vậy, những biến đổi về khí hậu có thể xảy ra thậm chí thông qua các giá trị trung bình của lợng ma, nhiệt độ, còn gió không đổi theo thời gian.. Ví dụ, thậm chí trong điều kiện không t
Trang 1Ch ơng 16
Hãy tởng tợng bạn đang sống ở vùng rìa phía nam của Greenland trong thế
kỷ 13 Giữa những ngời Viking hoang sơ, sinh hoạt của gia đình bạn chỉ xoay quanh việc câu cá, săn bắn v gia súc - chủ yếu l cừu đợc nuôi dỡng trên các
đồng cỏ tơi tốt trong những ngy hè di Nhng dần dần, trải qua những thập kỷ,
điều kiện khí hậu xa sút so với trạng thái bình thờng Dông bão mùa đông trở nên
thờng xuyên v khắc nghiệt hơn, những đợt tuyết nặng nề rất phổ biến Mùa sinh trởng rút ngắn vì số ngy sơng giá tăng lên Băng biển gia tăng lm hạn chế nghề cá v buộc ngời ta phải kéo di thời gian đi biển xa hơn đến phía nam Dần dần, mùa đông thống trị suốt năm v thức ăn cạn kệt l không tránh khỏi Đối mặt với những thay đổi ny, gia đình bạn sẽ rút lui về các vùng khí hậu Scandinavia ấm
áp hơn, bỏ lại sau lng những thế hệ ngời thân tử vong đợc chôn cất ở cái nơi mchẳng bao lâu sau đã trở thnh vùng băng vĩnh cửu
Suy ngẫm về điều ny, ngời ta không khỏi phân vân liệu những thứ nh thế
có xảy ra với hôm nay Mặc dù các xã hội hiện đại chắc chắn có khả năng thích nghi cao hơn so với những ngời Viking, nhng chúng ta khó thoát khỏi những ảnh hởng của biến đổi khí hậu (Dù sao, khí hậu thuận lợi vẫn cần thiết đối với tất cả các ngnh sản xuất thực phẩm) Vì vậy, không ngạc nhiên, chủ đề về biến đổi khí hậu đợc giới khoa học v công luận rất chú ý trong những năm gần đây Sự chú ý
ny không chỉ l xuất phát từ vấn đề các tác động có thể của con ngời tới khí hậu,
nó còn do mối lo về biến đổi khí hậu tự nhiên, nh liên quan đến những đợt El Nino
v phun tro núi lửa Trong chơng ny, chúng ta sẽ xem lại khí hậu trong quá khứ, những nhân tố có thể l nguyên nhân biến đổi khí hậu, những phơng pháp dùng để xác định khí hậu quá khứ v việc sử dụng các mô hình hon lu chung để nghiên cứu những tác động tiềm năng của con ngời
Định nghĩa biến đổi khí hậu
Chúng ta đã thấy ở chơng 15 rằng khí hậu đợc định nghĩa nh l những tính chất thống kê của các biến số khí quyển, gồm nhiệt độ, lợng ma v gió Vậy, biến
đổi khí hậu có thể đợc định nghĩa nh l một biến đổi của một tính chất thống kê của khí quyển, nh biến đổi về nhiệt độ trung bình Chúng ta còn thấy ở chơng 15 rằng khí hậu còn hơn l giá trị trung bình, hay trị số trung bình Những biến thiên năm đến năm, những biến thiên mùa v xu thế xuất hiện của những năm trên chuẩn v dới chuẩn liên tiếp cũng l một hợp phần quan trọng của khí hậu Vì
Trang 2vậy, những biến đổi về khí hậu có thể xảy ra thậm chí thông qua các giá trị trung bình của lợng ma, nhiệt độ, còn gió không đổi theo thời gian Ví dụ, thậm chí trong điều kiện không thay đổi lợng ma trung bình năm, thay đổi về thời gian của những năm khô hạn v ma nhiều có thể gây nên những hậu quả đối với con ngời v nên đợc xem l biến đổi khí hậu
Trớc hết, một cách rất tổng quát, ta xem biến đổi khí hậu có thể xảy ra bằng cách no Bằng cách no đó khí hậu Trái Đất giống nh một hệ thống thích ứng với một loạt các nhân tố bên ngoi, thờng đợc gọi l các điều kiện biên Trong trờng
hợp khí hậu ton cầu, các điều kiện biên gồm cờng độ ánh sáng Mặt Trời, phân bố các lục địa v đại dơng, thnh phần của khí quyển v.v Khi một hoặc nhiều nhân
tố bên ngoi ny thay đổi, hệ thống sẽ thích ứng theo Vì vậy, ví dụ, nếu nh năng lợng phát ra của Mặt Trời tăng lên, chúng ta dự đoán nhiệt độ trung bình toncầu tăng Một số năm có thể l lạnh hơn trớc, nhng về trung bình, ta kỳ vọng một khí hậu ấm hơn, đó l sự biến đổi của một tính chất thống kê Các điều kiện bên ngoi có thể biến đổi quá nhanh, phá vỡ một loại cân bằng khí hậu no đó, nhng
ta có thể không bao giờ cho rằng các điều kiện bên ngoi điều khiển đợc biến đổi khí hậu Nếu nhìn nhận sự vật theo cách đó, thì biến đổi khí hậu có thể đợc định nghĩa nh l sự thích ứng của hệ thống Trái Đất - khí quyển với những thay đổi của các điều kiện biên
Trớc khi áp dụng quan điểm rất hấp dẫn (v rất phổ biến) ny về biến đổi khí hậu, chúng ta cần hỏi hai câu hỏi Thứ nhất, ta phân vân liệu một tổ hợp các điều kiên biên đang xét có quyết định khí hậu Trái Đất một cách đơn trị không Nói khác đi, ta có thể hỏi “một tổ hợp duy nhất các giá trị biên có thể sinh ra hơn một kiểu khí hậu không?” Thật thú vị, cả lý thuyết v quan trắc đều mách bảo rằng câu trả lời l “có” Ngời ta đã biết tới cung cách diễn biến kiểu đó thờng xảy ra trong các hệ thống phức tạp, nh khí hậu Trái Đất, v gọi nó l tính không chuyển tiếp.
Nếu khí hậu Trái Đất l không chuyển tiếp, chắc chắn sẽ lm phức tạp cho câu hỏi
có phải các điều kiện biên đã gây nên sự biến đổi nh ta đã thấy không, v lm cho chúng ta khó m quy kết những biến đổi no đó cho các nguyên nhân cụ thể
Câu hỏi thứ hai liên quan tới cách m chúng ta dùng để phát hiện biến đổi khí hậu Hãy tởng tợng có một dụng cụ hon hảo, có thể đo trạng thái của khí quyển tại thời điểm bất kỳ trong suốt lịch sử Trái Đất Các số đo từ một thiết bị nh vậy
có thể đợc dùng để tính các đặc trng thống kê cho những thời kỳ khác nhau, chúng cung cấp bằng chứng về biến đổi khí hậu Ví dụ, ta có thể lấy trung bình các giá trị nhiệt độ trong các thời kỳ 100 năm liên tiếp để có ý niệm về biến thiên từ thế
kỷ đến thế kỷ Chúng ta phân vân “liệu các đặc trng thống kê nh thế có khả năng biến đổi theo thời gian không, thậm chí trong tình huống các điều kiện biên không
đổi?” Đáp án lại l “có” Nếu sử dụng lý thuyết thống kê đơn giản, dễ dng chứng minh đợc rằng các số đo thống kê đợc tính toán theo kiểu đó có bị biến thiên, không phụ thuộc vo những thay đổi của các điều kiện biên Vì vậy, dù trị số trung bình đích thực l không đổi, các trị số trung bình 100 năm riêng lẻ tăng v giảm từ thế kỷ ny đến thế kỷ khác (Các đặc trng thống kê khác cũng diễn biến tơng tự)
Về phơng diện vật lý, vấn đề l do những biến thiên ngắn hạn, không lờng trớc
Trang 3đợc gắn liền với các sự kiện thời tiết, đã gây nên những biến thiên ở các quy mô thời gian di hơn * Những thiên lệch ngắn hạn khỏi trị trung bình trở thnh những thiên lệch di hạn v lm hỗn tạp những thay đổi nếu có do các điều kiện bên ngoi Cho nên, dù ta thấy nhiệt độ trung bình 100 năm thay đổi, thì vẫn không rõ
có phải ta đang chứng kiến biến đổi khí hậu hay không – có thể đó l lỗi nhân tạo
do các mẫu có độ di hạn chế Rõ rng l, không có phơng cách no cho bi toán
ny; nếu dùng các chu kỳ lấy trung bình di hơn thì giảm đợc sai số mẫu, nhnglại tăng xác suất lm lu mờ mất các thời kỳ khí hậu thực sự khác biệt (có nguyên nhân do các điều kiện bên ngoi thay đổi)
Trong bối cảnh những khó khăn nh vậy, chúng ta sẽ phải mở rộng quan điểm của mình về biến đổi khí hậu để thâu tóm đợc tất cả những thay đổi, dù l do các giá trị biên hay l không Nói khác đi, trong sách ny chúng tôi không phân biệt giữa sự biến đổi do các quá trình nội tại v biến đổi do các quá trình bên ngoi Bất chấp “công cụ” m chúng ta sử dụng (nhiệt kế, lợng tích tụ băng trong băng h, độ rộng của các vòng đời trong thân cây), nếu các giá trị thống kê thay đổi theo thời gian, chúng ta sẽ gọi đó l biến đổi khí hậu Bớc đầu, điều ny dù cha phải l lý tởng (biến đổi bây giờ phụ thuộc một phần vo độ di của mẫu), nhng nó có tính thực tế cao v tránh đợc những phức tạp nh đã nêu
Các quy mô thời gian của biến đổi khí hậu
Các nh khí tợng học hay bị hỏi một câu hỏi rất đơn giản: Khí hậu đang nóng lên? Mặc dù câu hỏi đợc phát biểu một cách đơn giản, song không có đáp án đơn giản, một phần bởi vì đáp án tùy thuộc vo quy mô thời gian đợc xét Xét xu thế giả định của nhiệt độ tại nơi no đó, đợc biểu diễn trên hình 16.1 Nếu một ngờiquan tâm đến xu thế nhiệt độ trong tất cả 150 năm, thì có một xu thế rõ rng đang
ấm dần Mặt khác, ai đó khoảng 20 tuổi có thể sẽ bảo rằng các nhiệt độ đã giảm trong suốt thời gian chị ấy sống
Hình 16.1 Xu thế giả định của nhiệt độ theo thời gian
* Chúng ta đã xét điều ny xảy ra ra sao ở chơng 13, trong chủ đề về những ngẫu nhiên
Trang 4Hình 16.2 Cột địa tầng
Trong cuộc sống thực, tình hình phức tạp hơn ví dụ ny, vì những biến đổi trong khí hậu xảy ra cùng lúc với nhiều quy mô thời gian khác nhau, không phải chỉ có hai Một số biến đổi diễn ra ở các quy mô thời gian hng trăm triệu năm, một số khác với quy mô hng trăm hoặc hng chục ngn năm, một số tơngứng với những thế kỷ, nhng một số khác thậm chí chỉ tơng ứng với vithập niên Không có một quan hệ chặt chẽ v đơn giản no giữa độ lớn của một biến đổi khí hậu v quy mô thời gian của nó; tuy nhiên, theo quy luật chung, các dao động diễn ra trong những khoảng thời gian dihơn thờng có độ lớn lớn hơn so với những dao động ở các quy mô thời gian ngắn hơn
Vấn đề nóng lên còn rắc rối do một thực tế l biến đổi khí hậu khác nhau theo không gian trên địa cầu Vì vậy, ví dụ, ở Bắc bán cầu có thể không có một xu thế nhiệt độ, hoặc l
có nhng xu hớng ngợc lại so với ở Nam bán cầu Một lần nữa, không có mối liên hệ nhất định, nhng các vĩ
độ nhiệt đới thờng thay đổi ít hơn so với các vĩ độ cao Những biến đổi
đáng kể theo kinh độ cũng có xảy ra, nên có nhiều mức chênh lệch hòa trộn ở trong một dải vĩ độ Điều ny
có thể xảy ra, ví dụ, nếu vị trí trung bình của các sóng Rossby di chuyển
từ đông sang tây Ngợc lại với những biến đổi trong thời gian, có một xu thế phổ biến l những biến
đổi ở các quy mô không gian bé lại mạnh hơn so với những biến đổi quan trắc đợc trên những khu vực rộng lớn Nh vậy, chúng ta thấy rằng câu trả lời cho các câu hỏi về biến đổi khí
Trang 5hậu tơng lai phải đợc quy chiếu tới cả quy mô không gian v quy mô thời gian Một cách tơng tự, khi xét các khí hậu quá khứ, những bức tranh rất khác biệt nhau hòa trộn vo với nhau tùy thuộc vo khu vực đợc xét v quy mô thời gian chấp nhận
Các nền khí hậu trong quá khứ
Các nh khoa học về Trái Đất đã phát triển một sơ đồ phổ dụng để phân chia lịch sử tự nhiên của hnh tinh thnh những trang thời gian khác nhau Cột địa tầng địa chất trên hình 16.2 dùng một hệ thống nhiều tầng phân chia thời gian
thnh các đại, kỷ v kỳ Những đoạn thời gian ny không dựa trên các đặc trngkhí hậu, m dựa trên bằng chứng địa chất v hóa thạch chỉ thị những điều kiện môi trờng v sự kiện quá khứ Vì vậy, các thời kỳ khí hậu đôi khi gắn liền với những đại, kỷ hoặc kỳ cụ thể - những đoạn thời gian m không nên đợc xem nh
có điều kiện khí hậu đồng nhất Hơn nữa, những sự kiện khí hậu lớn đôi khi cắt qua các ranh giới trong cột địa tầng, vì thế các phân vị không cho biết các thời gian bắt đầu v kết thúc Đối với mục đích của chúng ta, hệ thống thuật ngữ đợc sử dụng tốt nhất nh l một loại lịch, để phân định các điểm mốc trong thời gian, chứ không phải l để phân định các khí hậu hay các sự kiện cụ thể Với tinh thần đó, chúng ta có thể bn luận một số giai đoạn lớn của lịch sử khí hậu Trái Đất
Những thời kỳ ấm v những kỷ nguyên băng h
Giống nh những c dân Viking, chúng ta có xu hớng cho rằng thời kỳ của chúng ta l “chuẩn”, nhng hon ton không phải nh vậy Nếu nhìn lại khoảng thời gian di của lịch sử Trái Đất, chúng ta sẽ phải nói khí hậu hiện tại rất không bình thờng, bởi vì phần lớn thời gian hnh tinh của chúng ta đã từng ấm hơn nhiều hơn so với ngy nay Không giống nh bây giờ, khi m Bắc Băng Dơng hầu
nh đóng băng quanh năm v những khiên băng lớn bao phủ khắp trên lục địa Nam Cực v Greenland, trong phần lớn tuổi đời của mình, Trái Đất đã từng không
có thảm băng vĩnh cửu (quanh năm) Một phác họa chính xác hơn, đó l phác họa
về một hnh tinh ấm áp, bị xen kẽ có lẽ bởi bảy kỷ nguyên băng h tơng đối
ngắn ngủi Dù khác nhau, những thời kỳ ấm kéo di hng trăm triệu năm đến nhiều tỷ năm, trong khi các kỷ nguyên băng h chỉ kéo di cỡ vi chục triệu năm
đến có lẽ một trăm triệu năm Tất cả thời gian tồn tại của loi ngời, gồm thời kỳ lịch sử, đã diễn ra trong một kỷ nguyên băng h gần đây nhất trong số những kỷ nguyên băng h vĩ đại ny Vì vậy, nếu ai đó hỏi rằng kỷ nguyên băng h sắp xuất hiện phải không, thì câu trả lời sẽ l “không, nó đã đang ở đây”
Kỷ nguyên băng h sớm nhất đợc biết đã có niên đại khoảng 2,3 tỷ năm về
trớc, tiếp sau l ba kỷ nguyên ở khoảng giữa 900 v 600 triệu năm trứơc Một kỷ nguyên băng h khác có niên đại ở khoảng 440 đến 300 triệu năm trớc Kỷ nguyên băng h m chúng ta đang sống, kỷ nguyên muộn nhất, đã diễn ra 15 triệu năm gần đây hoặc khoảng đó
Không có bằng chứng no về các kỷ nguyên băng h trong thời gian 2 tỷ năm
Trang 6đầu tiên của 4,5 tỷ năm tuổi Trái Đất Theo một ớc lợng, trong 2,5 tỷ năm gần
đây, chỉ 10 đến 20% từng l các thời kỳ băng h Một quan điểm khác, ho phóng hơn thì cho 50% của thời gian ny l những thời kỳ kỷ băng h Nhng trong cả hai
trờng hợp, rõ rng l phần lớn lịch sử Trái Đất đã từng có những điều kiện ấm hơn
so với ngy nay Đặc biệt nổi trội nhất về phơng diện ny l đợt ấm của kỷ Creta giữa, kéo di từ khoảng 120 đến 90 triệu năm trớc Vo những thời gian ấy, các loi khủng long dạo chơi ở bên trên vòng tròn cực Bắc Những rạn san hô chỉ phồn thịnh trong các vùng nớc ấm đã phát triển tại những vĩ độ 15o cao hơn về phía cực
so với những vị trí ngy nay của chúng, một số quần xã thực vật lục địa cũng vậy Với rất ít nớc bị giữ trong băng lục địa, mực nớc có lẽ 150 đến 200 m cao hơn, dìm ngập khoảng 20% diện tích lục địa Về quy mô mùa, khí hậu có lẽ đã hợp lý hơn,
đặc biệt tại các vĩ độ trung bình v các vĩ độ cao hơn Nhiệt độ trung bình ton cầu chắc đâu đó khoảng 5-15oC ấm hơn so với hiện nay v građien nhiệt độ xích đạo-cực có lẽ l 15o nhỏ hơn hiện nay Mặc dù không giống hon ton, nhng những thời
đợc đề cập Cho dù tranh cãi đợc giải quyết ra sao, rõ rng l tất cả các kỷ nguyên băng h có băng quanh năm dồi do Ví dụ, ai cũng thừa nhận rằng trong thời gian kỷ nguyên băng h gần đây nhất, các khiên băng lấn tới 40o cách xích đạo, phủ trên mặt đất tới độ dy một số km Với nhiều nớc nh thế bị giữ trong băng lục địa, mực nớc biển sẽ thấp hơn nhiều trong các kỷ nguyên băng h Những khác biệt giữa các kỷ nguyên băng h v các kỷ nguyên ấm thay đổi mạnh theo vĩ độ, các
vĩ độ cao thể hiện những thay đổi lớn hơn so với các vùng nhiệt đới Ví dụ, trong thời gian một kỷ băng h, các nhiệt độ nớc mặt biển vùng cực có thể 10oC thấp hơn, nhng nhiệt độ nớc mặt biển vùng nhiệt đới chỉ 1-5oC thấp hơn Ngoi những quy tắc đó, khó có thể nói chắc chắn gì thêm về sáu kỷ băng h trớc Mặt khác, chúng ta có thông tin quan trọng về những điều kiện trong kỷ nguyên băng h gần
đây nhất
Kỷ nguyên băng h hiện tại
Một trong những thời kỳ hiện tại của Trái Đất, Pleistoxen, thờng đợc xem
nh Kỷ nguyên Băng h Tuy nhiên, nh chúng ta đã thấy, Trái Đất đã phải trải qua ít nhất một số kỷ băng h, v hiện chúng ta đang ở trong một kỷ băng h.Ngoi ra, thuật ngữ Kỷ nguyên Băng hu Pleistoxen đang còn l tranh cãi vì nguyên
nhân của đợt băng h cuối cùng đã xuất hiện xa hơn về dĩ vãng so với khởi đầu của
Trang 7Pleistoxen Thực tế, kỷ băng h gần đây nhất có nguồn gốc của nó từ 55 triệu năm
trớc, khi khí hậu ton cầu bắt đầu lạnh đi sau một pha ấm (hình 16.3a) Tích tụ băng lớn đầu tiên đã xảy ra ở Nam Cực khoảng 34 triệu năm trớc Nhng sự lạnh
đi đã diễn ra rất từ từ, nên thậm chí 20 triệu năm trớc, khí hậu đã vẫn đủ ấm, các khu vực rừng có thể thấy ở Nam Cực Đến khoảng 14 triệu năm trớc, phần phía tây của Nam Cực l băng vĩnh cửu, đến 10 triệu năm trớc đây, khiên băng Nam Cực đạt kích thớc nh hiện của nó Cuối cùng, khoảng 5 triệu năm trớc, một khiên băng lục địa bao phủ gần nh ton bộ Greenland; vì vậy, có thể nói rằng kỷ nguyên băng h cuối cùng đã đợc hình thnh ổn định
Hình 16.3 Các chỉ số khí hậu của những giai đoạn khác nhau trong 70 triệu năm gần
đây Đ~ờng (a) l tổ hợp l trơn của nhiệt độ đại d~ơng trung bình ton cầu v thể tích băng Các đ~ờng (b) v (c) thể hiện những biến đổi ton cầu về thể tích băng Đ~ờng (d) phản ánh những điều kiện khí hậu trên Bắc Đại Tây D~ơng, nh~ng đã đ~ợc lm hòa hợp với những biến đổi ton cầu nh~ có thể thấy khi so sánh với các đoạn sau cùng của (c)
Trang 8Trong phạm vi kỷ nguyên băng h của chúng ta, khí hậu đã từng không đồng nhất, có rất nhiều dao động rõ rệt (hình 16.3b) Bắt đầu từ khoảng 2,5 triệu năm
trớc, các dao động ny bắt đầu tăng lên về biên độ, v khoảng 800000 năm trớc(hình 16.3c) biên độ đã tăng lên một cách ngoạn mục, trở thnh khoảng 2 lần lớn hơn so với một triệu năm trớc đó Các dao động về nhiệt độ v thảm băng ny đợcgọi l chu trình băng v gian băng Nh có thể thấy trên đồ thị, chúng hon
ton không đều Đối với đa số chu trình, thể tích băng tăng lên chậm rồi sau đó kết thúc nhanh trong một sự kiện ấm lên Hơn nữa, cả đoạn tăng trởng lẫn đoạn suy kiệt băng đều không đồng nhất, nói đúng nhất l “biến đổi run rẩy”, với những dao
động ngắn hạn chồng lên trên các chu trình di hơn Ba phần t của một triệu năm cuối cùng đã thịnh hnh những chu trình kéo di khoảng 100000 năm với dao động run rẩy ngắn hạn thể hiện ở quy mô yếu hơn Trong ton bộ kỷ Đệ tứ, kỷ địa chất hiện tại, đã có tất cả khoảng 30 chu trình, những biến thiên nhiệt độ ton cầu liên quan bằng khoảng 5oC
Những biến thiên thể tích băng lớn nhất xảy ra tại Bắc bán cầu với kích thớccác khiên băng tăng v giảm 3 lần hoặc đại loại nh vậy trong mỗi chu trình băng Mặc dù khiên Nam Cực thay đổi ít hơn nhiều, song những biến thiên nhiệt độ không khí Nam Cực có thể tơng đơng với ở các vĩ độ cực của Bắc bán cầu (khoảng
10oC lạnh hơn trong một chu trình băng) Bằng chứng từ các đờng tuyết sơn văn cho biết rằng, những địa phơng Nam bán cầu khác thay đổi nhiệt độ cũng nhiều
nh ở những nơi tơng tự ở phía bắc giữa các chu trình băng v gian băng, v có bằng chứng khác để cho rằng trình tự thời gian của những sự kiện ấm lên v lạnh
đi thờng l tơng ứng trong 150000 năm gần đây Khi hai bán cầu lệch pha, thì Nam bán cầu dẫn trớc Bắc bán cầu chỉ khoảng hơn 1000 năm Nhng nếu thậm chí chấp nhận những chênh lệch nh vậy về trình tự, chúng ta phải kết luận rằng tất cả Nam bán cầu đã tham gia vo các chu trình băng/gian băng giống nh phần còn lại của hnh tinh
Nh thấy rõ từ hình 16.3, bây giờ hnh tinh đang ở trong một thời kỳ gian băng ấm, sánh ngang chỉ với một vi chu trình trong 2 triệu năm gần đây Rất thú
vị l, một trong số chu trình ny l gian băng cuối cùng, đạt đỉnh ở khoảng 125000 năm trớc v có thể đạt kỷ lục về độ ấm của kỷ Pleistoxen Mực nớc biển ton cầu khoảng 6 m cao hơn bây giờ, v có bằng chứng rằng các vùng lục địa vĩ độ trung bình 1 đến 3OC ấm hơn Ngợc lại, các nhiệt độ nớc mặt biển không khác quá nhiều so với hiện nay Giữa hai thời kỳ ấm ny có thời kỳ băng h gần nhất, một sự kiện đạt cực đại của mình khoảng 20000 năm trớc
Kỳ cực đại băng h cuối cùng
Tiếp sau thời kỳ gian băng cuối cùng, thể tích băng đã tăng lên, nhng không
đồng đều Có hai xung băng h lớn, một vo khoảng 115000 năm trớc v một vokhoảng 75000 năm trớc Thấy rằng, phần lớn băng đã đợc thêm vo các mũ băng cực trong thời gian xung thứ nhất v vo các mũ băng ở Bắc Mỹ v lục địa Âu átrong thời gian xung thứ hai Tại thời gian xuống thấp nhất của kỳ băng h cuối cùng, khoảng 20000 năm trớc, nhiều tiêu chí của hệ thống Trái Đất - khí quyển khác biệt với nhau Dĩ nhiên, kịch tính nhất l băng lục địa đã phủ một diện tích lớn hơn rất nhiều, nh đã thấy trên hình 16.4
Trang 9Hình 16.4 Bản đồ biểu diễn diện tích cực đại của băng vo thời gian băng h cuối cùng
Tại Bắc Mỹ, chắc chắn l băng lấn sâu xuống phía nam đến Saint Louis ngynay, nhng chỉ tới vĩ độ của New York v Seattle trên các bờ phía tây v phía đông Thật nghịch lý, ngời ta rất nghi ngờ về ranh giới phía cực của khiên băng phía bắc, một số ngời cho rằng phần rìa của Bắc băng dơng không đóng băng Tuy nhiên, những lợng nớc khổng lồ bị chuyển từ đại dơng lên đất liền, tạo nên những khiên dy 3000 đến 4000 m Trong thời gian đủ di, điều đó có thể đủ để lmlún vỏ lục địa xuống hơn 800 m Khi băng tan, bề mặt đất liền giãn nở trở lại tới mực ban đầu của nó (Thậm chí ngy nay các lục địa vẫn đang phải phục hồi tiếp do quá trình lún băng h) Khiên băng Laurentide trên Bắc Mỹ ở chừng mực no đó tơng đơng với một dãy núi lớn, chạy từ núi Rocky đến Đại Tây Dơng Mực biển
đã khoảng 120 m thấp hơn hiện nay, do đó cầu nối đất liền đã tồn tại giữa Siberia v Alaska (Tại mực cân bằng, dịch chuyển nớc từ đại dơng có thể lm cho đáy
đại dơng nâng cao lên khoảng 35 m) Cũng đã có những thay đổi đáng kể về băng
Trang 10biển, đặc biệt ở Nam Băng Dơng, nơi vo mùa đông băng biển bao phủ diện tích gấp hai lần so với ngy nay Tất nhiên, những thay đổi của băng biển ít ảnh hởngtới mực nớc biển, vì nớc không di chuyển giữa đất liền v các bồn chứa đại dơng.Trên đất liền, các biến đổi nhiệt độ khác nhau đáng kể do sự kề cận với những khiên băng v với đại dơng Ví dụ, tại phần phía tây của Bắc Mỹ, các khối khí đại dơng duy trì nhiệt độ khoảng 4 đến 5oC của ngy nay Khu vực m ngy nay lTennessee v Nam California thì tơng phản hơn, nơi đây nhiệt độ đã từng 15 đến
20oC lạnh hơn so với nhiệt độ hiện nay Hai ví dụ ny có thể thể hiện cho những thái cực về những biến đổi của vùng vĩ độ trung bình – một loạt những nơi khác ở vùng vĩ độ trung bình nằm trong khoảng 5 đến 8oC lạnh hơn Những thay đổi nhiệt
độ tại các vùng nhiệt đới nhỏ hơn, có lẽ l 4 đến 5oC Đờng tuyết sơn văn khoảng
1000 m thấp hơn, tơng đơng với giảm nhiệt độ 5 đến 6oC đối với những độ cao trên 2000 m
Phần lớn các nơi không chỉ lạnh hơn, m chúng còn có vẻ khô hơn Điều ny
đặc biệt đúng đối với các vĩ độ cao, nơi tổng lợng ma thờng thấp hơn khoảng 50% so với mức hiện nay Một số vùng sa mạc của Nam Mỹ v châu Phi rộng lớn hơn, v các mực nớc hồ ở châu Phi nhiệt đới v Trung Mỹ thấp hơn Một hoang mạc lạnh bao phủ phần lớn bộ phận cha bị phủ băng của Tây Âu Mặc dù khô hạn
đã l phổ biến, song một số khu vực ẩm hơn có thể thấy trên tất cả các lục địa (phản ánh qua những biến thiên mực nớc hồ v các chỉ số khác) Những biến đổi
về giáng thủy chắc chắn chủ yếu l do những biến đổi về hon lu quyết định Những nơi no gió thịnh hnh chuyển đổi hớng thổi từ các vĩ độ cao (nh đối với phần phía đông của Bắc Mỹ), thì các điều kiện khô hơn Có một ít bằng chứng nói rằng các tốc độ gió khi ấy mạnh hơn, đúng nh dự đoán với građien nhiệt độ xích
đạo-cực lớn hơn
Phải nhấn mạnh rằng kỳ băng h ny không hẳn đã đồng nhất Thực tế, những biến đổi khí hậu đột ngột rất phổ biến trong suốt chu trình ny, với nhiệt độ cực thay đổi 5 đến 8oC trong khoảng từ một số thập niên đến cỡ thế kỷ (hình 16.3d) Vì những thay đổi nh thế không chỉ xảy ra trong kỳ băng h, nên ở một mục sau chúng sẽ đợc bn luận chi tiết hơn
ở Greenland tăng lên vo khoảng 1oC/thập kỷ, mang theo khí hậu gian băng mchúng ta đang có hiện nay Thời kỳ ny lại bị chấm dứt bởi một đợt lạnh đi đột ngột
Trang 11v ngắn ngủi nữa ở khoảng 8200 năm trứơc Ngoi những thời gian đó ra, thời kỳ Holoxen sớm ấm v thậm chí ấm hơn hiện tại 1oC xét theo nhiệt độ trung bình toncầu Mặc dù vùng bình nguyên Great Plains của Bắc Mỹ khô hơn, phần lớn vùng gió mùa châu Phi v châu á ẩm ớt hơn (Thí dụ, hóa thạch của nhiều loi động vật
ăn cỏ tìm thấy ở các vùng hoang mạc hiện đại) Tính toán cho biết rằng các honlu gió mùa mùa hè đã từng mạnh hơn, cung cấp ẩm cho những khu vực đất liền
m các loại gió mùa ngy nay không đạt tới đợc Mực nớc biển cao hơn so với ngy nay một vi mét, tơng ứng với một hnh tinh ấm hơn
Tiếp sau thời kỳ ấm Holoxen sớm, các nhiệt độ ton cầu đã giảm đi phần no,
nhng giảm nhiệt độ đã bị điều biến bởi một loạt những sự kiện có thời gian kéo div mức độ thể hiện khác nhau, tùy thuộc vo thời gian v vị trí Ví dụ, có một bằng chứng rằng thời kỳ 900–1200 năm trớc công nguyên có một đợt ấm ở trên Bắc Đại Tây Dơng Đợc gọi l Thời kỳ ấm Trung cổ, nó trùng khớp với thời gian ngời
Viking định c ở Greenland Những núi băng ở châu Âu xuất hiện trớc v sau đó, nhng không trong thời gian ny, v đó l bằng chứng về sự rút lui của băng h ở
đâu đó (bao gồm cả vùng dãy núi Rocky của Canađa) Nhng cũng có nhiều thông tin vật thể v lịch sử chỉ ra rằng đó không phải l một sự kiện ton cầu đáng kể Một sự kiện khác đáng ghi nhớ v ít nghi ngờ hơn, đợc gọi l Thời kỳ Băng
nhỏ Kéo di từ 1450 đến 1850, đó l một thời kỳ lạnh đối với Tây Âu Trong những năm đó, băng h trên núi gia tăng vì nhiệt độ giảm 0,5 đến 1oC Những di tích lịch
sử chỉ ra rằng đợt giảm nhiệt độ trung bình có vẻ nhẹ ny đã có một ảnh hởng
đáng kể tới những điều kiện sống trên ton châu Âu Các mùa sinh trởng bị rút ngắn đã dẫn đến những suy giảm về sản lợng nông nghiệp, đặc biệt ở Bắc Âu Tơng phản với Thời kỳ ấm Trung cổ, Thời kỳ Băng nhỏ đợc thể hiện bằng các di tích núi trên ton thế giới Mặc dù nó không thể no l một “kỳ băng h” thực thụ, song nó thể hiện sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trong các thời kỳ lịch sử v đợc xem
l một sự kiện ton cầu
Tất nhiên, có những đợt biến đổi khí hậu khác ở quy mô nhỏ hơn, liên quan tới cả giáng thủy lẫn nhiệt độ Ví dụ, hãy xét hình 16.5, hình ny diễn tả điều kiện ẩm của vùng bờ Virginia v Bắc Carolina từ năm 1200 trớc Công nguyên đến nay Nổi lên một loạt những đợt dao động so với điều kiện trung bình, một số đợt kéo di
hng thập kỷ Đặc biệt lý thú phải lu ý rằng ba năm khô hạn nhất của ton bộ thời kỳ 800 năm trùng khớp với sự kiện biến mất quần xã Roanoke vo đâu đó sau tháng 8 năm 1587 Tơng tự, đợt khô hạn 1606–1612 đã mang lại một thời kỳ 7 năm khô nhất kỷ lục, trùng khớp về thời gian diễn ra với sự hình thnh của quần xã Jamestown vo năm 1607 Độc giả Mỹ sẽ nhớ lại rằng quần xã Jamestown đã bị tổn thất sinh mạng to lớn (60% chết trong năm đầu) v gần nh bị tiêu biến, chủ yếu vì lý do thiếu dinh dỡng Những giải thích chính thống về các thảm họa ny
đề cập tới kế hoạch hóa yếu, quản lý kém, các quan hệ xấu với những cộng đồng bản địa v các nhân tố xã hội tơng tự Trong điều kiện khô hạn cực đoan, chúng ta cần nghĩ rằng các nhân tố môi trờng ít ra cũng quan trọng nh vậy
Trang 12Hình 16.5 Chuỗi thời gian d i biểu diễn điều kiện ẩm tháng 7
của vùng Tidewater, Virgina v Bắc Carolina
Thế kỷ cuối cùng
Trong thời gian giữa thế kỷ cuối cùng, một mạng lới phát triển các trạm khí tợng đã đợc xây dựng trên ton thế giới Mặc dù còn có nhiều vấn đề về tập dữ liệu, nh thay đổi vị trí các thiết bị khí tợng, song vốn dữ liệu cung cấp những ớclợng ban đầu về những tình huống nhiệt độ v lợng ma Nh đợc mô tả trong chuyên mục “16-1: Tiêu điểm Môi tr oờng: Các đợt nóng lịch sử trong những năm 1980-2000”, đã từng có hai thời kỳ nóng lên chung trong thế kỷ xen giữa hai giai
đoạn kéo di hai thập niên không có xu thế rõ rng
Có một câu hỏi rất quan trọng về các nhiệt độ đang tăng lên của vi thập kỷ cuối Nh chúng ta đã thấy, những biến đổi về khí hậu ton cầu diễn ra trên rất nhiều quy mô thời gian, mỗi biến đổi có biên độ dao động riêng của nó Từ đó chúng
ta phải hỏi: phải chăng sự tăng nhiệt độ hiện nay chỉ l một phần của sự biến thiên
tự nhiên của khí hậu, hoặc liệu nó có phải l dấu hiệu bắt đầu của quá trình nóng lên nhân tạo do phát thải “các chất khí nh kính” vo khí quyển hay không Hiện tại, cha thể kết luận thế ny hay thế kia một cách chắc chắn Song phần lớn các nh khoa học khí tợng cho rằng sự nóng lên ny có thể chủ yếu l do hệ quả tăng các khí nh kính, còn những ngời khác thì đã bị thuyết phục hon ton
Các dao động quy mô thiên niên kỷ
Trang 13Các mục trớc chủ yếu đa ra một cái nhìn lần lợt, theo dõi khí hậu theo thời gian Một cách nhìn nhận khí hậu khác, đó l tập trung vo những quy mô biến thiên thời gian riêng biệt, không tính đến trạng thái của hệ thống (ấm ngợc với lạnh, v.v ) Khi vấn đề ny đợc giải quyết, những dao động ổn định sẽ xuất hiện tại mọi khoảng thời gian xem xét, ngợc thời gian về trớc 500000 năm Các dao
động đợc gọi l quy mô thiên nên kỷ, bởi vì chúng xuất hiện tại các khoảng thời gian khoảng 6000, 2600, 1800 v 1450 năm Trong thời gian kỳ băng h gần đây nhất, các dao động hon ton tơng tự với nhau; mỗi dao động bắt đầu bằng một thời kỳ tăng nhanh nhiệt độ, cần một vi thập niên đến một số thế kỷ để phát triển Các nhiệt độ không khí trên Greenland tăng lên 5–8oC, còn các nhiệt độ nớc mặt biển Bắc Đại Tây Dơng tăng lên 3oC Các nhiệt độ duy trì cao trong 1000 đến 2000 năm, sau đó chúng hạ xuống nhanh tới những giá trị thấp ban đầu Nh vậy, những dao động ny giống hơn với các sóng hình vuông, với khí hậu chuyển đổi giữa hai trạng thái, hơn l những chu trình tròn
Những dao động độ di tơng tự đã xảy ra trong các thời kỳ băng h khác cũng nh trong các thời kỳ gian băng v chuyển tiếp giữa băng h v gian băng Rất lạ, chúng lớn nhất trong những thời kỳ chuyển tiếp từ gian băng sang băng h, nhiệt
độ mặt nớc biển biến thiên với biên độ 4 đến 5oC Trong những thời kỳ gian băng, các dao động cũng ổn định nh vậy, nhng nhỏ hơn rất nhiều, nhiệt độ mặt nớcbiển của Bắc Đại Tây Dơng ấm lên v lạnh đi khoảng 0,5oC đến 1oC Chúng xuất hiện trong suốt thời kỳ Holoxen v biểu hiện gần đây nhất dới dạng đợt lạnh đi của Thời kỳ Băng nhỏ
Dao động quy mô thiên niên kỷ rất quan trọng, vì chúng lm cho hệ thống Trái
Đất - khí quyển có một xu hớng nhảy ngợc lại hoặc tiến lên giữa các trạng thái
ấm v lạnh, không phụ thuộc vo khí hậu hạn di đang diễn ra thế no Vì vậy, cứ
nh thể hệ thống tự nó bất ngờ sắp xếp lại v chuyển nhanh sang một kiểu khác, chứ không phải l biến đổi tịnh tiến đều đặn có thể diễn ra sau những thay đổi của một điều kiện biên no đó Không ai biết đợc tại sao lại nh thế, mặc dù quan
điểm đợc thừa nhận rộng cho rằng đó l do các quá trình nội tại của hệ thống, rất
có thể liên quan tới những quá trình phản hồi qua lại giữa khí quyển v đại dơng.Một cách nhìn khác quy kết cho một cái gì đó từ bên ngoi, nó bật v tắt hệ thống với những khoảng thời gian nhiều hoặc ít, với các hiệu ứng đợc “khuếch đại” trong các thời kỳ chuyển tiếp v băng h Bất chấp nguyên nhân l gì đi nữa, thì kích
thớc v tốc độ của sự biến thiên l một vấn đề cần quan tâm Nếu nh hnh tinh thực sự có hnh vi lỡng cực, thì sự chuyển đổi từ trạng thái ấm hiện tại sang trạng thái khác sẽ có những ảnh hởng tới nhiều hệ thống xã hội
Trớc khi kết thúc mục ny, chúng ta cần nhấn mạnh một lần nữa rằng những biến đổi khí hậu không giới hạn ở các giá trị trung bình; còn có thể có những thay
đổi về tần suất của những sự kiện hiếm Ví dụ, các mô hình máy tính mách bảo rằng nhiều vùng có thể trải qua một giai đoạn tăng tần suất xuất hiện ma lớn vkhô hạn nặng kết hợp với tăng nhiệt độ Một nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng một sự tăng nh thế đã xảy ra trên Bắc Mỹ trong thế kỷ trớc Tỷ phần giáng thủy
Trang 14năm do những sự kiện ma lớn đã tăng lên một cách đáng kể trên hầu khắp nớc
Mỹ cùng với tăng nhiệt độ Những sự kiện cực đoan hiện nay chiếm khoảng 12% lợng giáng thủy năm, trong khi vo năm 1910 chúng chiếm khoảng 9%
Những nhân tố tham gia vo biến đổi khí hậu
Nh chúng ta đã thấy, khí hậu Trái Đất đã trải qua những biến động đáng kể với cờng độ v quy mô thời gian khác nhau trong quá trình tồn tại của nó Dĩ nhiên, câu hỏi lớn đặt ra l tại sao? Một số nguyên nhân khả dĩ dễ dng nêu ra ở
đây Đó l những biến thiên về cờng độ bức xạ của Mặt Trời, những thay đổi trong quỹ đạo của Trái Đất, những thay đổi của bề mặt đất v những khác biệt thnhphần các chất khí v son khí của khí quyển Mỗi nguyên nhân tác động với quy mô thời gian khác nhau, nh chúng ta sẽ thấy sau đây
Trong khi xem xét danh sách các nhân tố ảnh hởng tới biến đổi khí hậu, điều quan trọng l phải hiểu rằng, nhiều nhân tố trong số đó không thể vận hnh một cách độc lập Có nghĩa l, thứ nhất, chúng hoạt động đồng thời Vì vậy, trong khi một tác nhân có thể l đang dẫn tới nóng lên, tác nhân khác có thể tác động ngợclại hoặc góp phần lm gia tăng sự nóng lên đó Thứ hai, các tác nhân lm thay đổi
có thể tơng tác với nhau, nên các hiệu ứng không phải đơn thuần cộng dồn Ví dụ, tác động của son khí trong đối lu quyển do con ngời sinh ra có thể khác nhau tùy thuộc vo chỗ chúng có cộng thêm với một luồng son khí núi lửa ở bình lu quyển hay không Các vấn đề những tác nhân đồng thời v tơng tác sẽ trở nên đặc biệt rõ trong khi bn luận về những thay đổi các đặc trng quỹ đạo Trái Đất
16-1 Tiêu điểm môi tr ờng: Các đợt
nóng lịch sử trong những năm 1980-2000
Chắc chắn rằng nhiệt độ ton cầu đã
tăng lên trong thế kỷ 20 nh hình 1 biểu
diễn Các giá trị trên trục tung chỉ hiệu
giữa nhiệt độ một năm cụ thể v “trung
bình khí hậu” của giai đoạn 1880-2001
Mỗi năm từ năm 1880 đến giữa những
năm 1920 có các nhiệt độ dới-chuẩn,
nhng nhiệt độ bắt đầu tăng lên từ
khoảng năm 1990 Tiếp theo, trong các
năm cuối thập niên 1930, đa số các năm
có nhiệt độ trên-chuẩn, với sự nóng lên rõ
rệt xuất hiện từ cuối những năm 1970
Trong ton thế kỷ 20, các nhiệt độ
bề mặt ton cầu đã tăng với tốc độ 0,6o
C/thế kỷ, nhng trong quý t của thế
kỷ tốc độ tăng lớn hơn nhiều, khoảng 2,0o
Trang 15Hình 1 Các nhiệt độ không khí trung bình to n cầu từ 1890 đến 2002 của to n bộ bề mặt Trái Đất (a), trên đại dơng (b) v trên lục địa (c)
lợng bức xạ Mặt Trời đạt tới bề mặt Bắc
bán cầu trong các năm 1992 v 1993, tạo
thnh hai năm lạnh nhất của thập kỷ
(mặc dù vẫn ấm hơn so với trung bình di
nóng nhất đối với Bắc Mỹ trong 6 thế kỷ
gần đây! Rất thú vị, mặc dù nhiệt độ đất
liền v đại dơng đều tăng mạnh vo
ảnh hởng của các nhiệt độ biểu kiến cực
đoan đã tăng lên một cách kịch tính hơn
so với phạm vi ảnh hởng của các nhiệt
độ cực đoan đứng tách riêng Để lm cho vấn đề tồi tệ hơn, lợng tăng nhiệt độ biểu kiến ban đêm lớn hơn lợng tăng nhiệt độ biểu kiến ban ngy, có nghĩa lcác nhiệt độ biểu kiến cao, thay vì giảm xuống vo lúc hong hôn, lại duy trì vo
Trang 16ban đêm Điều ny quan trọng, vì các
chuyên gia cho rằng nguy cơ lớn nhất đối
với sức khỏe không phải từ những nhiệt
độ ban ngy rất cao, m từ sự kéo di của
các nhiệt độ biểu kiến cao trong một số
ngy không có những đêm lạnh xen giữa
Kết quả nghiên cứu thậm chí còn đáng
chú ý hơn khi ngời ta tính tới chuyện
rằng dữ liệu từ những năm nóng kỷ lục
1997 đến 1999 đã không đợc gộp vo
Câu hỏi lớn liên quan đến nóng lên,
đó l, nóng lên do hậu quả các hoạt động
con ngời hay đó l sự biến thiên tự
nhiên Trong khi cha biết chắc câu trả
lời, mỗi năm nóng mới lại củng cố thêm
cho các dự báo của các mô hình hon lu
chung của một khí quyển ấm thích ứng
với nồng độ các chất khí nh kính gia
tăng Năm 2001, Cơ quan Liên chính phủ
về Biến đổi Khí hậu (IPCC) công bố báo
cáo đánh giá thứ ba của mình, đã tổng quan những hiểu biết hiện nay về nóng lên ton cầu Nhóm nh khoa học uy tín ny dới sự đỡ đầu của Tổ chức Khí tợng Thế giới v Chơng trình Môi trờng của Liên hợp quốc đã khẳng định rằng “nóng lên trong 100 năm qua rất có thể l không chỉ do sự biến thiên nội tại ” Họ còn cho biết thêm rằng, “phần lớn sự nóng lên đã thấy trong 50 năm qua
có lẽ l do tăng nồng độ các chất khí nhkính” Tháng 6 năm 2002, Cơ quan Bảo
vệ Môi trờng của Mỹ đã kết luận thêm rằng nóng lên trong các thập kỷ cuối “chủ yếu l do các hoạt động của con ngời ” Báo cáo đã bổ sung thêm rằng thậm chí nếu nh phát thải nh kính sẽ giảm đi trong những năm tới, thì ảnh hởng của
sự tăng trong khí quyển ở mấy thập kỷ vừa qua vẫn không sớm đảo ngợc đợc
Biến thiên của năng l~ợng Mặt Trời
Nh chúng ta đã rút ra trớc đây, khí hậu Trái Đất rất nhạy cảm với đầu ra của Mặt Trời Nếu xem lợng năng lợng do Mặt Trời phát ra không thực sự lkhông đổi, cơ chế ny của biến đổi khí hậu có tính lý thuyết quan trọng Ví dụ, các biến thiên no đó về năng lợng Mặt Trời, cỡ 0,1 đến 0,2 % có lẽ l do sự xuất hiện các vết đen Mặt Trời Nh đã đề cập ở chơng 2, các vết đen Mặt Trời l những vùng tơng đối lạnh của quyển sáng, có kích thớc cỡ đờng kính Trái Đất Số vết
đen Mặt Trời tăng hoặc giảm theo một vi quy mô thời gian, bao gồm chu trình rõ nhất 10,7 năm (Thông thờng, chúng ta gọi đó l chu trình 11 năm)
Các quan trắc vệ tinh cho thấy rằng nếu quan sát trong một số tuần, bức xạ Mặt Trời giảm khi số vết đen Mặt Trời tăng Điều ny phù hợp với các vết đen Mặt Trời lạnh – khi phần nhiều Mặt Trời đợc bao phủ bởi những vùng lạnh, bức xạ Mặt Trời phát ra ít Nhng ở các quy mô thời gian di hơn, nh cỡ một chu trình 11 năm đầy đủ, thì số vết đen tăng lại tơng quan với bức xạ lớn hơn Rõ rng, tại các quy mô thời gian di ny, phải có những thay đổi ở Mặt Trời đẻ bù lại diện tích tăng lên của các vết đen (Giải thích thỏa đáng nhất l tăng các vùng sáng xung quanh) Sự kết nối giữa hoạt động vết đen v năng lợng Mặt Trời đã dẫn tới một kết luận quan trọng rằng hiện tợng ny có thể l nguyên nhân của một số biến đổi khí hậu đã diễn ra trên Trái Đất Ví dụ, những đợt khô hạn tại bình nguyên Great Plains của nớc Mỹ thể hiện một xu thế lặp lại sau một khoảng thời gian gần tơngứng với một chu trình kép vết đen Mặt Trời, còn nghiên cứu trớc đây đã chỉ ra những chu trình tuần hon tơng tự về lu lợng sông Nile Ngoi ra, các nhiệt độ không khí trên phần đông của Bắc Mỹ tăng v giảm khoảng 0,2 oC một cách đồng
Trang 17bộ rõ nét với chu trình 11 năm Một số bằng chứng ủng hộ cho sự liên quan giữa khí hậu v hoạt động Mặt Trời còn thể hiện qua một thực tế l giai đoạn cực tiểu hoạt
động vết đen Mặt Trời giữa các năm từ 1645 đến 1715 (Maunder Minimum), trùng
khớp với một trong những thời kỳ lạnh nhất của Thời kỳ Băng nhỏ (xem chuyên mục 2-3: Những nguyên lý vật lý: Mặt Trời) Tuy nhiên, đã từng có những giai đoạn
trong đó các biến thiên về hoạt động vết đen không trùng khớp với các đợt biến đổi khí hậu, v các giải thích khác đã đa ra những biến đổi khí hậu 22 năm biểu kiến Một bằng đáng ngờ đối với mối liên hệ Mặt Trời - khí hậu đã trở nên mạnh hơn
vo cuối những năm 1980, khi một vi nh khoa học nhận thấy rằng mối quan hệ giữa các điều kiện của đối lu quyển v hoạt động vết đen Mặt Trời mạnh hơn khi tính tới hớng gió trong đối lu quyển trên các vùng nhiệt đới Các trờng gió ny
có xu thế đổi hớng ngợc lại với các chu trình xấp xỉ hai năm theo một kiểu m
ngời ta gọi l dao động tựa hai năm (quasi-biennial oscilation – QBO) Chẳng
hạn, khi QBO ở trong kiểu từ tây sang đông, thì sẽ có một quan hệ giữa số vết đen Mặt Trời v điều kiện mùa đông trên phần phía bắc của Canađa áp suất bề mặt tăng lên v giảm đi theo số vết đen Mặt Trời v đờng đi trung bình của dông dịch chuyển lên phía bắc hoặc xuống phía nam Tuy nhiên, khi QBO ở trong pha đông sang tây của nó, thì không thấy rõ mối quan hệ nh vậy Mặc dù những mối liên hệ nh vậy rất hấp dẫn v rất mạnh về thống kê, song cha có một cơ chế nhân quả
no giải thích đợc chúng
Trên một quy mô thời gian hon ton khác, ngời ta biết rằng suất bức xạ từ Mặt Trời đã tăng lên khoảng 1/3 kể từ khi hình thnh hệ thống Mặt Trời Điều nygây nên một nghịch lý thú vị, bởi vì, nh ta đã thấy trớc đây trong chơng ny, Trái Đất đợc biết l đã từng nóng hơn so với ngy nay trong suốt phần lớn lịch sử của nó Mối liên quan khác thờng ny giữa một Mặt Trời ít phát xạ v một Trái
Đất nóng hơn đợc gọi l “nghịch lý Mặt Trời yếu ớt giai đoạn sớm” Có hai cách giải thích rất khác nhau về nghịch lý ny đang rất thịnh hnh Một nhắc tới hiệu ứng nh kính của khối khí CO2, khí quyển trớc đây có áp suất riêng phần CO2 tới
10 lần lớn hơn áp suất bề mặt tổng cộng ngy nay Các phân tử hữu cơ rất khó có thể sinh ra trong một khí quyển nh vậy; nh vậy, ý tởng ny lm cho sự xuất hiện sự sống khó m hiểu đợc Hơn nữa, có bằng chứng địa chất nói rằng các mức
CO2 nh thế không bao giờ đạt đợc Do đó, một quan điểm khác cũng không kém phần phổ biến, ngời ta nhắc tới các mức amôniac cao đã tạo nên một nh kính
trớc đây Vì ngờ rằng amôniac bị bức xạ cực tím phá hủy, quan điểm ny đã bị coi l một giải thích đáng nghi Tuy nhiên, vo năm 1997, ngời ta đã chứng minh rằng khiên che chắn trên cao bởi các chất khí khác có thể đã cho phép amôniac tích lũy tại các mực thấp Bất chấp giả thuyết no (hay cả hai) l đúng, điều thú vị lmối liên hệ Mặt Trời - khí hậu vận hnh từ thái cực ngờ vực liệu (các vết đen) có một hiệu ứng no đó hay không đến phân vân vì sao hiệu ứng trớc đây lại yếu nhvậy (Mặt Trời yếu giai đoạn sớm)
Những thay đổi của quỹ đạo Trái Đất
Trong chơng 2 chúng ta đã thấy rằng các mùa xuất hiện chủ yếu do độ nghiêng trục xoay của Trái Đất so với Mặt Trời Nếu ta tởng tợng một mặt phẳng
Trang 18trên đó Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời, ta có thể thấy rằng trục xoay định
hớng lệch 23,5o so với đờng vuông góc tới mặt phẳng (tức l, nó có một độ nghiêng 23,5o) Hớng của trục xoay không đổi trong suốt năm, cho nên dù Trái Đất nằm ở
đâu so với Mặt Trời, thì trục của nó vẫn hớng tới sao Bắc Đẩu Trong 6 tháng tiếp sau điểm Xuân phân, Bắc bán cầu nghiêng về phía Mặt Trời, trong thời gian còn lại của năm, Nam bán cầu có khoảng lộ lớn hơn tới Mặt Trời Đây l nhân tố chính gây nên các mùa Rõ rng, nếu nh trục xoay nghiêng hơn 23,5o, hiệu ứng ny sẽ mạnh hơn v dẫn đến một tính mùa lớn hơn Tơng tự, hiệu ứng sẽ biến mất nếu nh trục hon ton vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo
Chúng ta còn thấy rằng, quỹ đạo Trái Đất l đờng ellip, không phi l đờngtròn, nên vo khoảng ngy 4/1 Trái Đất khoảng 3% gần với Mặt Trời hơn so với vongy 4/7 (hình 2.10) Sự thay đổi ny về khoảng cách Trái Đất - Mặt Trời lm cho
ton bộ hnh tinh nhận đợc bức xạ Mặt Trời tại đỉnh khí quyển vo đầu tháng 1 (cận điểm) khoảng 7% nhiều hơn so với vo đầu tháng 7 (viễn điểm) Dễ thấy rằng,
độ lệch tâm lớn hơn sẽ gây nên những khác biệt lớn hơn về bức xạ tới tại đỉnh của khí quyển trong một năm
Chừng no chúng ta quan tâm tới Bắc bán cầu, khoảng cách Trái Đất - Mặt Trời l lớn nhất trong thời gian mùa hè v nhỏ nhất trong thời gian mùa đông, lmcho các mùa đông ấm hơn v các mùa hè mát hơn so với ở Nam bán cầu Nh vậy, không chỉ độ lệch tâm quan trọng đối với tính mùa, m các thời gian xảy ra khoảng cách Trái Đất - Mặt Trời cực tiểu v cực đại so với kỳ xuân phân v kỳ thu phân cũng quan trọng (nh sẽ đợc giải thích ngay sau đây)
Tóm lại, có ba nhân tố thiên văn ảnh hởng tới thời gian v cờng độ của các mùa: độ lệch tâm của quỹ đạo, độ nghiêng của trục Trái Đất so với đờng vuông góc của mặt phẳng quỹ đạo v thời gian diễn ra của viễn điểm v cận điểm so với các kỳ nhật phân Nh ta thấy trong thực tế, tất cả ba nhân tố ny thay đổi chậm theo thời gian với nhiều quy mô thời gian khác nhau
Độ lệch tâm Độ lệch tâm của quỹ đạo Trái Đất biến thiên một cách tuần
hon theo một số quy mô thời gian, với một chu trình khoảng 100000 năm đặc biệt
rõ rệt Mặc dù khoảng cách Trái Đất - Mặt Trời tại viễn điểm hiện nay vo khoảng 3% lớn xa hơn so với khoảng cách tại cận điểm, khoảng cách tơng đối biến thiên khoảng 1 đến 11% trong khoảng 600000 năm gần đây Trong khoảng 15000 năm gần đây đã có một sự giảm độ lệch tâm một cách ổn định v sẽ tiếp diễn khoảng
35000 năm nữa
Độ nghiêng trục Góc xiên của trục Trái Đất, độ nghiêng trục, cũng biến
thiên tuần hon, nhng với một chu kỳ áp đảo bằng khoảng 41000 năm, trong thời gian đó nó thay đổi giữa 22,1o v 24,5o so với đờng vuông góc Mặc dù biên độ của
độ nghiêng có thể tỏ ra nhỏ, song nó có thể tạo ra những khác biệt đáng kể về lợngbức xạ trong mùa hè v mùa đông Cụ thể, các vùng vĩ độ cao có thể trải nghiệm những biến thiên về bức xạ tới tại đỉnh khí quyển khoảng 15 % do biến thiên về độ nghiêng Đỉnh điểm gần đây nhất của độ lệch xảy ra khoảng 10000 năm trớc Nhvậy, chúng ta đang ở trong khoảng giữa của nửa chu trình từ độ nghiêng cực đại
Trang 19sang độ nghiêng cực tiểu
Tuế sai Mặc dù kỳ hạ chí đối với Bắc bán cầu hiện nay đang xảy ra vo thời gian gần với viễn điểm, nó thay đổi theo thời gian do trục lắc l theo một chu kỳ khoảng 27000 năm Nói khác đi, trục xoay hồi chuyển sao cho trong khoảng 13500 năm nó sẽ hớng đến một ngôi sao khác, sao Chức Nũ (Vega), thay vì sao Bắc Đẩu (hình 16.6) Sự thay đổi ny về định hớng của trục Trái Đất đợc gọi l tuế sai (tiến động), nó trực tiếp lm thay đổi thời gian xảy ra v cờng độ của các mùa Kết hợp với những thay đổi về định hớng của quỹ đạo Hong đạo, nó gây nên một chu trình bức xạ 23000 năm Nếu nh định hớng của trục hớng về sao Chức Nữ nh
đang diễn ra ngy nay cùng với thời gian hiện nay của viễn điểm v cận điểm, thì
kỳ đông chí đối với Bắc bán cầu sẽ gần trùng khớp với ngy viễn điểm Sự tăng kết quả về tính mùa sẽ gây nên các mùa hè nóng hơn v các mùa đông lạnh hơn ở Bắc bán cầu Đồng thời, Nam bán cầu sẽ có tính mùa yếu hơn do kỳ hạ chí của nó sẽ xảy
ra gần với ngy viễn điểm
Hình 16.6 Tuế sai
Cũng cần lu ý rằng, tầm quan trọng của tuế sai tới ảnh hởng bức xạ nhận
đợc còn phụ thuộc vo độ lớn của độ lệch tâm của quỹ đạo Những giá trị nhỏ của
độ lệch tâm (các quỹ đạo gần tròn) lm giảm mức độ quan trọng của tuế sai; độ lệch tâm lớn hơn sẽ khuếch đại nó Với xu thế hiện hnh hớng về phía các độ lệch tâm giảm, chúng ta có thể kỳ vọng hiệu ứng ny sẽ tơng đối nhỏ trong thời gian 50000 năm tới hoặc đại loại nh thế
Ba chu trình ny kết hợp lại đợc gọi l các chu trình Milankovitch, để tôn
vinh nh thiên văn học đầu thế kỷ 20, ngời đã giải thích về ảnh hởng tiềm năng của những chu trình ny tới khí hậu Trái Đất Hầu hết các nh khoa học tin rằng các chu trình Milankovitch đã có một vai trò quan trọng trong kéo di v rút ngắn của các thời kỳ băng h trong Đệ tứ do cái cách chúng kết hợp cùng nhau tác động tới tính mùa Những kỷ nguyên băng h lớn, nh các kỷ nguyên hiện tại đang chiếm lĩnh phần lớn Greenland v Nam Cực, rất có thể l kéo di ra khi tính mùa yếu Với tính mùa yếu, các nhiệt độ mùa đông ấm hơn tạo thuận lợi cho tuyết rơi
Trang 20nhiều hơn trên phần lớn các khiên băng lợng hơi nớc có nhiều hơn Các mùa hè mát mẻ hơn cũng thuận lợi cho sự phát triển băng h do tốc độ tan băng ở các vùng rìa của khiên băng thấp hơn
Bằng chứng quan sát quan trọng về vai trò của các chu trình Milankovitch
đợc thấy trong hồ sơ khí hậu của Pleistoxen Nếu sử dụng bức xạ ở các vĩ độ trung bình Bắc bán cầu nh một đại lợng thay thế cho tác động quỹ đạo, ta thấy có một
sự trùng khớp khá tốt giữa các thời gian băng tiến v băng thoái Ngoi ra, khi độ biến động trong hồ sơ khí hậu giảm sút tuân theo một số quy mô thời gian khác nhau, thì ba thời kỳ Milankovitch chính hợp nhất lại với nhau để duy trì phần lớn
sự biến đổi khí hậu Vì những nguyên nhân ny v các nguyên nhân khác, sự biến
đổi của các tham số quỹ đạo đợc thừa nhận rộng rãi nh l cơ chế điều khiển các chu trình băng h/gian băng ở mức độ no đó, các giai đoạn băng h tiến v băng h thoái chịu ảnh hởng bởi các chu trình Milankovitch, v viễn cảnh đối với chúng
ta l quay lại một giai đoạn băng h tiến khác trong một vi thiên niên kỷ sắp tới Nhng học thuyết của Milankovitch không phải không có vấn đề, vấn đề chính của
nó l gì đó liên quan đến chu trình độ lệch tâm Chu trình 100000 năm có tác động yếu nhất tới lợng bức xạ đạt tới hnh tinh, nhng xuất hiện nh một chu trình mạnh nhất trong hồ sơ khí hậu Nếu nh đây l nguyên nhân thực sự, thì các quá trình còn phải đợc đợc giải thích đầy đủ phải lm khuếch đại chu trình bức xạ nhỏ tơng đối Một vấn đề có liên quan liên quan tới những gia tăng biên độ đã thấy trong chu trình khí hậu 100000 năm Nếu nh các chu trình độ lệch tâm lnguyên nhân, thì tại sao chúng đột ngột trở nên quan trọng hơn ở khoảng 800000 năm trớc? Cuối cùng, có một câu hỏi về tuế sai, nó lệch pha giữa Bắc bán cầu vNam bán cầu Các hiệu ứng tuế sai no đã gây nên những điều kiện lạnh đi ở một bán cầu thì phải gây nên ảnh hởng ngợc lại ở bán cầu kia Tuy nhiên, nh chúng
ta đã thấy, các biến đổi khí hậu đã tơng tự ở cả hai bán cầu, chứ không phải l đối ngợc với nhau
Những thay đổi về hình dạng lục địa v các đặc tr~ng của bề mặt
Nhiều nh khí hậu tin rằng những biến đổi khí hậu diễn ra trong các thời gian di nhất thì ít nhất cũng phải phần no phản hồi lại để lm thay đổi kích thớc v
vị trí các lục địa trên Trái Đất Quan điểm cũ rằng sự trôi lục địa l một biến tác
động chủ yếu đã không còn đứng vững trớc những ớc lợng định lợng về mức độ biến đổi do các mô phỏng máy tính thu đợc Sự tan vỡ của lục địa Pangaea (siêu
lục địa trớc đây) v sự di chuyển chậm của các lục địa kết quả chắc chắn đã phải gây nên những biến đổi khí hậu lớn, thậm chí nếu nh không lớn nh ta đã thấy trong hồ sơ địa chất Dĩ nhiên, phải nh vậy, bởi vì tất cả những nhân tố no ảnh
hởng tới nhiệt độ v các biến khí hậu khác (nh vĩ độ v tính lục địa) tự chúng cũng phải chịu ảnh hởng mạnh bởi sự di chuyển của các lục địa Mặc dù rất kịch tính, những biến đổi khí hậu do hậu quả di dịch các lục địa sẽ cực kỳ chậm Giống
nh các thay đổi về vị trí, các giai đoạn tạo núi trên lục địa đã chắc chắn gây nên sự biến đổi khí hậu đáng kể Ví dụ, mô hình máy tính mách bảo rằng sự hiện diện của các vùng núi lớn (dãy Rocky, Himalaya, Andes) sẽ khuếch đại các sóng Rossby
Trang 21trong mùa đông v khuyến khích các hon lu gió mùa tăng cờng trong mùa hè, cả hai đều phù hợp với dữ liệu quan trắc
ở các quy mô thời gian ngắn hơn, sự thay đổi của bề mặt Trái Đất, đặc biệt do hoạt động con ngời, có thể ảnh hởng mạnh tới sự phân bố bức xạ Mặt Trời Một trong các hoạt động nh thế l quá trình triệt phá rừng, trong đó những khoảng
đất rộng lớn không còn cây cối Giảm sút thực vật lm giảm sự bốc thoát hơi tiềm năng từ bề mặt Điều đó về phần mình dẫn đến các nhiệt độ cao hơn ở gần bề mặt vì một lợng năng lợng chuyển kênh sang nhiệt ẩn hóa hơi bị giảm sút v còn lmgiảm lợng ma Hơn nữa, sự phân hủy thực vật trực tiếp lm tăng lợng CO2 khí quyển, một chất khí nh kính quan trọng Kết cục, mất bề mặt phủ thực vật, nơi diễn ra quá trình quang hợp, một quá trình di dời CO2 ra khỏi khí quyển Thậm trí nếu quá trình tạo rừng diễn ra, sự chuyển đổi từ rừng gi sang rừng non vẫn lmgiảm tốc độ di dời CO2 khỏi khí quyển
Sự thay đổi của bề mặt đất khô hạn v bán khô hạn bởi quá trình tạo bãi chăn thả gia súc quá mức có thể cũng dẫn đến những biến của đổi khí hậu khu vực Độ rắn chắc của đất cùng với thực vật có thể lm tăng lợng nớc mặt, do đó lm giảm
lợng nớc hiện hữu cho bốc hơi vo khí quyển Thêm nữa, một giả thuyết cho rằng
sự di dời thực vật dẫn đến tăng albeđo bề mặt Khi albeđo tăng lên, sự suy giảm về năng lợng đất hấp thụ đợc sẽ lm bề mặt lạnh đi v tốc độ giảm môi trờng giảm Vì tốc độ giảm môi trờng nhỏ sẽ lm cho không khí ổn định hơn v kém thích hợp cho ma đối lu, chăn thả quá mức có thể sẽ gia tăng tính dễ bị tổn thơng của các khu vực đó trở thnh vùng khô hạn Mặt khác, giảm thực vật do chăn thả quá mức
có thể có tác động ngợc lại, trong đó giảm về bốc hơi dẫn đến sự nóng lên chung của bề mặt v giảm tốc độ giảm môi trờng Tất nhiên, sự bất ổn định gắn liền với tốc độ giảm môi trờng tăng lên sẽ có ảnh hởng yếu nếu nh không có đủ nớchiện hữu để gây ma Còn một hiệu ứng nữa do sự thay đổi về độ gồ ghề bề mặt, nó
lm thay đổi quá trình truyền động lợng giữa khí quyển v mặt đất
Những thay đổi về độ đục khí quyển
Độ đục khí quyển l lợng vật liệu rắn v lỏng (son khí) chứa trong không khí Một số son khí đợc sinh ra trong khí quyển thông qua các quá trình tự nhiên, nhphun núi lửa quy mô lớn; một số khác sinh ra do hoạt động con ngời, nh phát thải ống khói Son khí có thể gia nhập khí quyển trực tiếp nh các ví dụ đã nêu Chúng còn có thể gia nhập khí quyển một cách gián tiếp nhờ các quá trình hóa học trong đó các chất khí nhất định – thờng l các hợp chất sunphat, v cả nitrat vhyđrocacbon - phản ứng trong ánh sáng Mặt Trời để hình thnh các son khí rắn vlỏng Một số son khí thờng không lớn hơn những cụm phân tử nhỏ li ti, nhng một
số khác có đờng kính vi mm Đó l một dải kích thớc rất lớn, giống nh thể các quả bóng bn so với các hnh tinh Tuy nhiên, bất chấp nguồn gốc, thnh phần cấu tạo, biến đổi di hạn về trữ lợng son khí có thể l những mầm mống quan trọng
đối với khí hậu
Tồn tại cả trong đối lu quyển v bình lu quyển, son khí ảnh hởng trực tiếp
Trang 22tới sự truyền qua v hấp thụ bức xạ Mặt Trời v bức xạ hồng ngoại Thông qua hấp thụ ánh sáng tới của Mặt Trời, chúng có thể lm nóng khí quyển xung quanh các son khí, nhng chúng cũng có thể lm tăng lợng tán xạ ngợc trở lại v lm nhờ
đó lm giảm lợng bức xạ đạt tới bề mặt Các hiệu ứng tơng đối của sự hấp thụ so với tán xạ ngợc rất khó đánh giá v tùy thuộc vo nhiều nhân tố, bao gồm albeđo của son khí v bề mặt phía dới
ở một mức độ thấp hơn, son khí có thể lm tăng hấp thụ bức xạ sóng di đi lên giải phóng vo không gian, v do đó tăng bức xạ sóng di tán xạ từ khí quyển xuống bề mặt Nhờ cách ny, chúng có thể ảnh hởng trực tiếp lm các nhiệt độ ban
đêm tăng
Son khí còn có thể ảnh hởng tới khí hậu một cách gián tiếp thông qua khả năng của chúng dùng lm các nhân ngng kết mây Một đám mây với số lợng lớn các nhân ngng kết có thể chứa nhiều nớc lỏng hơn so với đám mây với ít nhân ngng kết hơn, nhng nó sẽ có nhiều giọt với kích thớc nhỏ hơn Những đám mây với số lợng lớn các giọt nhỏ ít khả năng cho ma, v do đó dễ tồn tại trong những khoảng thời gian di Ngoi ra, tổng diện tích bề mặt các giọt trong đám mây nhthế rất lớn v nó lm tăng hệ số phản xạ các đám mây (giả thiết rằng cùng lợngnớc lỏng) Vì vậy, các son khí trong đối lu quyển có thể l nguyên nhân của những đám mây lớn, sống lâu hơn v sáng hơn
Hình 16.7 Các dấu vết của tầu biển d~ới dạng những vệt trắng lẫn trong trần mây tầng thấp với những đám mây xám sáng lốm đốm ảnh thể hiện một vùng khơi phía tây bắc n~ớc Mỹ, các khoảng quang mây của đại d~ơng thể hiện ở nền mu đen
Hiệu ứng gián tiếp của các son khí thể hiện trên các ảnh vệ tinh về những vệt khói sau tầu, đó l những vệt mây tầng thấp do các tầu viễn đại dơng sinh ra (hình 16.7) Trong bầu khí quyển tinh khiết tơng đối bên trên đại dơng, các son khí lm tăng sự ngng kết, tạo thnh những vệt mây di lững lờ trôi trong bầu trời trong sáng xung quanh Với albeđo cao, các đám mây đó lm giảm lợng bức xạ Mặt Trời đạt tới bề mặt Một công trình nghiên cứu mới đây về các vết ô nhiễm trên
đất liền cung cấp thêm bằng chứng nữa về hiệu ứng son khí gián tiếp, trên ảnh vệ tinh các vết ô nhiễm xuất hiện dới dạng những cụm mây sáng hơn ở phía xuôi