Thậm chí trong mùa bão hoạt động khiêm tốn nhất khoảng từ năm 1968 đến 1989, cũng đã có khoảng 11 cơn bão trên vùng biển ny.ở thái cực khác, không có một cơn bão nhiệt đới no đợc hình
Trang 1CHƯƠNG 12 BãO V XOáY THUậN NHIệT ĐớI
Không ai đã từng sống ở miền nam Florida, khi cơn bão Andrew (hình 12.1) quét qua vùng ny vo tháng 8 năm 1992, có thể quên đợc những gì đã trải nghiệm Bão Andrew có kích thớc tơng đối bé, nhng lại mạnh đặc biệt, với gió giật lên tới 280 km/h (175 dặm một giờ) v di chuyển rất nhanh qua bán đảo Thoạt nhìn, trận bão ny có sức tn phá không lớn nh nhiều trận bão khác; mặc dù Andrew có gây nên lụt cục bộ, song lợng ma không đặc biệt lớn Điều ny rất trái
ngợc với những gì m Florida phải chịu đựng với trận bão Irene vo tháng 10 năm 1999
Hình 12.1 ảnh vệ tinh đã xử lý thể hiện sự tiến triển của bão Andrew khi nó đi qua Florida v vo vịnh Mexico tháng 8 năm 1992
Bão Irene l điển hình của các cơn bão nhiệt đới mạnh, đợc hình thnh vocuối mùa bão: kích thớc lớn v di chuyển chậm Mặc dù những cơn bão ny không
có sức gió mạnh khủng khiếp nh của bão Andrew, nhng chúng có thể mang theo
ma lớn trong nhiều ngy v gây lũ lụt nặng nề Với trờng hợp bão Irene, phần lớn miền nam Florida nhận đợc lợng ma tới 27 cm, gây lũ lụt trên diện rộng Nadia Gorriz ở hạt Miami-Dade l một trong nhiều nạn nhân của cơn bão ny
Nớc lụt tạo thnh đầm lầy xung quanh nh của chị đã biến khu vực ny thnh
Trang 2một môi trờng con ngời không thể sống đợc, nhng lại l nơi ngụ c hon tontuyệt vời cho rắn v cá Vậy nên chị quyết định công việc thu dọn: “Chúng tôi đã lm đợc điều đó với bão Andrew Chỉ cần vứt bỏ mọi thứ M khi ấy cũng không nhiều nớc nh vậy Còn bây giờ thì phải dọn dẹp khổ sở cha từng thấy Chúng tôi
đã si hết hai thùng Clorox II Thế đấy”
Những cơn bão nhiệt đới không chỉ giới hạn sự giận dữ của mình ở các vùng ven biển v bên trong đất liền; chúng đã từng l thần trừng phạt đối với những ngời đi biển trong nhiều thế kỷ Chúng nhấn chìm vô số tu biển v thậm chí còn
đóng một vai trò quan trọng trong Thế chiến 2, khi ấy chỉ một cơn bão duy nhất (tơng đơng với một bão nhiệt đới ở Tây Thái Bình Dơng) đã lm chìm hoặc hhại nặng nề nhiều tu chiến của Mỹ, phá huỷ hng trăm máy bay trên các chiến hạm v giết chết hơn 800 thuỷ thủ Con số tử vong còn lớn hơn hầu hết các trận chiến trên biển trong cuộc chiến tranh ny
Trong chơng ny, đầu tiên chúng tôi sẽ mô tả phân bố của xoáy thuận v bão nhiệt đới Sau đó, sẽ trình by những tính chất chung, các giai đoạn phát triển vcác kiểu di chuyển đặc trng của bão v kết thúc bằng những hệ thống theo dõi vcảnh báo
Bão nhiệt đới trên Trái Đất
Những cơn bão nhiệt đới cực mạnh đợc gọi bằng các tên khác nhau tuỳ thuộc
vo nơi chúng xảy ra ở trên Đại Tây Dơng v Đông Thái Bình Dơng, ngời ta gọi chúng l bão nhiệt đới (hurricane) Trên các vùng biển cực tây Thái Bình Dơng
chúng đợc gọi l bão (typhoon); còn ở ấn Độ Dơng, chúng đợc gọi đơn giản lxoáy thuận (cyclone) Về cấu trúc, cả ba loại bão về cơ bản l nh nhau, tuy nhiên typhoon tỏ ra lớn hơn v mạnh hơn các loại khác Chúng ta sẽ sử dụng thuật ngữ
bão nhiệt đới (hurricane) lm một lớp chung các trận bão, bất kể nơi chúng xảy ra Phần lớn dân c Mỹ thờng liên tởng các cơn bão nhiệt đới với những cơn bão
đợc hình thnh trên Đại Tây Dơng hoặc vịnh Mexico Thế nhng, những phần còn lại của thế giới lại bị ảnh hởng nhiều hơn của các trận bão nhiệt đới (bảng 12.1 v hình 12.2) Đại Tây Dơng v vịnh Mexico hứng chịu trung bình 5,4 cơn bão mỗi năm, trong khi phần phía đông ở Bắc Thái Bình Dơng ngoi khơi Mexico có trung bình 8,9 trận Phần lớn các cơn bão ở Đông Thái Bình Dơng di chuyển về phía tây,
đi xa ra khỏi những trung tâm dân c, cho nên chúng ít đợc công chúng chú ý Tuy nhiên, đôi khi chúng đã di chuyển lên phía đông bắc v mang theo lũ lụt dữ dội vtổn thất về ngời cho miền tây Mexico
Khu vực có số lợng bão lớn nhất, vợt xa những con số vừa rồi l phần phía tây của Bắc Thái Bình Dơng Trong một năm đặc trng, gần 16 cơn bão đổ bộ lên khu vực Thậm chí trong mùa bão hoạt động khiêm tốn nhất khoảng từ năm 1968
đến 1989, cũng đã có khoảng 11 cơn bão trên vùng biển ny.ở thái cực khác, không
có một cơn bão nhiệt đới no đợc hình thnh trên Đại Tây Dơng Nam bán cầu, thậm chí ở các vĩ độ nhiệt đới Nh chúng ta sẽ thấy sau đây, bão nhiệt đới phụ thuộc vo thủy vực biển lớn với nớc ấm, m điều kiện ny thì không thấy ở thủy
Trang 3vực Nam Đại Tây Dơng tơng đối nhỏ
Bảng 12.1 Số l~ợng bão nhiệt đới cực đại, cực tiểu v trung bình trong một năm
trên các vùng của Đại d~ơng Thế giới thời kỳ 1968-1989 (1968-1990 đối với Nam bán cầu)
Thủy vực Cực đại Cực tiểu Trung bình
Nguồn: Đại học Colorado
Điều kiện nhiệt đới
ở chơng 8, chúng ta đã thấy rằng phần lớn thời gian trong năm, không khí
chuyển động xoay hớng ra khỏi các nhân áp suất cao khổng lồ choán những phần
rộng lớn của Đại Tây Dơng v Thái Bình Dơng Không khí ở tầng giữa v tầng
trên của khí quyển dọc theo rìa phía đông của những xoáy nghịch ny chuyển động
giáng khi tiến dần đến bờ phía tây của các lục địa lân cận Do không khí không
chìm xuống đến tận bề mặt, nên một nghịch nhiệt giáng (xem chơng 6) đợc hình
thnh ở phía bên trên bề mặt đất Nghịch nhiệt giáng ny đợc gọi l nghịch
nhiệt gió mậu dịch (trade wind inversion) Không khí ở bên dới nghịch nhiệt, gọi
l lớp gần biển, thờng mát v tơng đối ẩm
Hình 12.2 Phân bố của bão nhiệt đới trên to n cầu
Trang 4Độ dy của lớp gần biển v độ cao của đáy nghịch nhiệt biến đổi trên các vùng
đại dơng nhiệt đới khác nhau Nghịch nhiệt có độ cao thấp nhất dọc theo rìa phía
đông của các đại dơng, nơi đó nớc trồi v các hải lu lạnh giữ cho lớp gần biển tơng đối mát ở đây, nghịch nhiệt nằm ở khoảng vi trăm mét bên trên mực nớcbiển Xa hơn về phía tây, nớc bề mặt ấm hơn sởi ấm lớp gần biển khiến cho nó lan lên tới một độ cao lớn hơn Trên các phần phía đông của các đại dơng, lớp nghịch nhiệt thấp cản trở sự phát triển thẳng đứng của mây, nên mây tầng thấp thờng phổ biển ở khu vực ny Xa hơn về phía tây, nghịch nhiệt ở cao hơn (hoặc thậm chí chúng có thể biến mất) cho phép đối lu mạnh hơn, các đám mây đối ludy dễ hình thnh hơn Chính vì thế m nhiều trận bão nhiệt đới hơn thờng xảy
ra ở phần phía tây của các thủy vực đại dơng
Các đặc tr ~ng của bão nhiệt đới
Bão nhiệt đới l bão mạnh lớn nhất trong các loại bão Năng lợng tiềm trữ của một cơn bão biệt đới có thể vợt cả lợng tiêu thụ điện năm của Mỹ v Canađa Cụ thể, bão nhiệt đới có các tốc độ gió ổn định cỡ 120 km/h hoặc lớn hơn Mặc dù tốc độ gió của chúng nhỏ hơn của các xoáy lốc, nhng bão nhiệt đới có kích thớc lớn hơn nhiều v tồn tại lâu hơn áp suất không khí tại mực biển ở gần tâm của một cơn bão điển hình bằng khoảng 950 mb, nhng áp suất xuống tới 870 mb cũng đã từng thấy trong những cơn bão nhiệt đới cực mạnh Những cơn bão nhiệt đới yếu nhất có
áp suất tại tâm vo khoảng 990 mb
Trái ngợc với tố lốc, có đờng kính trung bình vo khoảng vi chục mét, bão nhiệt đới có đờng kính đặc trng khoảng 600 km (350 hải lý) Nh vậy, bão nhiệt
đới nhìn chung có đờng kính lớn gấp hng nghìn lần đờng kính của tố lốc Nhớ rằng diện tích của hình tròn tỉ lệ với bình phơng bán kính, còn bão v tố lốc đều có dạng gần tròn, ta có thể thấy diện tích bao phủ bởi một cơn bão lớn vo khoảng
hng triệu lần diện tích của một cơn tố lốc Hơn nữa, tố lốc chỉ tồn tại nhiều nhất trong khoảng vi giờ, còn một trận bão bão nhiệt đới có thời gian tồn tại một số
ngy hoặc thậm chí một tuần v hơn nữa
Bởi vì các cơn bão nhiệt đới nhận đợc phần lớn năng lợng của chúng từ nhiệt lợng ẩn đợc giải phóng trong quá trình ngng tụ, nên chúng xuất hiện phổ biến nhất ở những nơi có lớp nớc dy nóng ở phía dới cấp nhiên liệu cho chúng Nếu biết rằng các đại dơng ở miền nhiệt đới có nhiệt độ bề mặt cao nhất v tốc độ bay hơi lớn nhất vo cuối mùa hè v đầu mùa thu, nên không ngạc nhiên khi thấy tháng 8 v tháng 9 l những tháng bão chủ yếu ở Bắc bán cầu, các tháng từ 1 đến 3
l mùa bão chính ở Nam bán cầu *
Bão nhiệt đới không cấu tạo chỉ từ một nhân đối lu Ngợc lại, nó gồm khá nhiều các khu vực dông xoáy đợc sắp xếp thnh một thnh tạo vòng xoáy, trong đó những dải mây dy đặc v ma dông lớn xoay ngợc chiều kim đồng hồ (ở Bắc bán
* Trung tâm Quốc gia về Bão nhiệt đới của Hoa Kỳ định nghĩa mùa bão l thời kỳ từ 1/6
đến 30/11 Các bão nhiệt đới trong những tháng khác thờng l những sự kiện hiếm - từ năm 1871 đến 1996 chỉ có 6 trận bão hình thnh trong tháng 12
Trang 5cầu) xung quanh tâm bão (hình 12.3) Những dải mây đối lu mạnh bị phân cách bởi các khu vực thăng yếu hơn v giáng thủy ít mạnh hơn Tốc độ gió v cờng độ giáng thủy cả hai tăng lên về phía tâm của hệ thống, đạt tới một cực đại ở khoảng
10 đến 20 km cách tâm, nơi đó đợc gọi l th unh mắt bão (đợc mô tả ở một mục
sau đây)
Mặc dù bão nhiệt đới thờng có kích thớc bằng khoảng một phần ba kích
thớc của các xoáy thuận vĩ độ trung bình, song chênh lệch áp suất trong bão nhiệt
đới lại lớn hơn gấp khoảng hai lần Vì vậy, bão nhiệt đới có građien áp suất theo
phơng ngang rất lớn sinh ra gió rất mạnh: những cơn bão nhiệt đới cỡ trung bình
có gió đỉnh điểm vo khoảng 150 km/h (90 dặm một giờ), còn những cơn bão nhiệt
đới mạnh nhất có gió tới 350 km/h (210 dặm một giờ) Ngoi việc nhỏ hơn v mạnh hơn so với các xoáy thuận ở vĩ độ trung bình, các cơn bão nhiệt đới còn khác biệt ở chỗ chúng không có các front nh trong các xoáy thuận ngoại nhiệt đới
Hình 12.3 Lát cắt qua một cơn bão nhiệt đới điển hình
Bão nhiệt đới còn khác biệt với các xoáy thuận vĩ độ trung bình ở chỗ chúng lnhững xoáy thuận có nhân nóng Khi không khí chuyển động về phía áp suất thấp
ở tâm bão, mặt đại dơng ấm cung cấp những lợng lớn ẩn nhiệt v hiển nhiệt cho lớp không khí nằm bên trên Do áp suất bên trong không khí chuyển động sẽ giảm khi không khí di chuyển về nơi có áp suất thấp, sự giãn nở đoạn nhiệt giữ cho nhiệt
độ không tăng lên quá nhiều, cho nên ở dới đáy bão chỉ có một chút chênh lệch nhiệt độ Mặc dù vậy, rất nhiều năng lợng nhiệt đợc bổ sung thêm ở vùng tâm (do không khí chuyển động xoáy vo mang theo ẩn nhiệt v hiển nhiệt), tạo nên
Trang 6một “nhân nóng” ở phía trên cao, sau khi ngng tụ v giải phóng ẩn nhiệt, sự nóng lên đợc phản ánh qua nhiệt độ, thnh thử nhiệt độ không khí ở gần tâm lớn hơn nhiều so với nhiệt độ của không khí xung quanh (hình 12-4)
Vì l một áp thấp có nhân nóng, áp suất trong phạm vi một bão nhiệt đới giảm tơng đối chậm khi tăng độ cao (chơng 10) Vì vậy, građien áp suất phơng ngang trong phạm vi bão dần dần giảm theo độ cao ở khoảng 7,5 km - khoảng mực 400
mb - áp suất không khí ở tâm tơng tự nh áp suất ở ngay phía ngoi của bão Từ
độ cao ny cho tới những tầng thấp của bình lu quyển, bão nhiệt đới có áp suất cao
tơng đối Nh vậy, không giống nh ở phần dới của bão nhiệt đới, nơi m không khí xoay theo kiểu xoáy thuận, không khí ở phần trên của nó xoay theo kiểu hình xoắn nghịch từ tâm ra ngoi (theo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu)
Hình 12.4 Những chênh lệch nhiệt độ trong bão nhiệt đới so với không khí
xung quanh ở gần bề mặt, nhiệt độ chỉ tăng nhẹ về phía mắt bão Nh~ng ở
trên cao, các nhiệt độ lớn hơn so với xung quanh khoảng 10 o C
ở các mực trên cùng của bão, các nhiệt độ thấp lm cho những giọt nớc bị
đóng băng thnh các tinh thể băng Khi các tinh thể băng chuyển động xoay từ tâm bão ra phía ngoi, chúng tạo thnh những mn mây ti tầng bao phủ v lm mờ nhạt cấu trúc vòng xoáy của bão Điều đó giải thích vì sao trên những tấm ảnh vệ tinh các bão nhiệt đới thờng có vẻ có một độ dy v cờng độ đồng nhất, song thực
ra chúng phân đới rất rõ nét
Trang 7Mắt bão v thnh mắt bão
Một trong những đặc trng nổi bật nhất của một nhiệt đới l mắt bão, một vùng có bầu trời tơng đối quang mây, không khí chuyển động giáng yếu ớt v gió nhẹ Các mắt bão nhiệt đới có đờng kính trung bình khoảng 25 km, phần lớn bão
có đờng kính mắt bão nằm trong khoảng từ 20 đến 50 km Đờng kính mắt bão biến đổi một cách đáng kể giữa các cơn bão khác nhau, cơn nhỏ nhất có mắt bão vokhoảng 6 km v con bão lớn nhất có thể tới 100 km Sự thay đổi kích thớc mắt bão theo thời gian có thể l một dấu hiệu chỉ thị bão nhiệt đới đang mạnh lên hay yếu
đi Nói chung, mắt bão nhỏ lại chỉ thị sự mạnh lên của bão
Quanh rìa của mắt bão l thnh mắt bão, một đới hoạt động bão mạnh nhất
Thnh mắt bão l nơi có gió mạnh nhất, thảm mây dy nhất v l nơi có ma lớn nhất của ton bộ khu vực bão Ngay dới thnh mắt bão, cờng độ ma lên tới 2500
mm một ngy không phải l điều hiếm gặp Sự chuyển biến đột ngột từ mắt bão tới thnh mắt bão lm cho thời tiết thay đổi rất mạnh v rất nhanh Hãy tởng tợngmột cơn bão sắp đổ bộ thẳng vo một đảo nhỏ Khi tâm bão tiến gần đến đảo, cờng
độ gió v ma mạnh dần v trở nên mạnh nhất khi thnh mắt bão đến nơi Nhngngay khi mắt bão đạt tới đảo, cơn bão có vẻ nh đã đột ngột tiêu tan, bầu trời trở nên trong xanh v lặng gió Tất nhiên l cơn bão cha hề bị tan Trái lại, đó chỉ lmột khoảnh khắc ngắn nhủi bình lặng trớc khi nửa đối diện của thnh mắt bão ập tới đảo v thời tiết ma gió dữ dội trở lại Do đờng kính trung binh của mắt bão bằng khoảng 20 km v bão di chuyển với vận tốc trung bình khoảng 20 km/h, điều kiện bình lặng gắn liền với tâm bão đi qua thờng kéo di khoảng một giờ Rõ rng, nếu nh mắt bão chỉ chớm qua đảo, thì khoảng thời gian lặng gió sẽ ngắn hơn nữa Nhiệt độ không khí tại bề mặt trong mắt bão nóng hơn so với ở phía ngoi mắt bão một số độ bởi vì không khí bị nén do chuyển động giáng ở mắt bão lm nó nóng lên đoạn nhiệt Không khí ở đây cũng khô hơn, bởi vì sự nóng lên của không khí cha bão hòa lm giảm độ ẩm tơng đối của nó Tuy nhiên, trái ngợc với những gì
m nhiều ngời tởng, vùng mắt bão không hon ton quang mây, ngợc lại, những đám mây tích thời tiết đẹp vẫn loáng thoáng trôi trên nền bầu trời xanh
Sự hình thnh bão nhiệt đới
Mặc dù phần lớn các cơn bão nhiệt đới đạt tới tình thế bão mạnh ở những phần phía tây của các đại dơng, song những mầm mống ban đầu của chúng lại ở rất xa
về phía đông, đó l những đốm mây giông nhỏ bé đợc gọi l các nhiễu động nhiệt
đới Các nhiễu nhiệt đới l những nhóm mây giông kém tổ chức có građien áp suất yếu v độ xoáy yếu hoặc hon ton không xoáy Mặc dù đa phần các nhiễu nhiệt đới
bị tiêu tan trớc khi trở thnh những hệ thống lớn, một số ít chịu ảnh hởng của một quá trình để rồi lớn lên về kích thớc, liên kết lại với nhau v xoay quanh một tâm chung
Những nhiễu nhiệt đới hình thnh trong các điều kiện môi trờng khác nhau Một số đợc hình thnh khi các rãnh thấp vĩ độ trung bình di chuyển xuống vùng
Trang 8nhiệt đới; một số khác phát triển nh l một bộ phận đối lu bình thờng của dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ) Nhng phần lớn các nhiễu nhiệt đới di chuyển đến phía tây
Đại Tây Dơng v trở thnh các bão nhiệt đới đều có nguồn gốc các sóng đông, đó
l những chuyển động dạng sóng hoặc các xung động trong hệ thống gió tín phong bình thờng Hình 12.5 mô tả một sóng đông điển hình Do građien áp suất ở vùng nhiệt đới thờng bé hơn so với của các vùng ngoại nhiệt đới, nên các sóng đông
thờng đợc biểu lộ rõ hơn bởi những đờng phân bố hớng gió (gọi l các đ oờng dòng) thay vì các đờng đẳng áp Không khí trong sóng lúc đầu chảy về phía tây, dần dần đổi hớng lên phía cực v sau đó đổi hớng ngợc lại chảy xuống phía xích
đạo Ton bộ cục diện hệ thống sóng trải rộng trên khoảng cách từ 2000 đến 3000
km ở phía đón gió (phía đông) kể từ trục, các đờng dòng sít vo nhau, cho thấy chuyển động của không khí mực bề mặt l hội tụ Vì hội tụ nên xuất hiện chuyển
động thăng (chơng 6) v nh vậy nhiễu nhiệt đới nằm ở phía đón gió so với trục sóng đông (đờng gạch nối) Phân kỳ ở mực bề mặt xảy ra ở phía khuất gió so với trục sóng khiến cho bầu trời quang mây (Việc giải thích vì sao các đờng dòng hội
tụ v phân kỳ tơng đối phức tạp; nhân tố quan trọng nhất liên quan tới những biến thiên của độ xoáy tơng đối xuất hiện trong khi không khí chuyển động về hớng cực hay về hớng xích đạo)
Hình 12.5 Các sóng đông có hội tụ bề mặt v thảm mây ở phía đông trục v phân kỳ ở phía tây
Các nhiễu động nhiệt đới tác động đến Đại Tây Dơng, biển Caribê v châu Mỹ phần lớn hình thnh ở phía tây châu Phi, về phía nam hoang mạc Sahara Vì nằm trong đới gió tín phong, những nhiễu động ny có xu hớng di chuyển sang phía tây Khi đến bờ tây châu Phi, chúng bị yếu đi do phải đi qua hải lu lạnh Canary ở phía đông Đại Tây Dơng.ở đó, nớc biển có nhiệt độ thấp lm lạnh lớp không khí
Trang 9gần bề mặt v lm cho không khí trở nên ổn định tĩnh Tuy nhiên, nếu nh các nhiễu động di chuyển vợt qua đợc đới bờ biển có nớc trồi ny, nớc biển ở ngoikhơi ấm hơn sẽ lm tăng nhiệt độ không khí v độ ẩm của lớp khí quyển phía dới
v lm cho không khí trở nên bất ổn định Sau đó, khi nhiễu động tiếp tục tiến về phía tây, một số ít trong đó phát triển thnh những hệ thống mây giông mạnh v có
tổ chức hơn Các sóng đông di chuyển về phía tây với tốc độ khoảng 15 đến 35 km/h v nh vậy cần khoảng một tuần hoặc 10 ngy để một nhiễu nhiệt đới du nhập di chuyển qua đợc Đại Tây Dơng
Đại bộ phận (có lẽ hơn 90 %) các nhiễu nhiệt đới bị tiêu tán không hề đợc tổ chức thnh những hệ thống lớn mạnh hơn Nhng một số bị ảnh hởng của vùng áp suất thấp v bắt đầu xoay theo kiểu xoáy thuận Khi một nhiễu nhiệt đới phát triển
đến một mức độ có ít nhất một đờng đẳng áp khép kín trên bản đồ thời tiết, thì nhiễu đó đợc xếp loại nh một áp thấp nhiệt đới Nếu áp thấp cờng hóa tiếp vgiữ ổn định tốc độ gió trên 60 km/h, nó trở thnh một gió xoáy nhiệt đới Nếu tiếp
tục phát triển với tốc độ gió ổn định tới 120 km/h gió xoáy nhiệt đới sẽ trở thnh một bão nhiệt đới thực thụ Trong khi chỉ một phần nhỏ các nhiễu nhiệt đới không thể trở thnh những áp thấp nhiệt đới, thì một bộ phận lớn hơn trong số các áp thấp trở thnh gió xoáy nhiệt đới v thậm chí một tỷ lệ các gió xoáy nhiệt đới lớn hơn nữa trở thnh bão nhiệt đới
Vị trí m tại đó các bão nhiệt đới hay hình thnh nhất biến đổi theo mùa Vo
đầu mùa bão ở Đại Tây Dơng, những front yếu ở trên các vùng nớc phía tây đại
dơng lấn xuống phía nam tới vùng nớc nhiệt đới nóng Sự đứt gió gần các front tạo nên hon lu cần thiết cho xoáy thuận phát triển Vo cuối mùa, các front tập trung ở những vĩ độ cao hơn v không có vai trò trong sự phát sinh xoáy thuận Trái lại, các vùng nớc nóng tịnh tiến xa về phía đông, cho nên những nhiễu động rời bỏ lục địa châu Phi di chuyển sang phía đông có thể lớn lên thnh các xoáy thuận đủ quy mô Kết cục l, nơi sinh của các xoáy thuận nhiệt đới dịch chuyển từ phía tây sang phía đông qua vùng nớc đại dơng nhiệt đới trong nửa đầu của mùa bão Vo cuối mùa thu, nơi sinh chuyển dịch về phía tây vì hoạt động front xuất hiện trở lại nh một tác nhân chính của sự phát sinh xoáy thuận
Giống nh những ngời anh em ở Đại Tây Dơng của mình, các cơn bão nhiệt
đới Thái Bình Dơng di chuyển về phía tây trong các giai đoạn hình thnh Nhiều cơn bão đến gần Hawaii, nhng phần lớn đi vòng qua quần đảo ny hoặc tan dã
trớc khi đạt tới quần đảo Đáng tiếc, không phải bao giờ cũng thế Trong tháng 11 năm 1992, bão Iniki đã tấn công đảo Kauai với gió giật tới 258 km/h v gây ngập lụt nặng cho các khu nghỉ dỡng ven bờ Bão đã phá hủy v lm h hại nặng một nửa số tòa nh trên đảo v lm tan hoang phần lớn những cơ sở du lịch
Các điều kiện cần thiết cho sự hình thnh của bão
Mặc dù các quá trình động lực của bão cực kỳ phức tạp, các nh khí tợng học
từ lâu đã nhận thức đợc các điều kiện thuận lợi cho bão phát triển Cần những
lợng nhiệt khổng lồ để nuôi dỡng các cơn bão v nguồn cung cấp chủ yếu l sự
Trang 10giải phóng ẩn nhiệt của hơi nớc từ mặt đại dơng Vì tốc độ bay hơi cao tùy thuộc
vo sự tồn tại của nớc ấm, bão chỉ hình thnh ở những nơi no đại dơng có lớp nớc bề mặt dy (vi chục mét) với nhiệt độ trên 27 oC Chính yêu cầu có nớc đại
dơng ấm đã loại trừ bão hình thnh ở khoảng 20 độ phía cực bởi vì các nhiệt độ mặt biển thờng quá lạnh ở những nơi đó Điều đó còn giải thích vì sao bão hay phát triển vo cuối mùa hè v đầu mùa thu, lúc ny các vùng nớc nhiệt đới lnóng nhất
Sự hình thnh của bão còn phụ thuộc vo lực Coriolis, lực ny phải đủ lớn để ngăn ngừa không lấp đầy vùng áp thấp trung tâm Hiệu ứng lực Coriolis bằng không hoặc có giá trị rất nhỏ tại xích đạo đã loại trừ sự hình thnh bão ở các vĩ độ giữa 0 v 5 độ ở cả hai bán cầu Nhân tố ny kết hợp với yêu cầu phải có nhiệt độ nớc đại dơng cao thì bão mới hình thnh đã giải thích cho bức tranh phân bố thể hiện trong hình 12.2, ở đó những trận bão nhiệt đới đạt tới địa vị một bão nhiệt đới thực thụ thuộc vo đới vĩ độ giữa 5o v 20o
Độ ổn định cũng rất quan trọng đối với quá trình phát triển của bão, trong đó
điều kiện bất ổn định trong khắp đối lu quyển l điều kiện cần thiết tuyệt đối Dọc theo rìa phía đông của các đại dơng, những dòng hải lu lạnh v nớc trồi lm cho lớp dới của đối lu quyển trở nên ổn định tĩnh, ngăn cản cquá trình thăng Ngoi
ra, sự hiện diện của nghịch nhiệt gió tín phong tạo nên một cái mũ ngăn chặn mọi quá trình xáo trộn có thể xuất hiện Xa xa về phía tây, nhiệt độ nớc đại dơngthờng tăng lên v lớp nghịch nhiệt gió tín phong cũng tăng độ cao hoặc hon tonbiến mất, cho nên cho nhng cơn bão nhiệt đới trở nên lợi thế Cuối cùng, quá trình hình thnh bão đòi hỏi phải không có độ đứt lớn tránh lm gián đoạn sự vận chuyển ẩn nhiệt theo phơng thẳng đứng
Khi đã hình thnh, những cơn bão nhiệt đới có thể tự lan truyền (giống nh các bão ngoại nhiệt đới tự duy trì) Có nghĩa l, sự giải phóng ẩn nhiệt bên trong các
đám mây tích khiến cho không khí nóng lên v nở lên phía trên Không khí nở ra tạo điều kiện cho phân kỳ ở mực cao, điều ny lại lôi cuốn không khí chuyển động lên trên v khuyến khích áp suất thấp v hội tụ tại bề mặt Quá trình ny dẫn đến chuyển động thăng, ngng tụ v giải phóng ẩn nhiệt liên tục Vậy, nếu bão nhiệt
đới có thể tự hoạt động, liệu chúng có thể mạnh lên vô tận, cho đến khi đạt tốc độ siêu âm? Không, bởi vì bão hon ton bị hạn chế bởi nguồn cung cấp ẩn nhiệt, mnguồn ny về phía nó lại bị ảnh hởng của nhiệt độ nớc đại dơng phía dới v bởi các quá trình liên quan đến bốc hơi v đối lu Sự quan trọng của nhiệt độ đại
dơng ám chỉ rằng nếu đại dơng trở nên nóng hơn, về nguyên tắc bão sẽ trở nên mạnh hơn Chủ đề ny gần đây đã rất đợc quan tâm do khả năng khí hậu nóng lên, rất có thể kéo theo những nhiệt độ đại dơng cao hơn
Sự di chuyển v tan rã của bão nhiệt đới
Sự di chuyển của các hệ thống nhiệt đới liên quan tới những giai đoạn phát triển của chúng Các nhiễu động v áp thấp nhiệt đới đợc dẫn đờng chủ yếu bởi gió tín phong, do đó, có xu thế chuyển dịch về phía tây ảnh hởng của gió tín
Trang 11phong thờng trở nên giảm thiểu sau khi các áp thấp mạnh lên thnh bão Khi đó,
hệ thống gió mực cao v phân bố không gian của nhiệt độ nớc đại dơng trở thnh quan trọng hơn quyết định vận tốc v hớng của bão (các cơn bão có xu hớng di chuyển về phía có nhiệt độ nớc đại dơng cao hơn) Một khi đã phát triển honton, bão nhiệt đới có nhiều khả năng di chuyển về phía cực, nh trong các hình 12.2, 12.6 v 12.7
Hình 12.6 Các cơn bão v bão nhiệt đới có xu h~ớng di chuyển
từ vùng nhiệt đới lên phía bắc v đông bắc dọc theo bờ phía
đông nam của Bắc Mỹ Đ~ờng đi của chúng rất không ổn định
Các cơn bão thờng có đờng đi rất thất thờng Ví dụ, một cơn bão có thể di chuyển theo một hớng không đổi trong một khoảng thời gian, sau đó đột ngột thay
đổi tốc độ v hớng, rồi thậm chí quay ngợc lại quĩ đạo vừa đi qua Hình 12.6 minh họa tính chất biến động của chuyển động bão thông qua một số đờng đi đặc biệt phức tạp của các cơn bão gần bờ phía đông của Bắc Mỹ
Mặc dù các cơn bão nhiệt đới ở Đại Tây Dơng có thể di chuyển những khoảng cách rất lớn dọc bời phía đông của Bắc Mỹ, nhng chúng thờng bị suy yếu đáng kể khi tiếp cận vùng đông bắc nớc Mỹ v các tỉnh gần biển của Canađa Các bão nythờng không có gió mạnh đặc trng của bão ở vĩ độ thấp, nhng vẫn có thể gây
ma lớn v ngập lụt Tuy nhiên, trong một số trờng hợp hãn hữu, các cơn bão có
Trang 12thể duy trì gió mạnh thậm chí sau khi đã dời khỏi vùng cận nhiệt đới một khoảng cách rất lớn Ví dụ, một trận bão nhiệt đới lớn vo tháng 9 năm 1938 đã mang theo gió mạnh 200 km/h tới vùng Long Island, New York, khi nó di chuyển về phía New England Con số ớc tính 600 ca rủi ro về ngời của trận bão ny đã khiến nó trở thnh cơn bão thảm khốc đứng hng thứ t trong tất cả những trận bão ở Mỹ Gần
đây hơn, tháng 9 năm 1985, bão Gloria mang gió rất mạnh v gây thiệt hại nặng nề
do lũ lụt tới vùng Long Island v Connecticut (hình 12.7)
Hình 12.7 Đ ~ờng đi của bão Gloria
Mặc dù các cơn bão có thể di chuyển tới vùng đông bắc nớc Mỹ, dọc theo vùng
bờ tây, chúng lại không di chuyển xa lên phía bắc đợc nh vậy m không bị suy yếu thnh những áp thấp nhiệt đới Nguyên nhân của hiện tợng ny l chênh lệch
về nhiệt độ nớc dọc theo hai vùng bờ Bờ Thái Bình Dơng có nớc trồi v hải lulạnh California ngự trị, trong khi hải lu nóng Gulf Stream chảy dọc theo bờ đông
l nguồn cung ứng ẩn nhiệt khổng lồ Tuy nhiên, đôi khi, các cơn bão ngoi khơi Mexico di chuyển theo hớng đông bắc qua Baja California v vo phía nam California Những cơn bão ny bị mất nguồn cung cấp ẩn nhiệt v suy giảm cờng
độ khi di chuyển vo sâu đất liền, nhng vẫn có thể mang ma lớn gây ngập lụt Cơn bão Kathleen năm 1976 gây nên ngập lụt diện rộng cho hoang mạc Nam California v quét trôi một phần xa lộ liên bang số 8
Trang 13Sau khi đổ bộ lên đất liền, bão có thể tan rã hon ton trong vòng vi ngy.Thậm chí khi cơn bão bị suy yếu, nó vẫn có thể mang tới một lợng khổng lồ hơi nớc v gây ma rất lớn trên hng trăm kilomet trong đất liền Điều ny cng trở nên nghiêm trọng khi tn d của bão di chuyển về phía cực v kết hợp với xoáy thuận vĩ độ trung bình di chuyển sang phía đông Chính điều ny đã xảy ra vonăm 1969, khi một trong những cơn bão khét tiếng nhất ở nớc Mỹ, bão Camille, di chuyển lên phía bắc từ bờ biển Mississipi (hình 12.8) Sau khi gió mạnh v ngập lụt
do triều cờng gây hại thảm khốc cho bờ vịnh Mexico, cơn bão ny di chuyển theo
hớng đông bắc về phía sờn phía tây của dãy núi Appalachians ở đó, chuyển
động thăng địa hình kết hợp với hệ thống áp thấp v trữ lợng hơi nớc cao của bão Camille tn d đã dễ dng gây ngập lụt nghiêm trọng Nhng để lm cho tình hình tồi tệ hơn, một front lạnh di chuyển sang phía đông đã ập đến vùng núi ny đúng
vo thời điểm với cơn bão nhiệt đới Sự kết hợp giữa không khí ẩm, áp suất thấp,
Trang 14front lạnh đang tới v hiệu ứng địa hình đã tạo nên những cơn ma cực lớn, gây lũ quét v lm thiệt mạng hơn 150 ngời.
Sự t n phá v những rủi ro do bão gây ra
Theo định nghĩa, gió trong bão nhiệt đới có tốc độ trên 120 km/h v nhiều trận bão còn mạnh hơn Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi gió bão cấp bão nhiệt
đới có thể tn phá dữ dội v thậm chí phá đổ cả những ngôi nh đợc xây dựng kiên
cố Nh chúng tôi đã nêu, các trận bão nhiệt đới còn gây ma lớn dai dẳng với tốc
độ cỡ hng mét nớc một ngy ở dới thnh mắt bão Tốc độ ma đối với một địa
điểm no đó luôn giữ ổn định bên dới một cơn bão đi qua thì có thể nhỏ hơn, nhng vẫn khá lớn, cỡ 25 cm/ngy
Hình 12.9 Tố lốc th ~ờng hay hình thnh ở cung phần t~ phía tr~ớc bên phải của
bão Hình n y dựa trên dữ liệu từ 373 trận tố lốc do bão mang theo trong những
năm 1948-1972 Mỗi điểm chấm biểu diễn sự xuất hiện của một tố lốc Ký hiệu
chữ X trong vòng tròn chỉ vị trí trung bình của các trận tố lốc so với tâm bão
Trang 15Nhiều trận bão còn mang theo những cơn tố lốc, vòi rồng, phần lớn xuất hiện ở cung phần t bên phải phía trớc so với hớng di chuyển của bão (hình 12.9) Chúng thờng xuất hiện khá xa tâm, nên xung quanh tố lốc thì có gió yếu Thấy rằng sự hình thnh vòi rồng liên quan tới giảm tốc độ gió do ma sát khi bão đổ bộ lên đất liền Tố lốc do bão thờng có thời gian kéo di ngắn hơn so với những trận tố lốc ở miền trung tâm của nớc Mỹ
Một ví dụ cho điều ny đã xảy ra ngy 24/8/1992, khi cơn bão Andrew tn phá phần lớn miền nam Florida Bão Andrew tiến gần tới miền nam Florida gần nhthẳng từ hớng đông, di chuyển theo hớng tây ngang qua bán đảo, với mắt bão đi qua cách bờ biển nam Miami khoảng 40 km Các thiệt hại do ngập lụt ven biển (bởi
nớc dâng) hoặc ma lớn hầu nh không đáng kể, nhng gió mạnh đã hon tonsan phẳng thị trấn Homestead, lm chết 24 ngời v lm cho 180 nghìn ngời rơi vo cảnh vô gia c, trớc khi bão tiến vo vịnh Mexico
Bên cạnh nguy cơ do ma lớn, gió mạnh v tố lốc, khu vực ven biển còn bị đe dọa bởi một vấn đề đặc biệt l nớc dâng, đó l sự dâng lên của nớc biển dới
ảnh hởng của bão Có hai quá trình dẫn đến nớc dâng, quan trọng hơn cả l quá trình dồn nớc vo một vùng khi gió mạnh lôi kéo nớc bề mặt về phía trớc Gió mạnh thổi về phía vùng ven bờ khiến cho nớc bị dạt dồn tới phía gần bờ tạo nên mực nớc cao hơn, kèm theo sóng lớn áp suất thấp ở tâm bão cũng góp phần gây
nớc dâng, giống nh cách m độ cao của cột thủy ngân trong máy áp suất kế thay
đổi tùy theo áp suất của khí quyển Với mỗi đơn vị giảm áp 1 mb, mực nớc cao lên
1 cm Đối với phần lớn các cơn bão, nớc dâng bão chỉ lm dâng mực nớc cao lên khoảng 1 hoặc 2 mét Nhng trong những điều kiện cực đoan, nớc dâng do bão có thể lm tăng mực nớc nhiều đến 7 m, đó l trờng hợp bão Camille năm 1969 đối với vùng ven bờ Mississippi
Hình 12.10 Khu chung c ~ Richelieu tr~ớc (a) v sau (b) bão Camille năm 1969
Nớc dâng do bão dọc những vùng đồng bằng thấp ven biển có thể có sức tnphá cực kỳ lớn, bởi vì nớc biển có thể lấn rất sâu vo đất liền Hơn nữa, sóng biển lớn gây nên trong gió mạnh có thể cuốn băng các công trình xây dựng, vật liệu vỡ
Trang 16vụn đợc sóng mang đi cũng gây thêm vấn đề Trong trờng hợp cơn bão Camille, bão đã phá hủy hon ton khu chung c Richelieu trên bờ Mississippi (hình 12.10) Bất chấp các khuyến cáo yêu cầu sơ tán trớc đó, khoảng vi chục c dân nơi đây
đã quyết định ở lại “đón bão”, viện cớ rằng nếu nớc dâng do bão lên quá cao thì họ
có thể di chuyển lên tầng ba của tòa nh Không may cho họ, nớc dâng đã lm xói nền móng của tòa nh v hơn hai chục ngời đã bị thiệt mạng khi tòa nh ny sụp
đổ Nớc dâng do bão có sức tn phá mạnh nhất khi nó xuất hiện trùng khớp với thời gian nớc lớn của thủy triều, đặc biệt l ở các vùng vịnh v vũng biển, nơi có biên độ độ cao triều rất lớn giữa nớc lớn v nớc ròng
12-1 Chuyên đề:
Đặt tên cho bão
Trong mùa bão, một số cơn bão v
bão nhiệt đới có thể xuất hiện đồng thời
trên các đại dơng khác nhau Các nh
khí tợng học phân định các hệ thống
ny bằng cách đặt tên cho chúng khi
chúng bắt đầu đạt tới cấp độ bão nhiệt
đới Tổ chức Khí tợng Thế giới đã đặt ra
nhiều danh mục tên của các cơn bão ở các
đại dơng khác nhau Tên các cơn bão
trong mỗi danh mục đợc sắp xếp theo
thứ tự chữ cái, bắt đầu bởi chữ A v tăng
lên cho tới chữ W Khi một áp thấp nhiệt
đới đạt tới cờng độ bão, chúng đợc đặt
bằng một tên tiếp theo cha đợc dùng
trong danh mục tên bão của năm đó Khi
bắt đầu mùa bão tiếp theo, tên bão đợc
lấy từ danh mục mục tiếp sau, không phụ
thuộc vo số lợng tên các cơn bão cha
đợc dùng tới trong danh sách của mùa
bão trớc Có 6 danh mục đợc dùng cho
Đại Tây Dơng v các tên trong mỗi danh
mục đợc quay vòng lại sau mỗi chu kỳ 6
năm Các tên kiểu Anh, Pháp v Tây Ban
Nha đợc dùng để đặt tên cho các cơn bão
ở Đại Tây Dơng
Nếu tất cả các tên trong bảng của một mùa bão đã đợc dùng hết, cơn bão tiếp theo của mùa đó sẽ đợc dùng chữ cái Hy lạp để đặt tên Nh vậy, cơn bão thứ 22 của mùa bão sẽ tên l Alpha Điều ny đã xảy ra vo tháng 10 năm 2005, khi cơn bão Alpha xuất hiện ở phía tây
Đại Tây Dơng - đây l lần đầu tiên danh sách tên bão không đủ chỗ cho tất cả các cơn bão của một mùa
Tên của các cơn bão đặc biệt có thể
bị WMO gán thêm chữ “loại bỏ” (retired)nếu quốc gia bị ảnh hởng của cơn bão ny đề nghị xoá tên đó ra khỏi danh sách Tất cả các tên thay thế sẽ phải có cùng giới v cùng ngôn ngữ Cho đến năm
2004, đã có 62 tên bị loại khỏi bảng danh sách tên bão
Việc đặt tên cho các cơn bão đợc bắt
đầu trong Thế chiến II, khi các nh khí tợng học ở Thái Bình Dơng bắt đầu dùng các tên phụ nữ (có thể l theo tên của vợ v ngời yêu của họ) đặt cho các cơn bão Truyền thống ny bắt đầu đợc
kế tục bởi Cơ quan Thời tiết Quốc gia Hoa
Kỳ (lúc đó gọi l Nha Khí tợng) vo năm
1953 v duy trì đến năm 1979, khi tên của đn ông bắt đầu đợc cho vo danh sách Tên của các cơn bão ở Đại Tây Dơng v đông Thái Bình Dơng cho các năm từ 2006 đến năm 2011 đợc dẫn trong các bảng 1 v 2
Trang 17Bảng 1 Tên các cơn bão ở Tây Đại Tây D oơng
Alberto Andrea Arthur Ana Alex Arlene
Beryl Barry Bertha Bill Bonnie Bret
Chris Chantal Cristobal Claudette Colin Cindy
Debby Dean Dolly Danny Danielle Dennis
Ernesto Erin Edouard Erika Earl Emily Florence Felix Fay Fred Fiona Franklin
Gordon Gabrielle Gustav Grace Gaston Gert
Helene Humberto Hanna Henri Hermine Harvey
Joyce Jerry Josephine Joaquin Julia Jose
Leslie Lorenzo Laura Larry Lisa Lee
Michael Melissa Marco Mindy Matthew Maria
Nadine Noel Nana Nicholas Nicole Nate
Oscar Olga Omar Odette Otto Ophelia Patty Pablo Paloma Peter Paula Philippe Rafael Rebekah Rene Rose Richard Rita
Sandy Sebastien Sally Sam Shary Stan
Tony Tanya Teddy Teresa Tomas Tammy Valerie Van Vicky Victor Virginie Vince
William Wendy Wilfred Wanda Walter Wilma
Bảng 2 Tên các cơn bão ở Đông Thái Bình Doơng
Aletta Alvin Alma André Agatha Adrian
Bud Barbara Boris Blance Blas Beatriz Carlotta Cosme Cristina Carlos Celia Calvin
Daniel Dalila Douglas Dolores Darby Dora
Emilia Erick Elida Enrique Estelle Eugene Fabio Flossie Fausto Felicia Frank Fernada Gilma Gil Genevieve Guillermo Georgette Greg
Hector Henriette Hernan Hilda Howard Hilary
Ileana Ivo Eselle Ignacio Isis Irwin
John Juliette Julio Jimena Javier Jova
Kristy Kiko Karina Kevin Kay Kenneth Lane Lorena Lowell Linda Lester Lidia
Miriam Manuel Marie Marty Madeline Max
Norman Narda Norbert Nora Newton Norma
Olivia Octave Odile Olaf Orlene Otis
Paul Priscilla Polo Patricia Paine Pilar
Rosa Raymond Rachel Rick Roslyn Ramon Sergio Sonia Simon Sandra Seymour Selma
Vicente Velma Vance Vivian Virgil Veronica Willa Wallis Winnie Waldo Winifred Wiley
Xavier Xina Xavier Xina Xavier Xina
Yolanda York Yolanda York Yolanda York
Zeke Zelda Zeke Zelda Zeke Zelda
* Một số tên bão đợc dự định để dùng cho năm 2011 sẽ có thể không đợc dùng
Chi tiết n y cha rõ tại thời điểm quyển sách ny xuất bản
Trang 18Gió bão v nớc dâng do bão có cờng độ mạnh nhất ở mạn bên phải của bão
tơng đối so với hớng di chuyển của bão Để hiểu vì sao, hãy hình dung một cơn bão giả định hoạt động trên vịnh Mexico, chuyển động lên phía bắc với tốc độ 50 km/h v có thnh mắt bão đồng nhất với gió mạnh 200 km/h (hình 12.11) Dọc theo phía tây của thnh mắt bão, gió chỉ mạnh 150 km/h (200 km/h trừ đi 50 km/h) Mạn bên phải của bão sẽ có nớc dâng cao hơn do gió mạnh dồn nớc về phía bờ, thay vì ra khỏi bờ
Hình 12.11 C~ờng độ gió khác nhau ở mạn trái v mạn phải của bão H~ớng v tốc độ của các thnh phần gió tuần tự đ~ợc thể hiện bằng h~ớng v độ di của các mũi tên Cơn bão giả định di chuyển lên phía bắc với tốc độ 50 km/h ở mạn phải, gió 200 km/h cùng h~ớng nh~ di chuyển của bão, nên tốc độ gió ròng sẽ l 250 km/h ở mạn trái, gió thổi ng~ợc h~ớng di chuyển của bão, nên gió ròng h~ớng về phía nam với tốc độ 150 km/h
Mặc dù nớc dâng do bão chứa đựng tiềm năng tn phá hủy diệt lớn nhất vchịu trách nhiệm về hng nghìn sinh mạng ngời Mỹ trong vi thế kỷ vừa qua, trong mấy thập niên gần đây tử nạn do nớc dâng trong bão đã tăng lên mạnh, song nó vẫn không phải l nguyên nhân của phần lớn những thiệt hại về ngời
Trang 19Một công trình mới đây của một nh nghiên cứu ở Trung tâm Quốc gia về Bão nhiệt
đới đã cho biết rằng trong khoảng từ năm 1970 đến 2002, gi nửa thiệt hại về ngời
do bão gây nên ở vùng Bắc Mỹ không phải do những vụ nớc dâng bão, m do ngập
lũ lụt trong sông bởi ma lớn Chỉ khoảng một phần t số tử nạn gắn liền với bão (hoặc dớt bão) xảy ra ở những địa phơng ven bờ biển Các con số ny không có nghĩa rằng những vụ nớc dâng do bão không còn l cực kỳ nguy hiểm nữa; honton không phải vậy Sự suy giảm về số tử nạn liên quan tới nớc dâng do bão một phần l do số lợng những trận bão lớn đổ bộ lên các khu vực duyên hải đông dân trong vòng 30 năm gần đây đã giảm đi một cách ngẫu nhiên, cộng với khả năng dự báo chuyển động của bão khá hơn v công tác sơ tán đợc cải thiện
Các chuyên gia về bão lo ngại rằng có thể số lợng bão v những trận bão mạnh lm sạt đất ở nớc Mỹ đang tăng lên đáng kể Mặc dù giai đoạn từ đầu những năm 1970 đến giữa những năm 1990 đã đợc ghi nhận l có số lợng bão
Đại Tây Dơng thấp hơn mức chuẩn, song thời kỳ 8 năm từ năm 1995 đến 2002 bão trở lại hoạt động cực kỳ mạnh mẽ Các nh khoa học cho rằng biến thiên trong chu trình nhiều năm của các nhiệt độ bề mặt đại dơng ở Bắc Đại Tây Dơng có thể đã cung cấp nhiên liệu gia tăng cho sự phát triển bão, nó dẫn tới hoạt động bão tăng lên v những điều kiện ấy có thể kéo di một số thập kỷ tới
Chúng ta đang nhạy cảm hơn bao giờ hết với tiềm năng phá hoại của bão vì một lý do đơn giản l: số c dân ở những khu vực duyên hải Đại Tây Dơng v vùng vịnh đang gia tăng mạnh mẽ trong những thập niên gần đây, đã đạt tới 139 triệu
ngời Kết quả l, một số lợng ngời rất lớn trong khu vực có thể đang xem thờngkhả năng bị tấn công bởi bão mạnh v sống trong những điều kiện không đủ chống chọi nổi với cơn giận dữ của bão tố Để lm cho sự việc tồi tệ hơn, những cải thiện trong hệ thống đờng cao tốc cần thiết cho một cuộc sơ tán đầy đủ còn cha theo kịp với tốc độ tăng trởng trong vùng
Theo dõi v cảnh báo bão
Trách nhiệm theo dõi v dự báo những cơn bão trên Đại Tây Dơng v Đông Thái Bình Dơng thuộc về Trung Tâm Quốc gia về Bão nhiệt đới (NHC) tại Miami, Florida Trong mùa bão, cơ quan trực thuộc Cơ quan Thời tiết Quốc gia (NWS) nyliên tục nhận đợc những bản tin quan trắc trên mặt đất v dữ liệu vệ tinh cập nhật để xác định những điều kiện hình thnh hiện tại của bão Các mô hình số phức tạp chạy trên siêu máy tính dự báo sự hình thnh, phát triển v di chuyển của các xoáy thuận v bão nhiệt đới Khi một cơn bão hoạt động tiếp cận đất liền, máy bay trang bị đặc biệt sẽ bay vo trong bão v cung cấp thông tin bổ sung thu thập đợc từ các rađa máy bay v các máy thám sát - những tập hợp thiết bị gồm
các cảm biến nhiệt độ, áp suất v độ ẩm v máy truyền phát đợc thả vo trong bão
từ máy bay
Trung tâm Quốc gia về Bão nhiệt đới đang sử dụng các mô hình máy tính tiêu chuẩn để dự báo thời tiết hng ngy (trình by trong chơng 13), cũng nh một số mô hình khác chuyên dụng cho dự báo bão Các mô hình loại ny đợc chia thnh