1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và đầu tư - 4 doc

19 250 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 160,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với các dự án đầu tư trong nước, dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chia làm 2 nhóm: A và B Dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định bao gồm: - Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 1

Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được chấp thuận dưới hình thức giấy phép đầu tư Giấy phép đầu tư được ban hành theo mẫu thống nhất của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việc cấp giấy phép đầu tư thực hiện theo một trong hai quy trình: Đăng ký cấp giấy phép đầu tư hoặc Thẩm định cấp giấy phép đầu tư Đây chỉ đề cập đến những dự án thuộc diện thẩm định cấp giấy phép đầu tư Quy trình thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào thẩm quyền xét duyệt dự án do Chính phủ quy định Khác với các dự án đầu tư trong nước, dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chia làm 2 nhóm: A và B

Dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định bao gồm:

- Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, dự án BOT,BTO,BT

- Dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các ngành điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, xi măng, hoá chất, cảng biển, sân bay, khu văn hoá,

du lịch, kinh doanh bất động sản

- Dự án vận tải biển, hàng không

- Dự án bưu chính, viễn thông

- Dự án văn hoá, xuất bản, báo chí, truyền thanh, truyền hình, đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế

- Dự án bảo hiểm, tài chính, kiểm toán, giám định

- Dự án khai thác tài nguyên quý hiếm

- Dự án thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng

- Dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên

Trang 2

Các dự án còn lại thuộc nhóm B sẽ do 3 cơ quan quyết định là: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp (nếu được uỷ quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương được Chính phủ phân cấp

Quy trình thực hiện thẩm định dự án được Chính phủ quy định như sau:

- Đối với dự án nhóm A:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và UBND tỉnh có liên quan

để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định

Trường hợp có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng của dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập Hội đồng tư vấn gồm đại diện có thẩm quyền của các

cơ quan có liên quan và các chuyên gia để xem xét có ý kiến trước khi trình Thủ tướng

Tuỳ theo tính chất quan trọng của dự án, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư nghiên cứu và tư vấn để Thủ tướng Chính phủ quyết định

- Đối với dự án nhóm B:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh có liên quan trước khi xem xét quyết định

- Đối với dự án do UBND cấp tỉnh được phân cấp cấp giấy phép:

UBND cấp tỉnh tiến hành thẩm định dự án theo các nội dung đã được quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lấy ý kiến của các Bộ, ngành về các vấn đề thuộc thẩm quyền của các Bộ, ngành mà chưa có quy định cụ thể

Trang 3

- Đối với dự án do Ban quản lý khu công nghiệp quyết định theo uỷ quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Ban quản lý khu công nghiệp tổ chức thẩm định và tự quyết định việc cấp giấy phép đầu tư đối với các loại dự án sau đây:

Các doanh nghiệp chế xuất có quy mô vốn đầu tư đến 40 triệu USD

Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và doanh nghiệp dịch vụ công nghiệp

có quy mô vốn đầu tư đến 5 triệu USD

Đối với dự án đầu tư khác, trước khi ra quyết định, Ban quản lý khu công nghiệp

có trách nhiệm gửi bảng tóm tắt dự án theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lấy ý kiến của các Bộ, ngành về những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình mà chưa có quy định cụ thể

Thời gian thẩm định dự án:

- Đối với dự án nhóm A:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về nội dung

dự án thuộc phạm vi quản lý của mình Quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận nội dung dự án

Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận được hồ

sơ, phải trình ý kiến thẩm định lên Thủ tướng Chính phủ

- Đối với dự án nhóm B:

Dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định:

Các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh cũng phải có ý kiến tương tự như dự án nhóm A

Trang 4

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành thẩm định và cấp giấy phép trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầy đủ và hợp lệ.Thời hạn quy định trên đây không kể thời gian nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự án là 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ

Dự án do UBND cấp tỉnh được Chính phủ phân cấp:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, UBND tỉnh hoàn thành việc thẩm định cấp giấy phép Thời hạn này không tính 15 ngày là thời hạn chủ đầu tư dự án sửa đổi, bổ sung dự án theo yêu cầu của UBND cấp tỉnh Các Bộ, ngành được lấy ý kiến kể cả trường hợp bổ sung sủa đổi có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Quá thời hạn đó mà Bộ, ngành không có ý kiến thì coi như chấp thuận dự án

Dự án do Ban quản lý khu công nghiệp quyết định:

Thời hạn thẩm định, cấp giấy phép là 15 ngày, không tính thời gian chủ đầu tư sửa đổi, bổ sung dự án là 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ban quản lý khu công nghiệp

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.4.1 Phương pháp thẩm định

Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và các nguồn thông tin đáng tin cậy Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng nội dung của dự án cần xem xét Việc lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp đối với từng dự án là một yếu tố quan trọng

Trang 5

nâng cao chất lượng thẩm định Các phương pháp thường được sử dụng đó là phương pháp so sánh, phương pháp thẩm định theo trình tự, phương pháp phân tích độ nhạy của dự án Tuy nhiên phương pháp chung để thẩm định là so sánh, đối chiếu nội dung dự án với các chuẩn mực đã được quy định bởi pháp luật và các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật thích hợp hoặc thông lệ (quốc tế, trong nước) cũng như các kinh nghiệm thực tế

1.2.4.2 Lựa chọn đối tác

Đối tác là một khía cạnh quan trọng trong dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Việc lựa chọn đối tác không chỉ quyết định đến chất lượng, hiệu quả của dự án

mà còn là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác thẩm định Đối tác là người nước ngoài ở nhiều khu vực, nhiều nước khác nhau trên thế giới nên việc tìm hiểu về đối tác và luật lệ của họ không phải dễ dàng Dự án đầu tư có thể giới thiệu cho nhiều đối tác khác nhau nhằm lựa chọn được nhà đầu tư thích hợp nhất, có đủ tư cách pháp lý, năng lực tài chính và kinh nghiệm thực hiện dự án Việc tìm hiểu các thông tin nói trên về đối tác nước ngoài có thể thông qua cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại kinh tế của Việt Nam ở nước ngoài, các ngân hàng, các công ty kiểm toán, tư vấn đầu tư trong và ngoài nước

1.2.4.3 Môi trường pháp luật

Các văn bản pháp luật là yếu tố trực tiếp định hướng và ảnh hưởng đến công tác thẩm định Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được quy định cụ thể và gần đây đã được bổ sung sửa đổi để ngày càng phù hợp và cập nhật hơn với thực tế hiện nay Những tiến

bộ hay những mặt còn hạn chế của các văn bản pháp luật chính là nhân tố ảnh

Trang 6

hưởng trực tiếp nhất đến chất lượng của công tác thẩm định cũng như việc ra quyết định đầu tư Một số văn bản pháp luật liên quan đến công tác thẩm định dự

án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang áp dụng hiện nay là:

- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09/6/2000

- Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15//8/1998 của Chính phủ về Ban hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao, Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh, Hợp đồng xây dựng- chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 27/01/1999 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 62/1998/NĐ-CP

- Thông tư số 12/2000/TT-BKH ngày 13/9/2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư về hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích đầu tư và bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

1.2.4.4 Thông tin

Thông tin là một yếu tố cực kỳ quan trọng và không thể thiếu được trong công tác thẩm định Thông tin đầy đủ và chính xác là cơ sở cho việc thẩm định đạt kết quả cao Ngược lại thông tin không đầy đủ và phiến diện sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm về tính khả thi của dự án, từ đó có thể đưa đến những quyết định đầu tư sai lầm Đặc biệt đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, đối tác là

Trang 7

người nước ngoài ở nhiều khu vực khác nhau nên việc tìm hiểu, thu thập thông tin chính xác về họ lại càng trở nên cần thiết Các thông tin cần thiết cho việc thẩm định một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm cả các thông tin về đối tác trong nước cũng như nước ngoài Đối với bên Việt Nam cần tìm hiều các thông tin đầy đủ về các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam tham gia liên doanh như tư cách pháp lý, ngành nghề định kinh doanh, khả năng tài chính trong tham gia liên doanh…Đối với bên nước ngoài, các thông tin không thể thiếu được là

tư cách pháp lý, năng lực tài chính, lịch sử phát triển, uy tín, vị thế của đối tác trong kinh doanh, đạo đức doanh nghiệp, công nghệ áp dụng vào Việt Nam…Ngoài ra cũng cần có những thông tin chính xác liên quan đến các chính sách mới, các quan đIểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế

Để có được nguồn thông tin có chất lượng thì phương pháp thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Vì vậy bên cạnh việc phối hợp giữa các Nhà nước, cơ quan, công ty để thu được những thông tin từ nhiều nguồn và nhiều chiều, vấn đề xử lý, phân tích và lưu ttữ thông tin cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng và từng bước nâng cao chất lượng của hoạt động này

1.2.4.5 Quy trình thực hiện thẩm định Khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thẩm định dự án là thực hiện các công việc thẩm định Thực hiện tốt khâu này sẽ đảm bảo được những yêu cầu đặt ra trong công tác thẩm định Để thực hiện tốt khâu này phải có một quy trình thẩm định hợp lý, khoa học Cơ sở hình thành quy trình thẩm định dự án là nhiệm vụ tổng quát của công tác thẩm định dự án:

Trang 8

Phân tích, đánh giá tính khả thi của dự án về công nghệ, kinh tế, xã hội, môi trường…

Đề xuất và kiến nghị với nhà nước chấp nhận hay không chấp nhận dự án, nếu chấp nhận thì với những điều kiện nào

Việc thứ nhất chủ yếu là công việc xem xét, đánh giá chuyên môn của các chuyên gia Việc thứ hai là của các nhà quản lý: lựa chọn phương án và điều kiện phù hợp nhất Xây dựng được một quy trình thẩm định phù hợp sẽ đảm bảo được các yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý ngành và phối hợp các ngành, các địa phương trong việc đánh giá, thẩm định và xử lý những vấn đề tồn tại của dự án; đồng thời đảm bảo tính khách quan trong việc thẩm định các dự án, cho phép phân tích đánh giá sâu sắc các căn cứ khoa học và thực tế các vấn đề chuyên môn; bên cạnh đó còn đơn giản hoá được công tác tổ chức thẩm định mà vẫn nâng cao được chất lượng thẩm định

1.2.4.6 Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các chủ trương chính sách của nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thẩm định Đó là: Phân cấp thẩm định và

ra quyết định đầu tư; các ưu đãi đầu tư, khuyến khích đầu tư ; các định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội theo lãnh thổ; các quy định trong việc nhập thiết bị, chuyển giao công nghệ Các quy định này không chỉ tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động thẩm định mà còn tác động trực tiếp đến việc thực thi các dự án sau này Việc xây dựng một hệ thống quản lý gọn nhẹ sẽ góp

Trang 9

chủ quan của mình về dự án đầu tư dựa trên những cơ sở khoa học và tiêu thức chuẩn mực khác nhau

Các tố chất của cán bộ thẩm định bao gồm cả năng lực, trình độ, kinh nghiệm và

tư cách đạo đức nghề nghiệp Để công tác thẩm định đạt kết quả cao đòi hỏi người cán bộ thẩm định phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa năng lực sẵn có của bản thân, trình độ chuyên môn và những kinh nghiệm từ thực tế, đặc biệt phải có một phẩm chất đạo đức nghề nghiệp vô tư trong sáng, biết đặt lợi ích của công việc lên hàng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ trách nhiệm của mình

để đưa ra những kết luận khách quan về dự án, làm cơ sở đúng đắn cho việc ra quyết định đầu tư

1.2.4.8 Vấn đề định lượng và tiêu chuẩn trong phân tích, đánh giá dự án

Để thẩm định đánh giá dự án, vấn đề quan trọng và cần thiết là việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật, mặc dù trong thẩm định đánh giá dự án cũng có những vấn đề được phân tích lựa chọn trên cơ sở định tính Việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cần thiết phải giải quyết hai vấn đề là định lượng và xây dựng tiêu chuẩn để đánh giá các chỉ tiêu đó Để có cơ sở đánh giá dự án thì việc nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn hoặc chỉ tiêu hướng dẫn là rất cần thiết, trước hết là các chỉ tiêu về tài chính và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án như:

tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho từng loại dự án, thời gian hoàn vốn tiêu chuẩn, hệ

số bảo đảm trả nợ, suất đầu tư hoặc suất chi phí cho các loại công trình, hạng mục công trình… Đây là những điểm cần phải được đặc biệt chú ý đối với các

cơ quan quản lý đầu tư tổng hợp như các bộ và từng địa phương

Trang 10

Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.1.Khái quát chung các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua 2.1.1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư

Kể từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài đến hết tháng 12/2000, đã có 3265

dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư với số vốn đăng ký đạt khoảng 38,6 tỷ USD, trong đó thời kỳ 1988-1990 có 219 dự án với số vốn đăng

ký đạt 1,6 tỷ USD; thời kỳ 1991-1995 có 1398 dự án với số vốn đăng ký đạt 16,24 tỷ USD; thời kỳ 1996-2000 có 1648 dự án với số vốn đăng ký đạt 20,8 tỷ USD.Tính chung từ năm 1988 đến nay đã có trên 500 dự án đầu tư nước ngoài tăng vốn với quy mô vốn tăng thêm đạt khoảng 6 tỷ USD, nâng tổng vốn cấp mới và đăng ký bổ sung từ năm 1988 đến nay đạt khoảng 44,6,tỷ USD Trừ các

dự án hết hạn, giải thể trước thời hạn và cộng thêm khoảng 40 dự án được tách

ra từ các dự án đã cấp phép, hiện còn 2628 dự án hiệu lực, với số vốn đăng ký đạt 36,3 tỷ USD

Đánh giá riêng về số dự án được cấp giấy phép đầu tư thời kỳ 1996-2000, mặc

dù tăng 15,7% về số dự án và 27,6% về vốn đăng ký so với thời kỳ 1991-1995, nhưng do một số hạn chế của môi trường kinh doanh trong nước cùng ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực và do sự cạnh tranh giữa các nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên gay gắt nên nhịp tăng vốn đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1997 đến năm 1999 liên tục giảm sút So với năm trước, vốn đăng ký cấp mới năm 1997 giảm 49%, năm 1998 giảm 16%, năm 1999 giảm 59% Đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi trong năm 2000

Ngày đăng: 23/07/2014, 02:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm