Do đó, một sự báo dựa trên khí hậu có thể có một khả năng đúng vừa phải đối với Orlando trong thời gian mùa hè, song chỉ có ai thực sự bạo gan mới mu tính dự báo nh vậy cho Chicago vo
Trang 1Phần 5 - Hoạt động của con ng{ời
Các nhân viên dự báo của Cơ quan Thời tiết Quốc gia (NWS) đã bỏ ra một phần lớn thời gian lm việc mỗi ngy để trả lời điện thoại với những câu hỏi về thời tiết sắp tới Đôi khi ngời ta muốn biết ván golf của mình có bị ma không hoặc lnhững cây cảnh ngoi trời của họ có thể bị tổn thơng do sơng muối ban đêm hay không Nhng những khía cạnh quan trọng nhất của công việc của một nhân viên
dự báo không can dự đến những chuyện tiện nghi hay không đơn thuần, m lnhững câu hỏi liên quan tới những vấn đề sống sót hay chết
Đó l trờng hợp đối với Mark Moede, nh khí tợng học với Phòng dự báo của NWS ở San Diego Cuối tháng 8 năm 1998, phần lớn miền nam California đã bị đe dọa bởi những vụ cháy do hoạt động dông sét nặng bất thờng phát sinh Các nhân viên cứu hỏa chiến đấu với lửa đã nhận đợc những tin cập nhật liên tục về điều kiện thời tiết có thể ngăn chặn hoặc l khích lệ sự lây lan của đám cháy Vo ngy 2 tháng 9 tình huống đã đạt tới giai doạn đỉnh điểm của nó Pete Curran, nhân viên của Cục phòng hỏa quận Orange, đã duy trì liên lạc trực tiếp với Moede nhằm cập nhật liên tục về một loạt các trận lốc tố đang tới Vấn đề l liệu lốc tố có tiếp tục mạnh lên hay không, hoặc l liệu lốc tố có đi qua những khu vực nơi những ngờichữa cháy đang tác nghiệp hay không Nếu gió bão đi theo đờng đó, thì gió mạnh, sấm sét nguy hiểm v ma ro mù mịt sẽ đa các đội cứu hỏa của Curran vo thế nguy hiểm Nhờ trợ giúp của rađa Doppler v thông tin từ các trạm thời tiết tự
động, Moede đã có một cú thông báo điện thoại đúng đắn Ông đã khuyên Curran rút các đội của mình khỏi tuyến đi xác suất cao của cơn bão, nơi gió trên 95 km/h tạo nên một trận bão lửa không thể kiểm soát nổi Về sau, những ngời chữa cháy
đã báo cáo lại rằng tuyến ho ngăn lửa m họ sơ tán khỏi đã bị thiêu trụi honton Nếu nh cuộc gọi yêu cầu sơ tán không đợc thực hiện, thì rất có thể l một số lính chống cháy đã bị giết chết
Chơng ny thảo luận những phơng pháp m các nh dự báo sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của họ Đầu tiên chúng ta xem xét một số vấn đề quan trọng liên quan tới khái niệm chung về dự báo thời tiết v sau đó bn luận những phơngthức thu nhận v xử lý các dữ liệu cần thiết Sau nữa, chúng ta nghiên cứu các loại bản đồ thời tiết khác nhau v chúng đợc dùng nh thế no trong khi phân tích thời tiết
Trang 2Vì sao dự báo thời tiết ch~a hon thiện
Tất cả chúng ta đã từng có những kế hoạch tỉ mỉ bị phá vỡ bởi một dự báo thời tiết xấu v cũng rất nhanh nhạy tìm ra lỗi khi những điều kiện thực khác với dự báo Nh vậy, điều ẩn chứa bên trong thái độ phê phán nh vậy chính l phải nhận thức đợc rằng các dự báo cần phải đúng đắn v rằng không có chuyện xin lỗi đối với một sai lầm Vậy tại sao các dự báo thờng hay sai? Mặc dù, với những máy tính rất mạnh, vệ tinh, rađa v mạng lới thông tin ton cầu, có vẻ nh lm một dự báo tốt phải rất dễ Tuy nhiên, dù đa số công chúng có thể nghĩ nh thế, song honton không phải nh vậy - thật ra, việc dự báo thời tiết đúng l cực kỳ khó
Để thấy tại sao, hãy hình dung bạn muốn dự báo nhiệt độ ngy mai v suy ngẫm về một số nhân tố m bạn phải cân nhắc Thứ nhất, hãy nhớ rằng cấu trúc nhiệt độ của khí quyển phụ thuộc một phần vo quá trình hấp thụ v phát xạ bức xạ (sóng ngắn v sóng di), tự chúng lại phụ thuộc vo phân bố thẳng đứng vngang của các chất khí khí quyển, mây v nhiều thứ khác Cho nên, để tính nhiệt
độ tại một điểm, bạn phải bắt đầu với thông tin chi tiết về thnh phần của khí quyển trong ba chiều đo
Dĩ nhiên, với sự chuyển đổi không ngừng giữa các pha rắn, lỏng v hơi, thnhphần khí quyển khó m không đổi, cho nên bạn sẽ phải dự báo những biến đổi đó trong thời gian Hãy nhớ thêm rằng khi nớc thay đổi pha, nhiệt ẩn đợc thêm vohoặc mất đi từ khí quyển; do đó, bạn sẽ phải luôn theo dõi chuyện đó v quá trình vận chuyển bức xạ Nhng những biến đổi pha bị ảnh hởng bởi các dòng thăng vdòng giáng quy mô nhỏ, cho nên bạn sẽ phải dự báo nh thế no đó về các chuyển
động thẳng đứng nh một phần của tất cả những nỗ lực của bạn Ngoi ra, chuyển
động ngang không thể không tính tới - bạn sẽ phải chấp nhận sự bình lu không khí nóng hay không khí lạnh (chơng 10)
Về phơng diện gió, ở gần bề mặt, bạn đối mặt với những vấn đề dòng gió lân cận mặt đất phức tạp v đánh giá nh thế no đó về các hiệu ứng ma sát giữa khí quyển v bề mặt Bên trên lớp ma sát thì sự việc đỡ rắm rối hơn, nhng cũng không
l bao Bi toán cơ bản l bi toán về sự tơng tác liên tục: các chuyển động của khí quyển lm thay đổi những chuyển động phát triển tiếp sau đó Nói khác đi, sau một thời gian ngắn, gió lm thay đổi gió Cho nên, thậm chí dù bạn chỉ quan tâm tới nhiệt độ, bạn không thể bảo l gió không đổi, trái lại, bạn buộc phải can dự vochuyện dự báo chuyển động khí quyển Không may, đó l một việc rất khó khăn, bởi vì khí quyển bất ổn định động lực Nói nh thế chúng ta ám chỉ rằng những nhiễu
động bé nhỏ thờng lớn lên thnh các thnh tạo lớn dần dần áp đảo trờng chuyển
động Do đó, cho dù bạn có thể chỉ quan tâm về chuyển động ở quy mô lớn nhằm
đáp ứng các mục đích về bình lu nhiệt, nhng bạn phải cân nhắc các chuyển động
cỡ nhỏ để m biết các hình thế quy mô lớn sẽ tiến hóa ra sao
Rõ rng, dự báo thời tiết can dự vo một tập những bi toán liên kết với nhau, mỗi bi toán khó m giải đợc một cách biệt lập, tách ra khỏi tập hợp Trong bối cảnh tất cả những khó khăn nh vậy, thật l đáng chú ý l dù sao thì các dự báo
đang cho thấy một sự đúng đắn no đó Chúng ta chắc chắn sẽ ngạc nhiên lm thế
Trang 3no m các dự báo có thể thnh công, thay vì phân vân tại sao các dự báo bị sai! Công tác dự báo thời tiết do chính phủ Mỹ thực hiện đã bắt đầu vo những năm 1870, khi ấy Quốc hội thiết lập một Nha Thời tiết Quốc gia trực thuộc Cục Quân báo Đến năm 1890, cơ quan ny đổi tên thnh Phòng Thời tiết Quốc gia (National Weather Bureau) v chuyển sang Bộ Nông nghiệp v ở đó cho đến năm
1942 thì chuyển sang trực thuộc Bộ Thơng mại Cơ quan Đại dơng v Khí quyển Quốc gia (NOAA) đợc thnh lập năm 1970 để thống nhất một số cơ quan
nghiên cứu môi trờng, kể cả Nha Thời tiết Quốc gia, cơ quan ny lấy lại tên gọi
cũ của mình Nha Khí tợng Canađa (Meteorological Service of Canada, MSC),
đóng ở Downsview, Ontario, thực hiện tất cả các nhiệm vụ dự báo cho Canađa v
đảm bảo các thông tin khí tợng địa phơng v khu vực cho 14 trung tâm thời
tiết khu vực của họ
Các ph~ơng pháp dự báo bão
Không có một phơng pháp no l duy nhất “đúng” để dự báo thời tiết Tùy thuộc vo độ di của dự báo, dạng thông tin đợc yêu cầu v trạng thái hiện tại của khí quyển đợc biết đến mức no m một phơng pháp no đó trong một loạt
phơng pháp có thể đợc sử dụng Ngời ta thậm chí có thể cố gắng lm một dự báo ngay cả khi không có một dữ liệu no về tình hình thời tiết hiện tại, nếu nh có
đợc thông tin di hạn Ví dụ, một dự báo các điều kiện nóng, ẩm với một khả năng giông buổi chiều ở Orlando, Florida vo giữa tháng 8 sẽ có cơ may đúng khá cao Những dự báo ny dựa trên các giá trị trung bình di hạn, đợc gọi l các dự báo khí hậu Rõ rng, độ tin cậy của một dự báo khí hậu phụ thuộc vo độ biến thiên
năm tới năm của các điều kiện thời tiết đối với ngy dự báo Do đó, một sự báo dựa trên khí hậu có thể có một khả năng đúng vừa phải đối với Orlando trong thời gian mùa hè, song chỉ có ai thực sự bạo gan mới mu tính dự báo nh vậy cho Chicago
vo tháng 4, khi m hầu nh mọi kiểu thời tiết đều có thể xảy ra
Một kiểu dự báo khác, đợc gọi l dự báo quán tính, dựa hon ton vo điều kiện hiện tại, không tham chiếu tới khí hậu Thực ra, một trờng hợp đặc biệt của
dự báo quán tính đang đợc tất cả mọi ngời chúng ta sử dụng trong đời sống hng
ngy Khi thấy bầu trời trong xanh v bỏ lại ô ở nh, chúng ta đang cợc rằng các
điều kiện hiện hnh sẽ tiếp diễn v chúng ta đang lm một dự báo ngắn hạn dựa trên quán tính Phơng pháp đơn giản ny có thể tốt đối với một thời gian ngắn,
nhng cuối cùng sẽ không nắm bắt đợc những thay đổi của thời tiết Một phiên bản phức tạp hơn có thể dùng độ giảm áp suất trong một số giờ đã qua để chỉ thị về một hệ thống áp thấp đang tới v độ phủ mây tăng lên gắn liền với nó Nói cách khác, ta có thể chấp nhận rằng xu thế cũng có quán tính để lm một dự đoán về những biến đổi của thời tiết Tuy nhiên, ở đây ta đã ngoại suy sự diễn biến hiện tại
vo tơng lai, với nhận thức rằng cách ny rồi cũng sẽ thất bại một khi sự diễn biến
đó ngừng lại Đơng nhiên, thờng l chính những bớc ngoặt đó so với diễn biến quá khứ mới l cái m chúng ta muốn dự báo; vậy một phơng pháp không đảm bảo đợc thông tin nh vậy thì chẳng mấy hữu ích
Trang 4Cho đến những năm 1950, việc phân tích v dự báo thời thiết phụ thuộc hon
ton vo kinh nghiệm của các nh khí tợng học v sự lý giải của họ về tình hình thời tiết hiện tại v trong quá khứ gần Anh ta hoặc chị ta (thờng l anh ta ở thời ấy) sẽ sử dụng diễn biến quá khứ lm chỉ dẫn để xác định xem một hệ thống thời tiết hiện tại rồi sẽ diễn biến ra sao Nói khác đi, nh khí tợng học đã chủ yếu dựa
vo sự đối chiếu tình huống hiện tại với những điều kiện tơng tự đã gặp trớc đây (nhng không nhất thiết phải l quá khứ gần nhất) để lm cơ sở cho một dự báo Cách tiếp cận ny đã dẫn đến sự phát triển v sử dụng rất nhiều “qui tắc kinh nghiệm”, nhằm thâu tóm các hình thế có khả năng lặp lại v những mối liên hệ giữa các yếu tố thời tiết khác nhau Ví dụ, giáng thủy vo mùa đông ở miền đông Hoa Kỳ v Canađa thờng l tuyết ở về phía bắc của đờng đồng mức độ cao 4560
m đối với mực 500 mb v ma ở về phía nam của đờng ny Trong phơng pháp
đợc gọi l “loại suy” ny, ngời ta cố gắng nhận dạng những nét tơng tự giữa các
điều kiện hiện tại với những hình thế tơng tự v đã đợc nghiên cứu kỹ từ quá khứ Phơng pháp loại suy có nhiều biến dạng khác nhau, một số mang tính chủ quan (tùy thuộc vo trình độ của dự báo viên), một số khác khách quan (dựa vonhững quan hệ thống kê) Song tất cả đều chấp nhận l những gì đã từng xảy ra khi no đó trong quá khứ l một chìa khóa cho tơng lai
Trong vi thập kỷ gần đây, dự báo thời tiết bằng phơng pháp số đã chiếm một
vị trí quan trọng Thuật ngữ ny hơi gây lầm lẫn, bởi vì tất cả các phơng pháp vừa nêu ở trên đều cho ra các dự báo số Cái khác nhau l ở chỗ phơng pháp ny dựa trên các chơng trình máy tính cố gắng phỏng theo diễn biến thực của khí quyển Tức l, các mô hình thời tiết số trực tiếp tính toán sự tiến hóa của gió, áp suất, nhiệt độ v các yếu tố khác trong thời gian Bằng cách xem xét đầu ra ứng với một thời điểm đã định, ngời ta có đợc một bức tranh về trạng thái ba chiều của khí quyển tại thời điểm đó (Điều ny trái lại với việc dự báo các giá trị bề mặt cho một
số yếu tố thời tiết, nh các phơng pháp khác có thể lm) Những mô hình số điển hình sử dụng trong dự báo thời tiết rất lớn v chỉ có thể chạy trên các máy tính mạnh nhất, gọi l siêu máy tính Để phản ánh tầm quan trọng của chúng trong dự báo hiện đại, các mô hình ny đợc trình by kỹ hơn ở mục “Các qui trình v sản phẩm dự báo”, v chi tiết hơn nữa, ở phụ lục của chơng 13 ở đây, chúng tôi chỉ muốn khái quát sự khác nhau giữa các phơng pháp khác v cách tiếp cận có cơ sở vật lí ny (phơng pháp số)
Các kiểu dự báo
Sản phẩm, hay kết quả của một phơng pháp dự báo có thể có nhiều hình thức khác nhau, chúng ta gọi l kiểu dự báo Tất cả chúng ta khá quen thuộc với các dự
báo định l ợng, trong đó chỉ ra “giá trị” của biến dự báo Ví dụ, một dự báo nói
rằng “Lợng ma sẽ l 1 inch” l một dự báo lợng Tơng tự, các dự báo về nhiệt
độ cao hay thấp l dự báo lợng, vì nó đa ra một trị số cho biến dự báo Ngợc lại,
các dự báo định tính chỉ đa ra một giá trị phân loại cho biến dự báo Các ví dụ của kiểu dự báo ny l “ma hay không ma”, “có bão hay không có bão”, “trên hay
Trang 5dới chuẩn”, hoặc “có mây hay có mây một phần hay gần nh quang mây” Trong những ví dụ ny, các biến dự báo đợc gán vo một lớp, hay loại cụ thể; vậy đó lmột dự báo định tính
Trong những ví dụ trên, các dự báo đợc đa ra không kèm theo chỉ định giới
hạn Các dự báo xác suất l một kiểu khác, trong đó khả năng của một sự kiện
no đó đợc nêu ra Ví dụ, một dự báo phân loại bão có thể đợc biểu diễn thnh một xác suất, chứ không phải thnh một khẳng định Dự báo xác suất có thể có nhiều dạng, phổ biến nhất có lẽ l dự báo xác suất của ma (dự báo PoP) Khi ngời
đa tin nói “khả năng ma hôm ny l 70%” hay “có thể có ma ro buổi chiều với xác suất 60%”, thì đó một dự báo PoP Chú ý rằng những dự báo ny không chỉ ra một lợng ma Trái lại, ý nghĩa của một dự báo PoP l ở chỗ một điểm chọn ngẫu nhiên trong vùng dự báo sẽ nhận đợc lợng ma có thể đo đợc với xác suất nh
đã chỉ định Ví dụ, một dự báo PoP 75% có nghĩa l khả năng có ma so với không ma l 3:1, hay một cách tơng đơng, bạn chỉ có cơ may 1 trong 4 (25%) không bị
ớt trong suốt thời gian dự báo
Đánh giá dự báo
Dù phơng pháp dự báo no đợc sử dụng, hay kiểu dự báo l gì, chúng ta
đơng nhiên cần có một cách no đó khẳng định một dự báo có tốt không Cần thiết những tiêu chí, ví dụ, để so sánh một phơng pháp dự báo với phơng pháp khác, hay để quyết định xem phải cân nhắc ra sao đối với một dự báo khi lên các kế hoạch Quan trọng nhất, các chỉ số đánh giá rất cần thiết đối với những ngời chịu trách nhiệm phát triển v điều hnh các chơng trình dự báo Vì ngời ta đang liên tục cố gắng cải tiến các quy trình thu thập dữ liệu v dự báo (với chi phí ngy cngtăng), cho nên cần có các phơng pháp phán xét giá trị của những cải tiến, điều tiết những chi phí tơng lai v xác định lợi ích trong đầu t Mặc dù với t cách l
ngời sử dụng, chúng ta không đợc nghe nghiều về đánh giá dự báo, nhng đó lmột bộ phận hng ngy v không thể thiếu của công tác dự báo chuyên nghiệp Qua nhiều năm, nhiều tiêu chí đánh giá v cách đánh giá dự báo đã đợc đề xuất, mỗi tiêu chí có những u v nhợc điểm riêng Để phân loại các tiêu chí, chúng ta phải nghĩ ngay đến mục đích của việc đánh giá Chúng ta muốn thông tin
về chất lợng dự báo hay l giá trị dự báo? Chất lợng dự báo căn cứ vo sự
trùng khớp giữa dự báo v quan trắc, còn giá trị dự báo căn cứ vo hữu ích của dự báo Những thứ ny nghe có vẻ giống nhau, nhng hon ton khác nhau Ví dụ,một dự báo ma có - không chất lợng cao độ chính xác 100 % có thể có giá trị zero
đối với công tác kế hoạch tới ruộng, ở đó thông tin về lợng ma l quan trọng Do không có một quan hệ đơn giản giữa chất lợng v giá trị dự báo, nên phải có các tiêu chí đánh giá riêng cho từng loại Vấn đề thứ hai l kiểu dự báo: định lợng hay
định tính, xác suất hay không chỉ định giới hạn v.v Rõ rng l, tiêu chí đánh giá thích hợp sẽ thay đổi theo kiểu của biến dự báo Cuối cùng, có vấn đề l chúng ta muốn có một tiêu chí tuyệt đối của dự báo hay chúng ta chủ yếu chỉ quan tâm tới một tiêu chí tơng đối, tiêu chí so sánh?
Trang 6Giá trị dự báo nhất thiết phải phụ thuộc vo sự ứng dụng của một dự báo cho một bi toán hay một quyết định cụ thể Phần lớn các tiêu chí về giá trị dựa trên các bảng tính mất/đoợc, nhằm cố gắng nắm bắt những rủi ro v lợi ích gắn liền với
các dự báo khác nhau v những ứng phó đối với các dự báo đó Ví dụ, nếu biết giá của một công việc cụ thể bị thất bại, số tiền thu đợc nếu công việc tốt đẹp v xác suất của một dự báo đúng, bạn có thể gán giá trị bằng tiền cho dự báo Những tiêu chí liên quan tới xác suất l những khái niệm vợt ra ngoi khuôn khổ một giáo trình nhập môn; cho nên, chúng tôi sẽ không bn thêm về giá trị dự báo, ngoi việc nhấn mạnh rằng một dự báo đơn lẻ có thể có giá trị rất khác nhau, tùy thuộc nó
đợc sử dụng nh thế no
Đối với chất loợng của một dự báo, một câu hỏi hiển nhiên đợc đặt ra l độ
chính xác của dự báo Tức l, về trung bình, giá trị dự báo gần với giá trị thực
đến mức no? Có nhiều cách để trả lời câu hỏi đơn giản ny, mỗi cách dẫn đến một tiêu chí chính xác khác nhau ở mức rộng nhất, chúng ta có thể muốn có thông tin
về độ chệch của dự báo (bias), nó liên quan tới dự báo thiên cao hoặc thiên thấp
một cách có hệ thống Một phơng pháp dự báo bị chệch l phơng pháp m giá trị
dự báo trung bình cao hơn hoặc thấp hơn giá trị trung bình thực Ngợc lại, một
phơng pháp dự báo không bị chệch sẽ không thể hiện xu thế dự báo thiên cao hoặc thiên thấp Tất nhiên, điều ny cha nói lên đợc phơng pháp l hon hảo, nó chỉ
có nghĩa l giá trị thiên cao trung bình đúng bằng giá trị thiên thấp trung bình, khiến cho sai số trung bình bằng 0 Ví dụ, nếu bạn muốn dự báo số chấm sau khi thả một con súc sắc, bạn có thể dự báo l 3,5 chấm trong mỗi lần thả Sau nhiều lần thả (một con súc sắc tốt), giá trị trung bình của số chấm sẽ l 3,5, trùng khớp với các dự báo của bạn – vì thế các dự báo không bị chệch Tất nhiên, phơng pháp nykhông thể cho dù l chỉ một dự báo đúng Rõ rng l, mặc dù độ chệch l một tiêu chí hữu ích, chúng ta còn cần các tiêu chí chính xác không cho phép các sai số
dơng vô hiệu hóa các sai số âm Tiêu chí đơn giản nhất l sai số tuyệt đối trung bình (MAE), nó bỏ qua dấu (dơng hoặc âm) của các sai số Tức l, các dự báo thiên cao v thiên thấp đợc coi ngang hng nhau v đợc xử lí nh nhau v chúng ta chỉ tìm sai số trung bình m không quan tâm tới dấu
Đối với những ngời không chuyên nghiệp sử dụng một dự báo, độ chính xác có
lẽ l vấn đề chất lợng quan trọng nhất Nhng những ngời chuyên nghiệp, những ngời phát triển các phơng pháp dự báo thì thờng quan tâm đến kỹ năng dự
báo Kỹ năng dự báo có thể đợc đo bằng nhiều cách khác nhau, song về đại thể, khái niệm ny đợc định nghĩa l sự tiến bộ của phơng pháp dự báo đó so với các
kết quả dự báo bằng phơng pháp khí hậu, quán tính hay các phơng pháp đợcgọi l “không có kỹ năng” khác Nếu nh phơng pháp dự báo không tốt hơn việc dựa vo các giá trị khí hậu, kỹ năng dự báo của phơng pháp đó đợc cho l bằng 0 – một dự báo khí hậu không cần thiết các kiến thức đặc biệt về hoạt động của khí quyển v do đó không có kỹ năng dự báo Ví dụ, cha từng có một lợng ma có thể
đo đợc no đợc ghi nhận ở Jerusalem vo tháng 7 trong suốt 100 năm qua Một phơng pháp bất kỳ đa ra dự báo “không ma” vo tháng 7 chắc chắn l sẽ thuộc loại khá chính xác trong phần lớn các trờng hợp Giống nh vậy, nếu bạn dự báo
Trang 7rằng sẽ có một cơn bão nhiệt đới hoạt động ở đâu đó trên Đại Tây Dơng vo ngy
10 tháng 9 tới, bạn sẽ có một xác suất thnh công 90% (sử dụng diễn biến quá khứ lm chỉ dẫn) Nhng những dự báo ny không có kỹ năng, bởi vì chúng không nâng cao đợc xác suất đúng (so với khí hậu trong trờng hợp ny) Chỉ khi nếu các dự báo đúng nhiều hơn 90% số lần dự báo, chúng ta mới có thể nói phơng pháp có một
kỹ năng no đó Trong trờng hợp về nhiệt độ không khí, chúng ta có thể so sánh MAE của phơng pháp dự báo với MAE thu đợc dựa trên giá trị nhiệt độ trung bình nhiều năm Nếu phơng pháp không khá hơn phơng pháp khí hậu, điểm kỹ năng sẽ bằng không ý tởng ở đây l một dự báo khí hậu không đòi hỏi hiểu biết
đặc biệt gì về diễn biến của khí quyển v do đó không có một kỹ năng gì
Thu thập v truyền phát số liệu
Khởi điểm của hầu hết tất cả công việc dự báo thời tiết l thông tin hiện trạng của khí quyển Để biết tơng lai, chúng ta bắt đầu với thông tin về hiện tại Nhvậy, quá trình đầu tiên công tác dự báo thời tiết nghiệp vụ l thu thập số liệu cần thiết Điều ny cần phải có những nỗ lực quốc tế, ngay cả khi chỉ lm dự báo cho những khu vực “nhỏ”, nh l các nớc riêng biệt; lý do sẽ trở nên rõ dới đây
Tổ chức Khí tợng Thế giới (WMO), dới sự bảo trợ của Liên hiệp Quốc,
quản lí công tác thu thập số liệu thời tiết trên ton cầu từ 179 quốc gia thnh viên của nó WMO thu thập số liệu từ khoảng 10 nghìn trạm quan trắc trên lục địa,
7000 trạm quan trắc trên tu biển, 300 trạm phao neo cố định v phao thả trôi với các đầu đo thời tiết tự động v một số vệ tinh thời tiết WMO còn thu đợc số liệucao không từ khoảng 1000 trạm cao không thả bóng thám không thời tiết hai lần một ngy v số liệu liên tục từ các dụng cụ đặt trên các máy bay dân dụng Số liệu
từ tất cả các nớc trên thế giới đợc gửi tới ba Trung tâm Khí tợng Thế giới ở Washington, Mỹ; Moskva, Nga v Melbourne, úc; các trung tâm ny, đến lợtmình, truyền phát dữ liệu cho tất cả các nớc thnh viên của WMO
Các quốc gia thnh viên của WMO đều duy trì các cơ quan khí tợng của riêng
họ để thu thập, xử lí dữ liệu v phát báo các dự báo khu vực v quốc gia ở Mỹ, các Trung tâm Quốc gia Dự báo Môi trờng (NCEP) của Cơ quan Thời tiết Quốc gia (NWS) thực hiện các nhiệm vụ ny, còn ở Canađa - do Trung tâm Khí tợngCanađa của Nha Môi trờng Khí quyển (AES) thực hiện
Không có gì ngạc nhiên, nớc Mỹ có một mạng lới trạm quan trắc khí tợngmặt đất tơng đối dy đặc Trong khoảng 1000 vị trí các điều kiện thời tiết bề mặt
đợc quan trắc thì có khoảng 120 trạm l ở các trụ sở của Cơ quan Thời tiết Quốc gia; số còn lại l ở các sân bay của Cơ quan Điều hnh Hng không Liên bang (FAA) AES của Canađa có khoảng 720 trạm đo mặt đất Các trạm ny ghi lại nhiệt
độ, độ ẩm, áp suất, tình trạng mây (bao gồm loại mây v độ cao chân mây v tỷ phần diện tích bầu trời bị mây che phủ), hớng v vận tốc gió, tầm nhìn xa, sự xuất hiện các điều kiện thời tiết đặc biệt, nh sơng mù hoặc ma v lợng ma tích lũy
đo đợc tại mặt đất Nh một phần của chơng trình nâng cấp v hiện đại hóa hiện
Trang 8nay (xem chuyên mục 13-1: Chuyên đề: Hiện đại hóa Cơ quan Thời tiết Quốc gia), FAA v NWS đã lắp đặt hơn 800 đầu thu tự động, đợc gọi l Hệ thống Quan trắc Mặt đất Tự động (viết tắt l ASOS) để đo đạc v ghi lại những yếu tố trên (hình 13.1) AES cũng đang cho hoạt động hơn 100 trạm quan trắc trên khắp nớcCanađa, tơng tự nh hệ ASOS, v đợc gọi l Hệ thống Quan trắc Thời tiết Tự
động (AWOS)
Hình 13.1 Một trạm ASOS điển hình
Ngoi các quan trắc mặt đất đợc thực hiện tại những trạm ny, NWS còn thả những bóng thám không, đợc bơm khí hyđrô, mang theo các bộ máy đo thời tiết,
đợc gọi l máy thám sát vô tuyến (radiosonde) (hình 13.2) Hai lần một ngy –
vo các hạn 0000 v 12000 giờ UTC * (Thời gian Đồng bộ Toun cầu, Universal
*
Các thời gian ny tơng ứng với 1900 (7:00 P.M.) v 0700 (7:00 A.M.) của Thời gian Miền
đông Tiêu chuẩn của Mỹ
Trang 9Coordinated Time), có khoảng 750 bóng thám sát vô tuyến đợc thả lên khí quyển trên khắp thế giới, khoảng 80 ở trong phạm vi nớc Mỹ v Canađa Các máy thámsát vô tuyến liên tục quan trắc v truyền tới các trạm ghi ở mặt đất áp suất, nhiệt
độ không khí v nhiệt độ bầu ớt (từ đó xác định đợc nhiệt độ điểm sơng) Một số máy thám sát vô tuyến đợc kiểm soát đờng đi bằng rađa khi chúng bay lên trong khí quyển, cho phép xác định tốc độ v hớng gió của khí quyển tầng trung v tầng cao Các máy thám sát vô tuyến đợc kiểm soát quỹ đạo bằng ra đa đợc gọi l rađa thám sát gió (rawinsonde)
13-1 Chuyên đề:
Hiện đại hóa Cơ quan Thời tiết Quốc gia
Trong mấy thập niên gần đây, tất cả
các mặt của công tác dự báo thời tiết đã
đợc cải thiện đáng kể Những thnh tựu
của việc phân tích thời tiết l nhờ một
phần ở mạng lới dữ liệu bề mặt đợc cải
công suất không thể so sánh với các phiên
bản ngy nay chỉ để chạy các mô hình thô
trong dự báo nghiệp vụ Các vệ tinh địa
tĩnh (vệ tinh quay quanh xích đạo một
vòng trong một ngy v do đó giữ nguyên
vị trí cố định bên trên mặt đất) v những
phiên bản quỹ đạo cực của chúng (vệ tinh
quay từ cực đến cực trong khi hnh tinh ở
phía dới xoay) không chỉ cung cấp ảnh nhìn thấy v ảnh hồng ngoại về mây, mcòn xác định các đặc trng nhiệt độ v độ
ẩm tại các độ cao của khí quyển
Sự kết hợp giữa quỹ dữ liệu tăng lên v năng lực xử lý dữ liệu hon thiện hơn bao giờ hết đã giúp các nh dự báo có thể tin tởng dựa vo đầu ra của mô hình lm chỉ dẫn cho các dự báo của họ.Nhng đến những năm 1980, ngời ta đã quyết định rằng một cuộc cải tổ to lớn đối với Cơ quan Thời tiết Quốc gia l cần thiết để đảm bảo trình độ dự báo cao nhất có thể v cảnh báo thời tiết cực đoan nói riêng Do đó m bắt đầu chơng trình hiện đại hóa NWS
Một trong các bớc đầu tiên của quá trình hiện đại hóa l cải tiến phần cứng máy tính v hon thiện các mô hình số
Đã có những bớc tiến bộ nhảy vọt về phần cứng máy tính trong những năm gần đây v thậm chí hứa hẹn cải thiện tiếp tục Vo tháng 5/2002 NWS đã thỏa thuận phát triển một siêu máy tính mới
có thể xử lý 100 tỷ tỷ phép tính trong một giây vo năm 2009
GOES-1 v GOES-2, các vệ tinh đầu tiên trong loạt vệ tinh địa tĩnh hiện tại
đã đợc thay thế bằng GOES-10 vGOES-12 đang vận hnh, chúng đảm bảo khả năng quét phủ tuyệt vời bên trên các
bộ phận phía tây v phía đông của Bắc
Mỹ Thế hệ mới nhất của vệ tinh GOES
Trang 10đảm bảo độ phân giải siêu cao v thu
nhận thông tin về nhiệt độ, độ ẩm tốt hơn
đối với các mực khí quyển khác nhau
Các nh dự báo hiện nay còn đợc
hởng lợi từ một hệ thống rađa hiện đại
hóa Thế hệ NEXRAD của các hệ thống
rađa Doppler (đã giới thiệu ở chơng 11)
đã đợc lắp đặt tại 163 địa phơng trong
nớc Mỹ Ngoi những trạm đã đợc lắp
đặt vừa nêu, NOAA hiện nay đang thí
nghiệm với một loại hệ thống rađa khác
Các rađa quét gió lát cắt (wind profiler)
ny thu nhận số liệu gió phơng ngang
cho tới 72 mực khác nhau trong khoảng
Kỳ Nếu hệ thống chứng tỏ có giá trị đối với các nh dự báo, mạng lới ny sẽ mở rộng tới khoảng 120 rađa quét lát cắt Hiện đại hóa không chỉ bao gồm áp dụng công nghệ mới, m còn hiện đại hóa mọi hoạt động Trớc đây có 52 phòng dự báo dịch vụ thời tiết v 204 phòng dịch vụ thời tiết nhỏ hơn Hiện nay, hng ngycông việc đợc tiến hnh tại 119 phòng
dự báo thời tiết, đảm bảo an ton đáng kể cho công chúng
Hình 13.2 Một bóng thám sát vô tuyến đ~ợc thả bên ngoi Phòng dịch vụ Thời tiết ở Topeka, Kansas
Phần lớn các bóng thám sát vô tuyến bay lên tới bình lu quyển ở khoảng mực
4 mb, hay khoảng 30 km, ở đó quả bóng bị nổ v bộ ruột máy đợc dù mang trở lại mặt đất Thông thờng một lần bay lên đầy đủ của bóng thám sát vô tuyến mất khoảng 1 giờ 50 phút, với thời gian đó bộ thiết bị đo có thể bị mang đi xuôi theo gió nhiều kilômét khỏi vị trí thả bóng Điều thú vị l, tìm thấy các hộp máy thám sát vô tuyến thờng l những ngời không phải l nh khí tợng học, họ chỉ ngẫu nhiên tìm thấy m thôi Nhiều ngời tìm thấy hộp máy đã tuân theo chỉ dẫn ở trong đó yêu cầu họ bỏ vo thùng bu cục để gửi tới phòng dịch vụ thời tiết, v các cảm biến thám sát vô tuyến đợc trả lại sau đó đợc sửa chữa để sử dụng lại Tuy
Trang 11nhiên, một số bóng không bao giờ đợc trả lại, vì chúng rơi ở ngoi đại dơng hoặc ở những vùng đất xa xôi
Thông tin mực cao cũng nhận đợc từ những khác Nhiều máy bay dận dụng lớn đợc trang bị các cảm biến thời tiết liên tục theo dõi khí quyển trong suốt chuyến bay v các vệ tinh thời tiết bổ sung cho cơ sở dữ liệu mực cao thông qua xác
định nhiệt độ v độ ẩm tại nhiều mực trong khắp khí quyển Máy bay v vệ tinh cùng nhau cung cấp dữ liệu từ những vị trí cách xa các trạm thám không vô tuyến v có một vai trò quan trọng đặc biệt trong việc thu thập thông tin trên các đại
dơng Ngoi ra, dữ liệu mặt đất đợc thu thập bởi những đầu đo trên các trạm phao v gửi về đất liền qua các vệ tinh
Các nh dự báo không chỉ có trong tay lợng dữ liệu khổng lồ, họ còn có khả năng dễ dng hiển thị v thao tác biến đổi với thông tin cho phù hợp với nhu cầu dự báo kịp thời Hệ thống AWIPS (đã giới thiệu ở chơng 1) có chức năng nh chủ yếu hiển thị v phân tích dữ liệu
Quy trình dự báo v sản phẩm dự báo
Nh đã nhắc tới trớc đây, các mô hình số l công cụ tuyệt vời của công tác dự báo thời tiết hiện đại Các cơ quan thời tiết khác nhau trên thế giới phát triển các mô hình của riêng mình v thờng sử dụng một bộ mô hình chứ không phải một
chơng trình duy nhất Ví dụ, Cơ quan Thời tiết Quốc gia hiện đang sử dụng ba mô hình chính Các mô hình đợc cập nhật liên tục, v dần dần những mô hình mới
đợc đa ra, còn những mô hình cũ bị loại bỏ Mặc dù có những khác biệt rất lớn giữa các mô hình, song quy trình chung thì nh nhau đối với tất cả các mô hình số
Công đoạn phân tích
Đầu tiên l pha phân tích, trong đó các quan trắc đợc sử dụng để cung cấp
các giá trị ứng với trạng thái ban đầu (“hiện tại”) của khí quyển đối với tất cả các biến trong mô hình Hãy nhớ rằng các mô hình thuộc loại ba chiều, nghĩa l cần có các giá trị cho khắp chiều dy khí quyển, không chỉ tại bề mặt Hơn nữa, một số trong các mô hình có một miền tính ton cầu bao phủ ton bộ hnh tinh, v do đó chúng đòi hỏi các giá trị ban đầu ở mọi nơi, trên đất liện v đại dơng
Đáng tiếc, mạng lới các trạm thời tiết v thả bóng thám không vô tuyến rất rời rạc v tha thớt không đảm bảo độ phủ đều Một phần công việc phân tích lchuyển đổi các quan trắc không đồng đều đó thnh những giá trị ban đầu “đồng nhất” Dù chỉ l một bớc chuẩn bị, song đó l một nhiệm vụ khó Có hng triệu giá trị dữ liệu từ rất nhiều nguồn (vệ tinh, tầu biển v.v ) v đại diện cho các thời điểm khác nhau Không có một quan trắc no l hon ton tránh khỏi sai số v nhiều quan trắc bị sai số lớn Cần phải loại bỏ cng nhiều sai số cng tốt v đồng thời tạo
ra các trờng có tính chất tự hòa hợp Ví dụ, khi các tốc độ gió đợc gán thì trờnggió kết quả phải thỏa mãn sự bảo ton khối lợng
Các giá trị quan trắc còn phải hòa hợp với mô hình cụ thể đang đợc sử dụng Tất cả các mô hình l những xấp xỉ của khí quyển thực, v điều quan trọng l
Trang 12trờng ban đầu không chứa những thnh tạo m không thể biểu diễn đợc bằng mô hình Nếu không, ngay từ đầu thời kỳ dự báo mô hình sẽ điều tiết tới sự không ăn khớp giữa các điều kiện ban đầu v cái m nó cho l khả dĩ Sự điều tiết đó sẽ đợcxếp chồng lên những biến thiên nếu có sinh ra từ những quá trình trong phạm vi bao quát đợc của mô hình v sẽ có thể lm hỏng dự báo Các mô hnhf khác nhau
do đó phải dựa trên những phơng pháp phân tích khác nhau Tuy nhiên, đối với tất cả các mô hình, đó l một thủ tục phức tạp, can dự tới việc tích hợp những quan trắc hiện có gần nhất, các giá trị quá khứ (nh thảm tuyết) v thậm chí cả đầu ra
từ các mô hình khác
Công đoạn dự báo
Về cơ bản, công việc của một mô hình số l giải các phơng trình cơ bản mô tả diễn biến của khí quyển: phơng trình chuyển động, phơng trình liên tục, phơngtrình năng lợng v.v Tập hợp tất cả lại, đó l các phoơng trình điều khiển Bắt
đầu với những giá trị xuất ra từ công đoạn phân tích, mô hình sử dụng các phơngtrình điều khiển để nhận đợc những giá trị mới ứng với vi phút sắp tới trong tơng lai Sau đó quá trình đợc lặp lại, sử dụng đầu ra của bớc thứ nhất lm đầu
vo cho các tính toán tiếp theo Thủ tục ny đợc thực hiện qua nhiều lần cần thiết
để đạt tới cuối thời hạn dự báo (24 giờ, 48 giờ hay hơn nữa) Đó gọi l công đoạn
dự báo của quá trình chạy mô hình Một lần nữa, chúng tôi nhấn mạnh rằng công
đoạn ny đòi hỏi một ti nguyên tính toán khổng lồ Các phơng trình điều khiển không thể đợc giải một cách trực tiếp, m phải phân rã thnh những phép tính
đơn giản m máy tính có thể thực hiện, nh phép tính nhân v phép tính cộng
Điều đó dẫn tới nhiều tỷ phép tính đối với mỗi bớc thời gian, mặc dù thực tế l chỉ
có một nhóm nhỏ các biến khí quyển cơ bản (nhiệt độ, áp suất, vectơ vận tốc gió, mật độ v độ ẩm)
4) Độ cao v các giá trị độ xoáy tuyệt đối mực 500 mb;
5) Lợng giáng thủy
Các sản phẩm ny đợc sử dụng theo nhiều cách, một số cách đợc mô tả sau trong chơng ny Nói một cách tổng quát, các nh dự báo nghiên cứu các bản đồ của từng thời hạn v lý giải những điều kiện có thể đi kèm với những hình thế nhvậy Các bản đồ đợc đối chiếu với nhau v với những bản đồ tơng ứng từ các mô
Trang 13hình khác đối với cùng thời hạn Dĩ nhiên, các dự báo mô hình có khác nhau giữa các mô hình - ngời dự báo sử dụng đầu ra của mô hình lm chỉ dẫn, cân nhắc các kết quả một cách khác nhau tùy theo cái gọi l những điểm mạnh v những điểm yếu của mỗi mô hình v bổ sung chỉ dẫn mô hình bằng những phân tích v quan trắc khác
Thờng l dự báo thực sự (cuối cùng) sẽ không khớp với mô hình no đó một cách chính xác Ví dụ, các hình 13.3a, b v c cho thấy các dự báo giáng thủy từ ba mô hình đối với ngy 2/6/1992 Mặc dù tất cả ba dự báo đều cho ma lớn ở khu vực Texas-Oklahoma, vị trí v lợng ma biến đổi đáng kể giữa các mô hình (Trung tâm Oklahoma sẽ đơc 5 inch hay 1,5 inch?) Nh có thể thấy trên hình 13.3d, ngời
dự báo tạo ra một dự báo bằng tay khá khác so với mội mô hình, khu vực ma cực
đại đã dịch về phía nam v phía đông của các mô hình Buồn thay, tự nhiên hôm ấy thật bớng bỉnh, lm thất vọng cả máy lẫn ngời - ma lớn nhất thấy ở điểm cực
đông nam Texas (hình 13.3e) Dù rằng dự báo không thnh công, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây l đầu ra mô hình kết hợp với thông tin khác trong khi đa
ra các dự báo chính thức Các mô hình số chắc chắn tốt hơn những phơng pháp chủ quan đơn thuần, nhng một tổ hợp của đầu ra mô hình v thông tin khác (kể cả
sự cân nhắc chủ quan) thì thậm chí còn tốt hơn
Các đoờng biểu diễn loợng moa bằng inch
Hình 13.3 Các dự báo l~ợng m~a 24 giờ từ 3 mô hình số (a-c), dự báo cuối cùng (d) v l~ợng m~a quan trắc (d) ngy 2/6/1992
Rất thú vị l kinh nghiệm v “các quy tắc kinh nghiệm” đã không đợc các dự báo máy tính sử dụng, nhng đợc ngời ta áp dụng cho các dự báo của máy tính với hy vọng lm cho các dự báo đó hon thiện hơn Một điều thú vị nữa l trong khi các mô hình số tiến hóa v thay đổi tới tốt hơn thì các quy tắc cũ phải đợc không ngừng đánh giá lại trong bối cảnh diễn biến mô hình mới
Trang 14Ngoi những trờng trên lới của các biến mô hình, ngời ta còn đa ra các dự báo cho một số biến thứ sinh Ví dụ nh nhiệt độ cực đại v cực tiểu, điểm sơng,các điều kiện gió v xác suất giáng thủy Các dự báo ny đợc xây dựng nhờ sử dụng những quan hệ thống kê giữa đầu ra mô hình v điều kiện bề mặt quan trắc trong quá khứ Các sản phẩm đầu ra ny đợc gọi l các đặc trong thống kê đầu ra mô hình (MOS) v đợc dùng để tính tới hiệu ứng của địa hình v những nhân tố khác ảnh hởng tới các điều kiện thời tiết địa phơng Các mô hình số chỉ có một khả năng hạn chế thể hiện các quá trình xảy ra gần bề mặt, v chúng cung cấp một bức tranh tơng đối khái lợc về khí quyển Do đó, một cách tiếp cận thống kê có sức hấp dẫn đáng kể Các đặc trng thống kê đầu ra mô hình hiệu quả nhất đối với những nơi no m những quan hệ thống kê đợc rút ra, nhng nó có phần kém hiệu quả tại những nơi trung gian có một điều kiện địa hình khác
Những dự báo ngy nay tốt đến mức no? Không có một đáp án duy nhất cho câu hỏi ny: nó rất tùy thuộc vo biến số đợc hỏi, thời gian báo trớc của dự báo, mô hình đợc dùng, nơi dự báo v mùa Ví dụ, chắc chắn l dự báo phân bố nhiệt
độ, gió v áp suất l những dự báo tốt hơn nhiều so với giáng thủy Một ví dụ về kỹ năng dự báo giáng thủy đợc thể hiện trên hình 13.4, hình ny cho điểm kỹ năng của một số mô hình đối với các lợng giáng thủy khác nhau đối với mùa xuân vmùa hè năm 1995 Các điểm kỹ năng giảm đáng kể khi tăng lợng giáng thủy, nó nói lên sự khó khăn của việc dự báo giáng thủy lớn vì giáng thủy lớn có xu hớngcục bộ rất cao Một nét nổi trội nữa l có những khác biệt đáng kể giữa các mô hình, mặc dù các cấp kỹ năng của các mô hình l nh nhau đối với tất cả các lợng giáng thủy Ví dụ, mô hình A luôn có kỹ năng cao nhất, trong khi mô hình D cho thấy kỹ năng thấp tại tất cả các mức giáng thủy (Nói chung không phải nh vậy - nếu sử dụng các tiêu chí kỹ năng khác, thì các mô hình sẽ thay đổi vị trí tơng đối với nhau)
Hình 13.4 Kỹ năng dự báo 24 giờ đối với các mô hình của NCEP v l~ợng giáng thủy Chỉ dự báo cho mùa nóng (tháng 3
đến tháng 8) của nam~ 1995
Còn có thể thấy những biến thiên kỹ năng theo mùa khá đáng kể, nh đã thấy trên hình 13.5, hình ny thể hiện các dự báo 1 inch cho kỳ 10 ngy (1984-1993) Rõ rng, giáng thủy mùa đông đợc dự báo với kỹ năng cao hơn nhiều so với ma mùa
hè Điều ny một phần do những biến thiên mùa trong các quá trình giáng thủy Khi chúng ta đi từ các hệ thống lớn, quy mô synop trong mùa đông tới đối lu quy mô nhỏ hơn trong mùa hè, thì dự báo sẽ trở nên khó hơn đối với vị trí chính xác của
Trang 15các sự kiện giáng thủy Thứ hai, giáng thủy mùa đông có xu hớng kém mạnh hơn nhiều, với những trận gió bão kéo di nhiều giờ Cuối cùng, trong mùa đông thờngl chỉ có một số trung tâm giáng thủy lớn gắn liền với các front v các xoáy thuận vĩ
độ trung bình Những trung tâm đó có thể đợc các nh dự báo chú ý nhiều hơn so với nhiều trận lốc tố “bất ngờ xuất hiện” v những nhiễu động nhỏ khác xuất hiện loáng thoáng trong mùa hè
Hình 13.5 Kỹ năng dự báo giáng thủy 1 inch, hạn 24 giờ của NCEP lấy trung bình trong các năm 1983-1993 Kỹ năng ny l
của dự báo bằng tay, không phải ltừ một mô hình cụ thể no
Điểm cuối cùng cần nhận xét đó l mặc dù những tiến bộ không ngờ trong công nghệ máy tính, vẫn còn một chỗ cho sự cân nhắc của con ngời trong quá trình dự báo Ta xét hình 13.6, ở đây so sánh các dự báo MOS với những dự báo do các nhân viên dự báo địa phơng thực hiện tại khoảng 95 trạm ở Mỹ Đối với cả dự báo nhiệt
độ ngy cực đại v dự báo xác suất của ma, chúng ta thấy sự tiến bộ đáng kể trong
30 năm cuối Mặc dù khoảng cách có thể đã hẹp đi phần no, thậm chí ngy nay con ngời đang có một u thế hơn các máy tính Kiến thức khu vực (v sự trải nghiệm liên quan tới những thất bại của mô hình) vẫn tiếp tục có ích v có thể bổ sung giá trị đáng kể cho các dự báo thuần túy khách quan
Trang 16ngy.ở Mỹ, mô hình phổ toun cầu (phụ lục chơng 13) đợc sử dụng tại NCEP để
lập các dự báo 15 ngy Mặc dù các mô hình đợc ghép lại nh thế no đó thnh MRF, song thủ tục về cơ bản vẫn đúng nh việc dự báo hạn ngắn Tức l, ở mức độ dữ liệu, lý thuyết v ti nguyên máy tính cho phép, cách tiếp cận l phơng pháp
số, dựa trên các định luật vật lý đã biết chứ không phải l các liên hệ thống kê
Hình 13.6 Điểm dự báo nhiệt độ cực đại mùa lạnh (tháng 10 - tháng
3) (a) v giáng thủy (b) Các đồ thị so sánh đầu ra khách quan (MOS)
với các dự báo 24 v 48 giờ của các nhân viên dự báo địa ph~ơng
Thay vì chỉ lm một dự báo duy nhất, dự báo tổ hợp đợc khai thác rộng rãi,
trong đó ngời ta chạy một số các mô hình khác nhau thực hiện dự báo cho cùng một thời kỳ dự báo Nguyên nhân l vì, nh chúng ta đã nhắc tới trớc đây, những nhiễu động nhỏ có thể phát triển thnh các nhiễu động lớn (Điều ny đúng đối với cả các mô hình lẫn khí quyển thực) Do đó, nếu hai mô hình đợc thực hiện với những giá trị ban đầu hơi khác nhau, thì kết quả có thể rất khác nhau sau một tuần hoặc đại loại nh vậy Đợc N E Lorenz phát hiện vo năm 1963, kiểu diễn
Trang 17biến ny bây giờ đợc biết tới nh một đặc trng của nhiều hệ thống tự nhiên vcon ngời v đợc gọi l “hunh vi ngẫu nhiên”.
Sự ngẫu nhiên l một vấn đề nghiêm trọng đối với dự báo thời tiết bởi vì các
điều kiện ban đầu không bao giờ đợc biết một cách chính xác Do đó, ví dụ, nếu một rãnh ở mực cao xuất hiện trong dự báo hạn 15 ngy, thì không có cách no biết
đợc nó l “thực” hay nó sinh ra vì các sai số trong dữ liệu ban đầu Dự báo tổ hợp
sử dụng nhiều lần chạy mô hình bắt đầu với những giá trị ban đầu hơi khác nhau Các trờng ban đầu khác nhau đợc tạo ra bằng cách đa những biến thiên nhỏ (những nhiễu) vo trong trờng đợc cho l tốt nhất Có một số phơng pháp để gán các nhiễu, nhng tất cả đều mu tính sao để mô phỏng (bắt chớc) các sai số có thể xuất hiện một cách hợp lý trong dữ liệu Từ tổ hợp các điều kiện ban đầu đó, một tổ hợp các dự báo đợc lập ra, mỗi dự báo khác với các dự báo khác
Hình 13.7 Dự báo tổ hợp 10 ng y từ mô hình NCEP MRF
Đ ~ờng đồng mức 5700 vẽ cho tất cả 17 thnh phần tổ hợp
Hình 13.7 cho thấy một tổ hợp 10 ngy từ NCEP đối với Bắc bán cầu Bản đồ
ny l một kiểu bản đồ 500 mb, ngoại trừ chỉ có một đờng đồng mức độ cao đợc
Trang 18thể hiện: đờng 5700 m 17 thnh viên tổ hợp NCEP đợc thể hiện, cộng với dự báo chạy không nhiễu (kiểm tra) Hãy lu ý rằng tất cả các thnh viên tổ hợp đều cho một rãnh ở Tây Thái Bình Dơng ý nghĩa ở đây l các sai số có thể tồn tại trong dữ liệu, chúng không ảnh hởng tới dự báo ở đây Do đó, chúng ta có thể có niềm tin no đó rằng một rãnh thực sẽ phát triển Nhng trên khu vực trung tâm châu á, Tây Âu v Bắc Đại Tây Dơng, độ tản tổ hợp lớn hơn: các thnh viên tổ hợp thể hiện rất ít nhất quán với nhau, mách bảo rằng chúng ta nên ít tin tởng hơn với dự báo đối với các khu vực đó (Dơng nhiên, chúng ta không nên chỉ dựa vo một
đờng đồng mức duy nhất để có quyết định cuối cùng v nên xem các biến số khác ngoi độ cao 500 mb)
Hình 13.7 minh họa khả năng quan trọng nhất của các tổ hợp, đó l cung cấp thông tin về độ bất định của dự báo Nếu biết độ bất định, ngời ta có một ớc
lợng độ tin cậy để tiếp tục dự báo v không chú ý nhiều tới những dự báo đợc cho l không tin cậy Các tổ hợp còn có thể đợc sử dụng theo những cách khác, bao gồm cả việc lập ra chính dự báo Cụ thể, trung bình của tất cả các tổ hợp có thể
đợc xử lý nh một dự báo, thậm chí mặc dù nó không sinh ra từ một mô hình Hơn nữa, chúng ta có thể kỳ vọng dự báo ny sẽ khá tốt, trên cơ sở l lấy trung bình thì
sẽ l trơn hết những thnh tạo no chỉ thấy ở một hoặc hai thnh viên
Còn một khả năng khác của các tổ hợp, đó l để chẩn đoán những thất bại của mô hình Giả sử tất cả các dự báo tổ hợp thống nhất ở khu vực no đó, tuy tất cả
đều khác với những gì cuối cùng đã quan trắc đợc Khác biệt giữa dự báo v quan trắc không thể đợc giải thích bởi sai số của dữ liệu, bởi vì tổ hợp đảm bảo dự báo không nhạy cảm với sai số dữ liệu Điều đó lm cho sai số mô hình rõ rng l sai số,
có nghĩa rằng một hay một số quá trình đợc xử lý tồi trong mô hình v cần honthiện Dĩ nhiên, tổ hợp không chỉ ra vấn đề, nhng nó lm lộ ra tình huống trong đó vấn đề ảnh hởng tới dự báo Bằng cách nghiên cứu các chi tiết của tình huống đó,
có thể biết khía cạnh no của mô hình cần xử lý
Tại thời gian ny, có rất ít bằng chứng kỹ năng trong các dự báo hạn vừa trên một tuần hơach hơn, đặc biệt đối với giáng thủy Tuy nhiên, nhiều lần chúng tạo ra những dự báo đúng (v có giá trị) v có thể cung cấp chỉ dẫn hữu ích về những xu thế chung Ngoi ra, đợc biết rằng độ tản của tổ hợp tơng quan với sai số dự báo trong phạm vi lâu đến 10 ngy, mách bảo rằng các ớc lợng về độ tin cậy dự báo cũng có giá trị tại hạn vừa
Các dự báo hạn d i
Các dự báo còn đợc lập với thời gian báo trớc lâu hơn nữa, đợc gọi l “dự báo hạn d i”. ở Mỹ Trung tâm Dự báo Khí hậu (CPC) của NCEP có trách nhiệm lập các dự báo với các hạn từ một tuần đến những giới hạn cho phép kỹ thuật Các
phơng pháp sử dụng gồm phơng pháp khí hậu, thống kê, các mô hình số vphơng pháp phán xét chủ quan Ví dụ, do tầm quan trọng trong hệ thống khí hậu
ton cầu, nhiệt độ nớc mặt đại dơng (SST) ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dơng
đợc dự báo đều đặn với hạn báo trớc đến một năm Các dự báo SST đợc dựa trên một tổ hợp ba mô hình:
Trang 19tổ hợp lại bằng phơng pháp thống kê để đa ra dự báo cuối cùng
Một sản phẩm khác của Trung tâm Dự báo Khí hậu l “tổng quan mùa”, một loại dự báo cho ton bộ một mùa, thờng hay bị hiểu sai Trái lại với các dự báo hạn
di dự báo các điều kiện cho những ngy cụ thể, các dự báo tổng quan mùa dự báo các điều kiện trung bình trong một loạt ngy Hình 13.8 thể hiện quy cách, trong đó các mùa đợc phân lớp thnh “trên chuẩn”, “gần chuẩn” hay “dới chuẩn” Các lớp
đợc định nghĩa sao cho “trên chuẩn” gồm một phần ba phân bố trên; nghĩa l theo
định nghĩa “lớp “trên chuẩn” xuất hiện khoảng 33 % số lần, khi một biến nằm trong cung phận 66 hoặc cao hơn “Gần chuẩn” v “dới chuẩn” đợc định nghĩa một cách
tơng tự, tuần tự l một phần ba giữa v một phần ba dới Nh vậy, không cần một hiểu biết đặc biệt no, chúng ta có thể dự báo “trên chuẩn” với độ chính xác 33% v giống nh vậy với “gần chuẩn” v “dới chuẩn” Giả sử chúng ta nghĩ các
điều kiện “gần chuẩn” l hon ton có thể, chẳng hạn có thể tới 45 % Trong trờnghợp đó chúng ta đã đa ra một dự báo “gần chuẩn” Nhng nếu chúng ta nghĩ cáckhả năng chỉ l 34 %, thì có lẽ chúng ta sẽ từ chối không lm một dự báo dựa trên những căn cứ rằng các điều kiện trên chuẩn hoặc dới chuẩn chỉ có khả năng nhnhau Nhìn lên các bản đồ, bạn thấy rằng phần lớn vùng, các xác suất gần với khí hậu (đợc ghi nhãn “CL”) Chỉ có một ít khu vực l có lý do để cho rằng các điều kiện dị thờng sẽ xuất hiện
Các dự báo ny nhận đợc bằng cách no? Lại một lần nữa, bằng tổ hợp các
phơng pháp cả số trị lẫn thống kê Ví dụ, các dự báo SST từ mô hình kết nối đại
dơng - khí quyển đợc sử dụng lm các điều kiện biên để chạy lặp mô hình hon
lu chung của khí quyển Một kiểu chạy mô hình khác l sử dụng SST dựa trên quán tính chứ không phải l những nguyên lý vật lý Lại một lần nữa, kết quả lmột tổ hợp các dự báo khí quyển Các kỹ thuật thống kê chủ yếu dựa trên quán tính trong các hình thế dị thờng Tức l, những khác biệt khỏi giá trị trung bình đợcphân tích về độ ổn định v/hoặc những hình thế tiến hóa thích hợp Mặc dù các chi tiết vợt ra khỏi khuôn khổ một giáo trình nhập môn, song ý tởng cơ bản l: Quá khứ l chìa khóa tới tơng lai
Có một số điều phải luôn nhớ trong khi lý giải các dự báo hạn di Thứ nhất, chúng l những dự báo cho ton bộ thời kỳ (mùa), không phải cho một ngy cụ thể
Ngời ta chắc chắn không kỳ vọng những điều kiện trên trung bình sẽ xảy trong suốt thời kỳ dự báo, cho dù xác suất “trên trung bình” l có thể Còn nữa, hiện nay, những dự báo ny không có kỹ năng lớn, v nếu có kỹ năng thì kỹ năng thay đổi theo mùa, địa điểm v biến dự báo (nhiệt độ hay giáng thủy) Cuối cùng, thậm chí nếu kỹ năng l tơng đối cao (chẳng hạn 20 %), thì xác suất liên quan không chắc
l lớn Thực tế, ít khi có các xác suất cao hơn hẳn 50 % , ngay cả ở những khu vực
đáng tin cậy
Trang 20H×nh 13.8 Tæng quan mïa cho c¸c th¸ng 9 - 11 n¨m 1998
® ~îc dù b¸o tr~íc 1 n¨m vo ngy 15/9/1997
Trang 21Chúng ta kết thúc mục ny bằng việc chỉ ra rằng mặc dù những tiến bộ hiện nay về năng lực máy tính v độ phức tạp của mô hình rất ấn tợng, chúng ta còn rất xa mới có thể dự báo thời tiết đúng 100 % Trớc hết, không thể phát triển đợc một mô hình mô phỏng hon ton đợc tất cả các quá trình với tất cả các quy mô không gian v thời gian Lý do một phần l vì hiểu biết cha đầy đủ - đối với một số quá trình thì lý thuyết cơ sở cha hon chỉnh, cho nên mọi chơng trình máy tính dựa trên lý thuyết đó sẽ không hon thiện (chuyển động rối l một ví dụ điển hình)
Nhng ngay cả với hiểu biết hon thiện, thì cũng không thể xây dựng đợc một mô hình hon thiện - những yêu cầu tính toán l rất lớn Trái Đất có một chu vi bằng khoảng 40000 km, nên đó l kích thớc lớn nhất một mô hình hon chỉnh cần thể hiện Còn thnh tạo nhỏ nhất m chúng ta cần l cái gì? Để thảo luận, ta lấy ví dụ, trong một mô hình hon thiện, thì các hạt mây đờng kính 4 mμ phải xuất hiện,
cha nói đến những gì bé hơn Có nghĩa l mô hình phải lm việc với một dải các thnh tạo có kích thớc phủ lên 13 bậc độ lớn
Các mô hình ngy nay bao hm đợc các quy mô khoảng 3 bậc độ lớn Để đạt tới 4 bậc độ lớn, độ phân giải khoảng 5 km, sẽ cần một máy tính một nghìn lần mạnh hơn Ngay cả cái đó vẫn sẽ lm cho chúng ta thiếu mất 9 bậc độ lớn mới tới
đích, hay một thừa số bằng một tỷ Với khối tính tính toán khổng lồ nh vậy, cộng với lý thuyết cha hon chỉnh, thì khó m hình dung rằng sai số mô hình một khi
thnh những tháp mây tích lớn Điều đó có nghĩa gì đối với dự báo thời tiết số? - đó l ngời ta phải có những giá trị ban đầu chi tiết v chính xác để lm một dự báo tin cậy Thậm chí một sai số bé có những hậu quả đáng sợ: một thnh tạo lớn không xuất hiện trong dự báo, hoặc l một thnh tạo viễn tởng không hề giống một thứ gì trong khí quyển thực lại xuất hiện Độ nhạy cảm cực đoan ny đối với các điều kiện ban đầu l đặc trng của các hệ thống ngẫu nhiên nói chung v của khí quyển nói riêng Không có hy vọng gì về dự báo hon thiện, trừ khi chúng ta đã sẵn sngbắt đầu với dữ liệu hon thiện Hãy lu ý rằng vấn đề về ngẫu nhiên không phụ thuộc vo những khiếm khuyết no đó trong mô hình, nh các quá trình bị bỏ qua hay l đợc xử lý cha thích đáng Ngay cả khi chúng ta có thể xây dựng đợc một mô hình hon thiện, thì sự hiện diện của ngẫu nhiên vẫn dẫn tới không có một dự báo hon thiện
Trang 22Bản đồ v ảnh thời tiết
Mặc dù các máy tính có một vai trò quyết định trong việc phân tích thời tiết, cuối cùng nh khí tợng học áp dụng hiểu biết của anh ta hay chị ta để tạo ra dự báo có thể phát báo cho công chúng Có lẽ không có công cụ no giá trị đối với một nh dự báo bằng một bản đồ thời tiết V mặc dù các đoạn báo v tin truyền hình
thờng chỉ cho thính khán giả của mình thấy các bản đồ mặt đất, song việc dự báo thời tiết còn đòi hỏi phân tích những điều kiện trong khí quyển tầng trung v tầng cao Không chỉ các đám mây tồn tại ở trên cao bên trên bề mặt, m khí quyển tầng trung v tầng cao cũng kết nối mật thiết với không khí gần bề mặt Kết quả l,phân tích thời tiết đúng đắn đòi hỏi sử dụng một loạt các bản đồ khác, mỗi bản đồ thể hiện những lớp khác nhau của khí quyển
Bản đồ bề mặt
Bản đồ bề mặt về những điều kiện thống trị (nh bản đồ đợc thể hiện trên hình 13.9) biểu diễn một bức tranh tổng quát về phân bố áp suất mực nớc biển v
vị trí của các biên ranh giới front áp suất đợc biểu diễn bằng các đờng đẳng áp
vẽ cách nhau từng 4 mb, với những vùng áp suất cao nhất v thấp nhất cục bộ đợcghi nhãn tuần tự l H v L.
Hình 13.9 Một bản đồ thời tiết bề mặt điển hình Các thnh tạo quy mô lớn Ngay cả một ngời không chuyên nghiệp có thể
rút ra một số nhận xét khi sơ bộ xem xét một bản đồ thời tiết bề mặt Các tốc độ v
hớng gió tổng quát tuân theo các quy luật đã đợc bn luận ở chơng 4 Tức l, tốc
Trang 23độ gió biến thiên tuân theo khoảng cách của các đờng đẳng áp v gió ở Bắc bán cầu xoay theo chiều kim đồng hồ ra bên ngoi các hệ thống áp suất cao v ngợcchiều kim đồng hồ vo trong các áp thấp Các hệ thống áp cao thuận lợi cho những chuyển động thẳng đứng giáng xuống gây nên những bầu trời quang mây, còn áp thấp thì khuyến khích các dòng thăng dẫn tới lạnh đi đoạn nhiệt v hình thnhthảm mây Các bản đồ bề mặt trở thnh thậm chí có giá trị hơn khi xem theo loạt nối tiếp Bởi vì các bản đồ mới đợc xây dựng từng ba giờ một, ngời ta có thể dễ
dng theo dõi sự di dịch của các hệ thống thời tiết riêng biệt khi chúng di chuyển Bằng cách chấp nhận rằng các hệ thống sẽ tiếp tục diễn biến nh trong vi giờ
trớc, có thể suy ra sự di chuyển v mạnh lên hay tiêu tan của chúng trong một số giờ tiếp theo
Mô hình trạm Chúng ta có thể biết chi tiết hơn về các điều kiện tại những
nơi cụ thể nhờ các mô hình trạm Rất nhiều yếu tố thời tiết, bao gồm nhiệt độ, điểm sơng v áp suất, đợc thể hiện trong mỗi mô hình trạm Một mô hình trạm đầy đủ chứa một số thông tin vợt quá yêu cầu của phần lớn ngời xem bản đồ, cho nên hình 13.10 chỉ thể hiện những ký hiệu quan trọng nhất
Mô hình trạm chỉ ra độ phủ mây bằng cấp độ tô đen bên trong một hình tròn trung tâm Một hình tròn hon ton rỗng chỉ thị điều kiện quang mây, một hình tròn tô đen hon ton biểu diễn trời đầy mây; các cấp độ tô đen trung gian tơngứng với các tỷ phần phủ mây khác nhau Một đoạn thẳng đi ra từ hình tròn có những dấu gạch ở đầu mút l vectơ hay mũi tên gió biểu diễn tốc độ v hớng gió
Đầu mút tự do của mũi tên ứng với hớng gió từ đâu thổi tới Do đó, ví dụ một mũi
tên ở đỉnh của hình tròn chỉ thị gió từ phía bắc, còn mũi tên ở rìa bên phải của hình tròn có nghĩa rằng gió từ phía đông Tốc độ gió đợc biểu diễn bằng số lợng các dấu gạch di hoặc ngắn v/hoặc đuôi cờ, nh đã biểu diễn trên hình 13.10 Ví dụ, một mũi tên có một dấu gạch di v một dấu gạch ngắn có tốc độ gió giữa 15 v 20 dặm/giờ (23 đến 32 km/h)
Các giá trị nhiệt độ v điểm sơng (độ Fahrenheit) đợc ghi tuần tự ở phía trên trái v dới trái của hình tròn Còn các ký hiệu biểu diễn điều kiện thời tiết phổ biến (nh ma hay sơng mù) nằm ở giữa hai vị trí của nhiệt độ v điểm sơng
áp suất mực nớc biển (bằng mb) đợc cho dới dạng viết ngắn gọn ở phía trên phải của hình tròn Để chuyển số gồm ba chữ số thnh áp suất thực, trớc hết bạn
đặt một dấu phảy thập phân ở trớc chữ số cuối cùng v đặt số 9 hoặc 10 vo đầu của số Nh vậy 997 biểu diễn 999,7 mb, còn 104 ứng với 1010,4 mb Lm thế nobạn biết thêm số 9 hay số 10 vo trớc? Câu trả lời đơn giản gần nh luôn đúng, đó
l thêm số no để cho một giá trị gần nhất với 1000 mb (nói khác đi, thêm 9 nếu giá trị mã hóa lớn hơn 500 hay thêm 10 nếu nó nhỏ hơn 500)
Biến thiên của áp suất (xu thế áp suất) trong ba giờ cuối cùng đợc biểu diễn ở ngay phía bên phải của hình tròn Một lần nữa phải đặt dấu phảy thập phân trớcchữ số cuối cùng sao cho -10 chỉ thị áp suất giảm đi 1,0 mb Một ký hiệu ở bên phải của số chỉ thị một ý nghĩa định tính về áp suất đã biến thiên nh thế no (chẳng hạn, lúc đầu tăng lên nhng sau đó giảm)