỉ vi phút
trớc khi bốc hơi Mặc dù chúng không trực tiếp dẫn tới ma, những đám mây khởi
đầu đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển lốc tố nhờ sự di chuyển hơi
Trang 11nớc từ bề mặt lên đối lu quyển tầng trung Cuối cùng khí quyển trở thnh đủ ẩm sao cho các đám mây mới hình thnh không bốc hơi, m ngợc lại, đã lớn lên đáng
kể theo chiều thẳng đứng Quá trình lớn lên ny thể hiện giai đoạn mây tích
trong cơn lốc tố khối khí
Hình 11.7 Các giai đoạn mây tích (a), tr~ởng thnh (b) v tiêu tan (c) của một lốc tố khối khí
Các đám mây trong giai đoạn mây tích phát triển lên phía trên với tốc độ 5 đến
20 m/s Bên trong các đám mây đang lớn lên, nhiệt độ giảm theo độ cao xấp xỉ nhtốc độ giảm đoạn nhiệt bão hòa v một bộ phận của đám mây lan cao lên trên mực kết băng Các tinh thể băng bất đầu hình thnh v lớn lên nhờ quá trình Bergeron Bầu trời nhanh chóng tối xầm lại dới đám mây đang dy thêm; khi giáng thủy bắt
đầu rơi, cơn gió lốc bớc sang giai đoạn phát triển tiếp theo của nó
Giai đoạn tr ởng thnh Giai đoạn trởng thnh của cơn gió lốc khối khí
bắt đầu khi giáng thủy - thnh ma nặng hay có thể l ma tuyết bông - bắt đầu rơi Vì ma hay tuyết rơi kéo không khí xuống phía bề mặt, nên các dòng giáng hình thnh ở các khu vực giáng thủy mạnh nhất Bạn có thể quan sát thấy quá trình ny ở trong vờn nh bạn Đơn giản chỉ cần cắm vòi bơm nớc tới vờn cho chảy thật mạnh v giơ tay bạn ngay bên ngoi tia nớc; bạn sẽ cảm thấy một lngió nhè nhẹ theo hớng m vòi nớc chĩa tới Các dòng giáng đợc cờng hóa bởi sự lạnh đi của không khí - có thể tới 10oC - xảy ra vì giáng thủy bị bốc hơi
Giai đoạn trởng thnh đánh dấu thời kỳ mạnh mẽ nhất của cơn gió lốc, khi đó giáng thủy, sấm chớp v sét mạnh nhất Các trận lốc tố khối khí thờng chứa nhiều nhân, nằm trong những phần khác nhau của đám mây v đợc hình thnh ở những thời gian khác nhau Đỉnh đám mây lan tới một độ cao m ở đó các điều kiện ổn
định ngăn chặn chuyển động thăng tiếp theo Gió mạnh tại đỉnh của mây đẩy các tinh thể băng về phía trớc v tạo thnh hình dạng một cái đe quen thuộc nhô ra từ phần chính của đám mây
Trong thời gian các pha mây tích v trởng thnh của dông tố, một sự chuyển tiếp đột ngột tồn tại giữa rìa đám mây v không khí cha bão hòa xung quanh Các dòng thăng ngự trị ở phía trong của đám mây, trong khi các dòng giáng xuất hiện ở ngay bên ngoi mây Điều đó tạo nên một tình huống rối cao thuận lợi cho sự lôi cuốn (chơng 6) Sự lôi cuốn không khí cha bão hòa lm cho những các giọt ở gần
Trang 12rìa mây bé đi v lm lạnh mây do bốc hơi Bộ phận phía ngoi của đám mây trở nên
đậm đặc hơn v khó nổi hơn, do đó lm suy yếu chuyển động thăng tiếp theo
Gia đoạn tiêu tan Khi đám mây cho ma lớn cng nhiều, thì các dòng thăng chiếm cứ phần đang tăng lên của chân mây Khi các dòng thăng chiếm cứ ton bộ chân mây, sự cung cấp hơi nớc bổ sung sẽ bị dừng lại v lốc tố chuyển sang giai
đoạn tiêu tan Ma tạnh v bầu trời bắt đầu sáng ra vì những giọt mây còn lại bốc hơi Chỉ một phần nhỏ - khoảng 20 % - của lợng nớc ngng tụ trong một cơn lốc
tố thực sự rơi xuống thnh giáng thủy Lợng lớn nhất đơn giản l bốc hơi từ mây
Hình 11.8 Một cơn lốc tố khối
khí Phần đám mây có vẻ ngo i bị
xói mòn đã trở th nh hóa băng
Hình 11.8 biểu diễn một cơn lốc tố khối khí Vì nó l điển hình của những cơn lốc tố trong pha trởng thnh, mỗi tháp mây chứa một nhân riêng rẽ v ở trong một phần khác nhau của chu kỳ sống Hãy lu ý đặc biệt rằng một số mây lốc tố
có vẻ bị xói mòn v ít thể hiện rõ nét so với
số còn lại Những khu vực mây nh vậy cấu tạo hon ton từ các tinh thể băng, không có những giọt lỏng v đợc gọi l bị
hóa băng Chúng không nhất thiết phải
lạnh hơn các phần khác của đám mây; chúng chỉ l đủ gi sao cho tất cả các giọt siêu lạnh có cơ hội ngng kết thnh băng
nó cho phép các trờng gió, nhiệt độ v độ ẩm “hợp tác với nhau” v nhờ đó tạo ra những trận bão tố rất mạnh
Bởi vì những điều kiện thuận lợi cho lốc tố mạnh tồn tại trên một vùng khá lớn, nên các cơn lốc tố thờng l xuất hiện thnh những nhóm, một số cơn riêng rẽ
tụ tập với nhau Những nhóm lốc tố nh vậy thờng đợc gọi l các hệ thống đối lu quy mô vừa (MCS) Trong một số trờng hợp, các hệ thống đối lu quy mô vừa xuất hiện thnh những đai thẳng đợc gọi l những tuyến dông Một số lần khác, chúng xuất hiện thnh những đám hình ô van hoặc gần tròn đợc gọi l những tổ hợp đối lu quy mô vừa (MCC) Bất kể cách chúng sắp xếp nh thế no, các nhân dông bão riêng lẻ của một hệ thống đối lu quy mô vừa hình thnh nh một bộ
Trang 13phận của một hệ thống duy nhất Nói khác đi, những hệ thống đối lu quy mô vừa không chỉ đơn thuần l một nhóm các cơn giông bão riêng biệt ngẫu nhiên nằm ở gần với nhau; ngợc lại, các nhân giông bão phát triển từ cùng một nguồn gốc chung hay tồn tại trong một tình huống m trong đó một số nhân trực tiếp dẫn tới
sự hình thnh của các nhân khác
Các hệ thống đối lu quy mô vừa có thể gây nên những điều kiện thời tiết mạnh mẽ cho những vùng bao phủ một số quốc gia Chúng thờng có thời gian sống tới 12 giờ, nhng trong một số trờng hợp chúng có thể tồn tại lâu tới một số ngy Chúng khá phổ biến ở Bắc Mỹ; v tại một số vùng trung tâm nớc Mỹ v Canađa chúng gây nên 60 % lợng ma năm Bởi vì hon lu ở xung quanh giúp củng cố một hệ thống đối lu quy mô vừa, nên chúng dẫn tới những trờng gió mạnh hơn vgiáng thủy nặng hơn nhiều so với chúng ta thờng thấy trong một cơn lốc tố khối khí Khi có một hoặc một số đặc trng xác định hiện diện, thì một cơn dông bão trong phạm vi một hệ thống đối lu quy mô vừa đợc xếp loại l cực đoan Những cơn lốc tố cực đoan có thể cũng sinh ra từ các siêu nhân, những cơn giông bão rất mạnh chứa một dải chuyển động thăng duy nhất
Có những điều kiện nhất định cần thiết cho sự phát triển của tất cả các cơn lốc
tố Đó l sự đứt gió, trữ lợng hơi nớc cao ở trong đối lu quyển tầng thấp, một cơ chế no đó để phát sinh chuyển động thăng v một tình huống đợc gọi l sự bất ổn
định tiềm năng (đ ợc mô tả trong chuyên mục 11-3 Dự báo: Bất ổn định tiềm
năng).
Bây giờ chúng ta sẽ mô tả tóm tắt về các tuyến dông, các tổ hợp đối lu quy mô vừa v các siêu nhân Hãy luôn nhớ rằng những cơn dông bão ny có những tính chất hon ton chung v các hệ thống riêng biệt có thể không dễ m định loại Hơn nữa, các kiểu hệ thống dông bão thờng rng buộc với nhau l chuyện phổ biến
11-3 Dự báo:
Bất ổn định tiềm năng
ở chơng 6 chúng ta đã thảo luận
khái niệm độ ổn định tĩnh, một hm của
tốc độ giảm nhiệt độ Một kiểu bất ổn
của ton bộ lớp không khí có thể lm cho
tốc độ giảm nhiệt độ của nó tăng lên, do
đó dẫn đến không khí bất ổn định tĩnh
Ta xét tình huống nghịch nhiệt đợc thể hiện trên hình 1 Ngay phía dới đáy của nghịch nhiệt (phần tử 1) nhiệt độ (T)
bằng 26o
C v điểm sơng (Td) bằng 22o
C Ngay bên trên đáy nghịch nhiệt (phần tử 2) nhiệt độ v điểm sơng tuần tự bằng
27oC v 19o
C Bây giờ xem điều gì xảy ra với các phần tử 1 v 2 nếu một quá trình thăng no đó nâng ton bộ khối khí lên Cả hai phần tử cha bão hòa, nên chúng
bị lạnh đi theo tốc độ giảm đoạn nhiệt khô bằng 1 o
C/100 m, còn các điểm sơng của chúng giảm 0,2o
C/100 m Sau khi nâng lên đợc 500 m, nhiệt độ của cả hai phần tử giảm đi cùng một lợng, nên hiệu nhiệt độ giữa hai phần tử sẽ không thay đổi Tuy nhiên, phần tử 1 bây giờ bão hòa, khi tiếp tục nâng lên sẽ lm cho
Trang 14nhiệt độ của nó giảm đi theo tốc độ giảm
đoạn nhiệt bão hòa (SALR) Trong khi đó
phần tử 2 vẫn cha bão hòa, nên sự nâng
lên tiếp lm cho nó bị lạnh đi theo tốc độ
giảm đoạn nhiệt khô (DALR)
Hình 1 Bất ổn định tiềm năng xuất hiện khi
một lớp không khí nóng, khô nằm ở bên trên
không khí ẩm Các trắc diện nhiệt độ (đờng
liền) v điểm sơng (đờng gạch nối) thể
hiện tình huống ny Điều gì sẽ xảy ra với
các phần tử không khí ở 50 m bên trên v
bên dới đáy của nghịch nhiệt? Bởi vì phần
tử 1 gần bão hòa (tức điểm sơng gần với
nhiệt độ không khí), sự nâng lên lm cho nó
trở thnh bão hòa sau 500 m chuyển động
thăng Phần tử 2 ở bên trên nghịch nhiệt
không trở thnh bão hòa trớc khi nâng lên
đợc 1000 m Do đó, sau khi cả hai đã nâng
lên đợc 1000 m, thì phần tử 2 bị lạnh đi
nhiều hơn so với phần tử 1 v tốc độ giảm
nhiệt độ trở nên lớn đủ để lm cho không khí
bất ổn định tĩnh
Bây giờ ta nâng tiếp hai phần tử lên
500 m nữa Nếu chấp nhận rằng SALR
ổn định tĩnh Nh vậy, không khí ổn định tĩnh có tiềm năng trở thnh không khí bất ổn định tĩnh nếu có một chuyển động thăng đủ thích hợp - từ đó có thuật ngữ
bất ổn định tiềm năng.
Cả lý thuyết lẫn thực nghiệm đều cho thấy rằng bất ổn định tiềm năng lmột nhân tố quan trọng trong sự phát triển của lốc tố cực đoan TRong thời gian mùa xuân v mùa hè, vùng phía nam bình nguyên Great Plains thờng có không khí nóng, ẩm ở gần bề mặt đợcmang tới từ vịnh Mexico Bên trên vùng nay, ở đối lu quyển tầng trung, gió tây mang không khí lạnh tới từ phía nam dãy núi Rocky Không khí ny trong đối luquyển tầng trung bị hạ thấp xuống một phần sau khi đi qua dãy núi Rocky để hình thnh một nghịch nhiệt giáng, nó cản trở sự phát triển của các trận lốc tố khối khí Nhng nếu có một chuyển động thăng đủ thích hợp, lớp không khí bề mặt
có thể trở nên bất ổn định tĩnh v những trận lốc tố có thể phát triển
Những tổ hợp đối lu quy mô vừa.ở Mỹ v Canađa, phần lớn thời tiết cực
đoan thờng xuất hiện từ những tổ hợp đối lu quy mô vừa (hình 11.9) Theo nghĩa chung nhất, chúng l những hệ thống có tổ chức thnh hình ô van hoặc gần tròn chứa một số cơn lốc tố.*
* Cỏc nhà khớ tѭӧng hӑc cú nhӳng tiờu chớ chớnh xỏc ÿӇ phõn loҥi mӝt hӋ thӕng tә hӧp ÿӕi lѭu quy mụ vӯa dӵa trờn dҩu hiӋu cӫa nú trờn ҧnh vӋ tinh Vӟi nhӳng mөc ÿớch cӫa mỡnh, chỳng ta sӁ chӍ ÿѫn thuҫn
ỏp dөng chuyờn tӯ này cho cỏc hӋ thӕng cú tә chӭc gӗm nhӳng cѫn lӕc tӕ tө tұp vӟi nhau trong mӝt hỡnh thӃ gҫn giӕng vӟi hỡnh trũn hѫn là dҥng thҷng
Trang 15Hình 11.9 ảnh vệ tinh thể hiện một tổ hợp đối l~u quy mô vừa
bên trên miền đông của Nam Dakota
Hình 11.10 ảnh rađa chỉ rõ hai ranh
giới dòng đi ra
Mặc dù không phải tất cả các hệ thống đối lu quy mô vừa tạo thnh thời tiết cực đoan, chúng có tính chất tự sinh sôi, trong đó các nhân riêng lẻ thờng tạo ra những dòng giáng, dẫn tới hình thnh những nhân mới, mạnh hơn ở bên cạnh Để thấy điều ny xảy ra nh thế no, hay hình dung một nhóm lớn các cơn dông tố Tại
bề mặt một dòng không khí nóng, ẩm đi tới từ phía nam, còn trong đối lu quyển tầng trung gió thổi từ phía tây nam Điều kiện ny tạo nên sự đứt gió cần thiết cho một cơn lốc tố cực đoan Nh chúng ta đã thấy, giáng thủy từ nhân của mỗi cơn lốc
tố tạo nên dòng giáng của riêng nó, dòng giáng ny mạnh lên nhờ sự lạnh đi của không khí khi ma bốc hơi v tiêu thụ ẩn nhiệt Trong khi chạm tới bề mặt, các dòng giáng lan tỏa ra phía ngoi v hòa hợp với không khí xung quanh nóng hơn để tạo thnh một ranh giới dòng đi ra (hình 11.10)
Trang 16Hình 11.11 minh họa sự di chuyển tịnh tiến của các nhân trong một tổ hợp đối lu quy mô vừa Lúc đầu, tại thời gian t=0, năm nhân đợc ghi nhãn l A,B,C,D
v E di chuyển về phía đông bắc ít lâu sau, tại t=1, các nhân B đến E đã di c
về phía đông bắc Nhân A , nằm xa nhất về phía bắc, đã bị tn lụi, trong khi dọc theo rìa phía nam của tổ hợp, một nhân mới F đã hình thnh Tại t=2, nhân B
đã tn lụi để đợc thay thế bằng nhân G gần phía nam Theo cách ny, tổ hợp các
cơn lốc tố di chuyển về phía đông, mặc dù mỗi nhân riêng rẽ di chuyển về phía đông bắc Gần rìa phía nam của tổ hợp đối lu quy mô vừa, dòng đi ra lạnh va chạm với với dòng gió nam bề mặt quy mô lớn v nâng nó lên phía trên Không khí nóng, ẩm
bị lôi cuốn về phía rìa nam của tổ hợp đối lu quy mô vừa, nơi nó hình thnh những nhân mới Đồng thời, những nhân cũ hơn ở phía bắc của tổ hợp đối lu quy mô vừa tiêu tan vì chúng bị thiếu các dòng thăng cần thiết để bồi bổ thêm Nói chung, ton
bộ cơn dông tố có vẻ di chuyển về phía đông ngay cả khi từng nhân riêng rẽ di chuyển về phía đông bắc
Hình 11.11 Sự di chuyển của các nhân lốc tố trong một tổ hợp đối l ~u quy mô vừa
Lúc đầu (tại t = 0) tất cả các nhân di chuyển về phía đông bắc Các nhân ở h ngA
l những nhân gi nhất, các nhân ở hngE vừa mới hình thnh Sau đó (t = 1) các
nhân ở h ngA đã tiêu tan, nh~ng một hng mới, F đã hình thnh gần rìa phía nam
của tổ hợp Tại t = 2, hng B đã tiêu tan, trong khi một hng mới (G) đã hình thnh
Những cơn lốc tố trong tuyến dông Những cơn lốc tố trong tuyến dông
gồm nhiều nhân dông bão riêng rẽ đợc sắp xếp trong một đai thẳng di khoảng
500 km (hình 11.12) Chúng có xu hớng hình thnh song song v cách 300 đến 500
km về phía trớc của các front lạnh, đặc biệt trên miền đông bắc nớc Mỹ trong thời gian mùa xuân v mùa hè Tuyến dông trung bình có một thời gian sống cỡ 10 giờ, mặc dù một số tuyến dông có thể kéo di tới bốn ngy
Giống nh trờng hợp với tất cả những cơn lốc tố mạnh, độ đứt gió thẳng đứng
Trang 17lớn l một yếu tố quan trọng của những cơn lốc tố trong tuyến dông Nh đã thể hiện ở hình 11.13, các tốc độ gió trên hớng di chuyển của giông bão điển hình tăng lên theo chiều cao Gió mạnh ở bên trên đẩy dạt các dòng thăng về phía trớc của các dòng giáng v cho phép không khí đang nâng lên cung cấp độ ẩm bổ sung cho cơn dông bão Khi các dòng giáng đạt tới mặt đất, chúng trn lên phía trớc thnhmột lỡi không khí lạnh, đậm đặc đợc gọi l một front đứt gió Các front đứt gió hoạt động rất giống nh các front lạnh đang trn tới, chúng lm cho không khí nóng di chuyển trờn lên trên (xem hình 1.7)
Hình 11.12 ảnh rađa về một tuyến
dông
Hình 11.13 Các cơn lốc tố trong tuyến dông đòi hỏi sự có mặt độ đứt gió Các mũi tên trong (a) biểu diễn tốc độ gió so với sự di chuyển của lốc tố Sự di chuyển của không khí trong phạm vi hệ thống mây tích dông đ ~ợc biểu diễn trong (b) Phần bên trên của mây bị đẩy về phía tr ~ớc nhanh hơn so với phần phía d~ới, lm cho không khí nóng,
ẩm bị lôi cuốn lên Hãy chú ý front đứt gió ở gần mặt đất phía tr ~ớc cột m~a
Trang 18Những dông bão siêu nhân Một số ít hệ thống thời tiết, gọi l dông bão siêu nhân (hình 11.14) cũng rất đáng sợ Với đờng kính biến thiên từ khoảng 20 đến 50
km, chúng nhỏ hơn so với các tuyến dông hoặc các tổ hợp đối lu quy mô vừa Mặt khác, chúng thờng hung dữ hơn v tạo điều kiện cho đại đa số những vòi rồng lớn xuất hiện Khác với các tổ hợp đối lu quy mô vừa v các tuyến dông, một cơn lốc tố siêu nhân cấu tạo từ một nhân duy nhất, cực mạnh, chứ không phải l một số nhân riêng rẽ.* Chúng còn trải qua một chuyển động xoay quy mô lớn m chúng ta không thấy với các tuyến dông v các tổ hợp đối lu quy mô vừa Thời gian sống điển hình của một siêu nhân l từ 2 đến 4 giờ
Hình 11.14 Siêu nhân Hình 11.15 Cấu trúc bên
trong của một siêu nhân
Mặc dù có một nhân duy nhất, các cơn lốc tố siêu nhân có cấu trúc khá phức tạp, dòng thăng v dòng giáng uốn cong v cuộn với nhau do sự đứt gió (hình 11.15) Giống nh trong một hệ thống thời tiết khác bất kỳ sinh ra thời tiết cực
đoan, các dòng giáng có tác dụng lm tăng cờng các dòng thăng bên cạnh
Các nh khí tợng học rất quan tâm theo dõi những siêu nhân Rất may, họ có một công cụ rất hữu ích l rađa thời tiết Một kiểu đặc biệt, gọi l rađa Doppler,
đợc mô tả trong chuyên mục 11-4 Dự báo: Rađa Doppler Rađa có thể phát hiện
đợc một trong những thnh tạo đáng chú ý nhất của một siêu nhân, đợc gọi l
móc câu, nó trông giống nh một cái móc nhỏ gắn vo khối chính của một cơn lốc
tố trên ảnh rađa (hình 11.16).** Các móc câu rất quan trọng, bởi vì sự xuất hiện của chúng thờng có nghĩa vòi rồng sắp hình thnh
Khi chúng ta nhìn từ vệ tinh hoặc từ mặt đất, siêu nhân có vẻ nh một khối mây lớn, liên tục Tuy nhiên, khi nó hiển thị trên một tấm ảnh rađa, chúng ta thấy rằng một bộ phận lớn của dông - thờng ở cung phần t đông nam - có vẻ nh bị khuyết (xem hình 11.16) Vùng ny, đợc gọi l một khoảng trời trống (vault), lnơi dòng đi vo của không khí nóng bề mặt đi vo siêu nhân Không khí đi vokhoảng trời trống nâng lên, v hơi nớc ngng tụ để hình thnh một vùng nồng độ
* Cỏc siờu nhõn thѭӡng xuҩt hiӋn thành dụng bóo biӋt lұp, mһc dự ngѭӡi ta cNJng cú quan trҳc thҩy
“nhӳng tuyӃn dụng” cӫa cỏc siờu nhõn
**
Múc cõu ÿụi khi cũn ÿѭӧc gӑi là õm vӑng múc cõu theo cỏch mà cỏc súng raÿa phҧn xҥ tӯ ÿú, giӕng nhѭ súng õm vӑng tӯ tѭӡng cӫa hҿm nỳi
Trang 19cao các giọt nớc Nhng những giọt mới hình thnh trong khoảng trống rất bé nhỏ không phản xạ các sóng rađa một cách hiệu quả Do đó, vùng ny không đợc nhìn thấy trên ảnh rađa, cho dù nồng độ cao của những giọt nớc.
Hình 11.16 (a) Tổ chức điển hình của một siêu nhân trên ảnh rađa Vùng không
phản xạ rađa (KT) ở về phía đông nam l vùng bầu trời bị án ngữ bởi một móc
câu âm vọng ở phía nam (b) Một tấm ảnh rađa thực thể hiện một móc câu
Trang 2011-4 Dự báo: Rađa Doppler
âm bị nén lại khi một vật di chuyển về
phía ngời nghe, lm cho nó có mức âm
cao hơn Một cách vô thức, chúng ta sử
dụng nguyên lý ny, gọi l hiệu ứng
Doppler, để xác định một xe cứu thơng
đang tới gần hay di chuyển xa dần Nếu
nh mức của tín hiệu báo động tỏ ra trở
nên cao hơn, chúng ta biết xe cứu thơng
đang tới gần (dĩ nhiên, tiếng còi báo động
cũng sẽ to hơn) Một quá trình tơng tự
diễn ra khi các sóng điện từ bị phản xạ
lại bởi một đối tợng di chuyển: ánh sáng
sẽ chuyển dịch tới các bớc sóng ngắn
hơn khi bị phản xạ từ một vật đang di
chuyển về phía máy thu v tới các bớc
sóng di hơn khi nó phản hồi từ một vật
di chuyển ra xa khỏi máy thu
Rađa Doppler l một loại hệ thống
rađa ứng dụng u điểm của nguyên lý
ny Nó cho phép ngời dùng quan sát sự
chuyển động của các giọt ma v phần tử
băng (v đo đó xác định tốc độ v hớng
gió) từ sự dịch chuyển bớc sóng của các
sóng rađa Giống nh mọi loại rađa khác,
rađa Doppler có một máy phát phát ra
các xung năng lợng điện từ với bớc
sóng cỡ một số cm Tùy thuộc vo bớc
sóng sử dụng, các giọt nớc v tinh thể
tuyết lớn hơn những kích thớc tới hạn
no đó sẽ phản xạ một phần năng lợng
điện từ của rađa trở lại máy phát/máy
thu Rađa Doppler chuyên về khả năng
quan sát chuyển động của các hợp phần
mây Nếu một giọt mây đang di chuyển
xa dần khỏi trạm rađa, thì bớc sóng của
chùm tia hơi bị di ra khi nó phản hồi từ
Hình 1 Một tấm ảnh rađa Doppler vật phản xạ Những sóng phản xạ nhvậy thờng đợc chỉ định trên mn hình hiển thị thnh các mu từ đỏ thẫm đến vng Tơng tự, một giọt di chuyển về phía trạm rađa lm bớc sóng ngắn lại Các tín hiệu phản hồi từ những hợp phần nh vậy đợc hiển thị thnh mu xanh lơ hoặc xanh đậm trên mn hình rađa Hình 1 thể hiện một hiển thị rađa Doppler trong một trận lốc tố cực đoan Gần tâm của tấm ảnh l một vùng nhỏ, mu xanh nhạt bị bao bọc ở phía bên phải bởi một diện tích mu da cam v đỏ Các mu nóng thể hiện gió thổi đi ra xa khỏi máy phát Các mu ở bên trái (các mulạnh) chỉ thị gió mạnh hớng về phía rađa Sự chuyển đổi về hớng gió chỉ thị một chuyển động xoay ngợc kim đồng hồ với bán kính bằng một số km Nh chúng
ta sẽ bn luận sau ở chơng ny, hình thế
đó gọi l một xoáy thuận quy mô vừa, thờng báo trớc về sự hình thnh một vòi rồng Sau khi bắt đầu chuyển động xoay, chỉ cần 30 phút hoặc đại loại nhvậy thì vòi rồng hình thnh, nó cho phép các nh khí tợng học đa ra tin cảnh báo trớc
Gần đây, vo những năm 1980, Cơ quan Thời tiết Quốc gia Hoa Kỳ đã sử dụng một mạng lới các trạm rađa sản xuất trong những năm 1950 Thiết bị quá lỗi thời, nó dựa trên các bóng điện tử chân không chứ không phải các bóng bán dẫn! Trong thời gian đầu những năm
1990, Cơ quan Thời tiết đã bắt đầu thay thế hệ thống cũ từ các rađa truyền thống
Trang 21Hình 2 Các vị trí rađa Doppler trên nớc Mỹ bằng một mạng lới hiện đại đợc gọi l
NEXRAD (rađa thế hệ sau) Trạm thứ
nhất, đặt ở Norman, Oklahoma, bắt đầu
vận hnh từ đầu năm 1991 v ngay trong
ngy đầu tiên phục vụ đã theo dõi đợc
một vòi rồng, vòi rồng ny phá hủy hai
tòa nh May thay, rađa đã giúp các nh
dự báo phát ra một bản tin cảnh báo có
thể đã góp phần lm cho không một ai bị
chết hay bị thơng
Ngy nay, gần 160 trạm rađa phân
bố trên nớc Mỹ (hình 2) Cơ quan Thời
tiết Quốc gia vận hnh 113 trạm trong số
đó; phần còn lại thuộc sở hữu của Cơ
quan Hng không Liên bang v Bộ quốc
phòng Một phần do eo hẹp kinh phí, Nha
Môi trờng Khí quyển của Canađa chỉ có một nhóm nhỏ các trạm rađa Doppler Bởi vì cả hai phía khu vực biên giới có xu hớng dân c đông đúc hơn, rađa Doppler
từ Hoa Kỳ đảm bảo phủ rộng theo dõi những lốc tố có thể ảnh hởng tới nhiều trung tâm đô thị lớn của Canađa
NEXRAD còn có ích đối với công tác
dự báo lụt, nó cung cấp ớc lợng giáng thủy liên tục trên những vùng rộng lớn Rađa Doppler đôi khi có thể quan sát chuyển động gió ngay cả khi mây không tồn tại, vì những đám lớn côn trùng bay hoặc nồng độ bụi cao phản xạ sóng rađa trở lại phía máy phát Sóng phản hồi trong trờng hợp ny gọi l phản hồi
không khí sạch.
Gió giật giáng xuống v gió giật vi mô
Chúng ta đã thấy các dòng giáng l một thnh tạo của những cơn lốc tố quan trọng nh thế no, đặc biệt trong việc duy trì những cơn lốc tố cực đoan Các dòng giáng còn có thể tạo ra những đợt truyền gió giật xuống dới, những cơn gió giật tiềm tng nguy hiểm chết ngời có thể đạt tới các tốc độ trên 270 km/h Khi các dòng giáng mạnh đạt tới bề mặt, chúng có thể tỏa ra tất cả các hớng để hình