Trong thẩm định dự án, thông tin là yếu tố rất quan trọng nhưng nhiều khi công tác thẩm định thông tin chưa tốt khiến cho nhiều dự án đã được cấp giấy phép không triển khai được do phía
Trang 12.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1 Chất lượng các luận chứng kinh tế- kỹ thuật cho quá trình thẩm định còn hạn chế
Việc sử dụng, quản lý nguồn vốn đầu tư như thế nào cho hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thiết thực, bức xúc của xã hội là vấn đề quan trọng có tính chiến lược quốc gia Đối với một dự án FDI phải quan tâm trước hết đến tính khả thi, tính hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Để đảm bảo yêu cầu này thì luận chứng kinh tế kỹ thuật của mỗi dự án phải được trình bày một cách đầy đủ với những số liệu khảo sát thực tiễn toàn diện, khách quan và phải được thông qua một hội đồng chuyên môn để thẩm định Mặc dù từ lâu luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án vẫn được tiến hành xây dựng song thực tiễn cho thấy bên cạnh những dự án tốt, nhiều luận chứng kinh tế kỹ thuật vẫn không được xây dựng và thẩm định kỹ càng, tính khoa học và thực tiễn thấp Nhiều dự án việc xét duyệt không được nghiêm túc, không có chuyên gia giỏi xem xét nên tính khả thi của luận chứng đến mức nào nhiều khi không được thẩm định một cách khoa học Sự hạn chế của các luận chứng kinh tế kỹ thuật chính là một khó khăn lớn cho công tác thẩm định Hệ quả là bản luận chứng nhiều lúc biến tướng thành một thủ tục hành chính Nên chăng cần ban hành những văn bản pháp luật quy định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của các bên hữu quan trong dự án để việc xây dựng luận chứng, xét duyệt và thực thi dự án được nghiêm túc, khoa học, đem lại hiệu quả hơn
Bên cạnh đó công tác quản lý các dự án không chỉ cần thiết khi xét duyệt, khi thực thi mà sau khi hoàn thành cần được kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của dự
Trang 2án so với luận chứng ban đầu Nếu có sai sót, các bên hữu quan của dự án phải
có trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
2.3.2.2 Hệ thống thông tin chưa hoàn thiện
Trong thẩm định dự án, thông tin là yếu tố rất quan trọng nhưng nhiều khi công tác thẩm định thông tin chưa tốt khiến cho nhiều dự án đã được cấp giấy phép không triển khai được do phía nước ngoài không có năng lực về tài chính Nhiều
dự án chủ đầu tư nước ngoài không góp đủ vốn theo tiến độ quy định hoặc đóng góp vốn thấp hơn vốn pháp định Ví dụ: dự án liên doanh giữa Nhà hàng Xuân Hương (thành phố Hồ Chí Minh) và công ty PANEXIM (Việt kiều Pháp), giấy phép cấp ngày 17/09/1990: hai bên đã thành lập Hội đồng quản trị, ban giám đốc, mở tài khoản, đã lên thiết kế nâng cấp và đã được cấp giấy phép xây dựng ngày 22/05/1991, cơ sở giải toả xong ngày 30/04/1991 với chi phí 45000USD do công ty Du Lịch tạm ứng trước cho bên nước ngoài mượn vì đây là một công ty Việt kiều Pháp có làm ăn với nhiều công ty Việt Nam Tuy nhiên đến cuối năm
1992, công ty PANEXIM không có đủ năng lực tài chính để triển khai dự án Vì thế dự án bị rút giấy phép
Có trường hợp chủ đầu tư nước ngoài sau khi nhận được giấy phép thì bán lại giấy phép cho các công ty nước ngoài khác với giá cao hơn để kiếm lời Ví dụ :
xí nghiệp liên doanh thuốc lá Tây Đô-Hậu Giang Bên nước ngoài đứng tên xin giấy phép là một Việt kiều ở Mỹ, nhưng sau khi nhận được giấy phép đầu tư, ông Việt kiều rút tên khỏi liên doanh và bên đối tác mới là tập đoàn Indonesia Tính đến hết năm 2000, đã có 642 dự án bị giải thể trước thời hạn với số vốn khoảng 8 tỷ USD và số vốn đã được thực hiện là 2,1 tỷ USD, trong đó thời kỳ
Trang 31996-2000 có 406 dự án giải thể và vốn đăng ký là 6,56 tỷ USD, tăng 69% về số
dự án và gấp 4,3 lần về vốn giải thể so với 5 năm trước Nguyên nhân việc số dự
án bị giải thể tăng lên một mặt do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, do môi trường kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều mặt kém thuận lợi , do Việt Nam có sự điều chỉnh định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực Nhưng mặt khác còn do phần lớn các dự án bị giải thể thời kỳ này đã được cấp giấy phép đầu tư giai đoạn từ năm 1995 trở về trước, trong đó có những dự án ngay trong quá trình thẩm định tuy đã có những ý kiến phân vân về tính khả thi (lựa chọn đối tác không phù hợp, dựa trên những dự báo không chính xác về cung cầu…) nhưng vẫn được cấp giấy phép đầu tư vì những lý do khác nhau
Bên cạnh đó, thông tin về các chủ đầu tư nước ngoài nhiều khi sai lệch khiến cho công tác thẩm định khá vất vả Cụ thể trong dự án cấp nước BOT vừa nêu trong phần ví dụ, thông tin do các chủ đầu tư nước ngoài cung cấp ghi trong hồ
sơ dự án rất khả quan Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định đã phát hiện không phải mọi thông tin về các công ty đầu tư đều đúng sự thật Nghiên cứu tiền khả thi của dự án đó đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua về nguyên tắc, gồm 4 công ty đầu tư nước ngoài Trên thực tế, công ty A- với tư cách là nhà đầu tư chính, đóng góp 60% vốn pháp định- không còn tồn tại nữa, nhưng đã đứng dưới danh nghĩa một tên khác để tham gia đầu tư
2.3.2.3 Hệ thống luật pháp, chính sách đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước được, gây khó khăn không ít cho quá trình thẩm định dự án
Trang 4Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưa cao Một số luật pháp, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổi nhiều Có những trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của nhà đầu tư nên đã làm đảo lộn phương
án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ Nhiều vướng mắc liên quan đến phạm vi điều chỉnh của các luật chuyên ngành như luật đất đai, quản lý ngoại hối, công nghệ môi trường, lao động, xuất nhập cảnh, pháp lệnh thi hành án…chậm được sửa đổi khiến cho nhiều khi cán bộ thẩm định không có được những cơ sở rõ ràng và cập nhật để tiến hành thẩm định Thêm vào đó, nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định Một số văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, thêm quy trình dẫn đến tình trạng “trên thoáng dưới chặt”, một số chính sách mới của Chính phủ chậm được đưa vào cuộc sống hoặc không được cơ quan cấp dưới chấp hành nghiêm chỉnh làm giảm lòng tin của cộng đồng đầu tư nước ngoài
2.3.2.4 Công tác quy hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao, thiếu cụ thể Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu với động cơ tìm kiếm lợi nhuận và nhằm vào thị trường tiêu thụ nội địa gần 80 triệu dân Nhưng một mặt, quy mô của thị trường Việt Nam còn nhỏ bé, sức mua thấp, nhất là vùng nông thôn Mặt khác ta lại chủ trương khuyến khích đầu tư hướng về xuất khẩu, nhiều
dự án phải xuất khẩu trên 80% nên tính khả thi của dự án không cao Nhiều lĩnh vực đầu tư có sức hấp dẫn nhưng vào thời điểm hiện nay đã và đang bão hoà (khách sạn, văn phòng cho thuê, lắp ráp ôtô xe máy, hàng điện tử gia dụng…) Tình hình trên cộng với ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực đã làm cho công suất huy động của nhiều sản phẩm thuộc khu vực đầu tư nước
Trang 5ngoài đạt thấp Việc cấp phép những năm đầu trong một vài lĩnh vực cũng còn hiện tượng thiên về số lượng, nặng về thay thế nhập khẩu, tuy có bổ sung hàng hoá cho thị trường, tiết kiệm ngoại tệ nhập khẩu, nhưng tình trạng này kéo dài không kịp thời điều chỉnh đã dẫn đến chênh lệch cung cầu, tạo sức ép lớn đối với sản xuất một vài sản phẩm trong nước
Cũng do thiếu quy hoạch cụ thể nên một mặt các địa phương phải chờ xin ý kiến của các cơ quan trung ương mất nhiều thời gian, mặt khác dẫn đến tình trạng quan điểm xử lý đối với dự án không nhất quán
Hình thức đầu tư nước ngoài cũng chưa phong phú Hơn 10 năm qua, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo 4 hình thức là doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng BOT Tuy nhiên các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Trong chỉ đạo và điều hành ta dành ưu tiên cho hình thức liên doanh nhưng chính doanh nghiệp liên doanh lại có tỷ lệ
lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mâu thuẫn giữa các bên liên doanh là khá phổ biến Hình thức hợp đồng BOT tuy được khuyến khích phát triển và thực tế đã chứng minh là chứa đựng rất nhiều lợi thế đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong các dự án mang tính chất phúc lợi công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng…nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan vẫn chưa thực sự phát huy được sức mạnh của mình cho dù nhà nước đã tạo nhiều điều kiện khuyến khích phát triển Trong quá trình thẩm định các dự án BOT, nếu không có một hệ thống toà
án tin cậy, không có khả năng đứng ra bảo vệ quyền lợi của từng cá nhân và xí
Trang 6nghiệp thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không cảm thấy yên tâm khi đưa ra những cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam
2.3.2.5 Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài còn quá rườm rà
Việc xin cấp giấy phép đầu tư, thủ tục thuê đất, xin giấy phép xây dựng cũng như các thủ tục triển khai thực hiện dự án còn nhiều phức tạp Công tác lập hồ
sơ dự án còn nhiều thiếu sót, sơ sài và buộc phải sửa đổi bổ sung khiến thời gian thẩm định và cấp giấy phép kéo dài Đặc biệt khi được cấp giấy phép đầu tư, để
có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các chủ đầu tư phải mất khá nhiều thời gian mới triển khai thực hiện được dự án Việc phức tạp trong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đang là một vấn đề nổi cộm và làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác thẩm định dự án
Bên cạnh đó, phương thức quản lý cồng kềnh, các thủ tục rắc rối phiền hà kéo dài thời gian làm giảm lại tiến độ phê chuẩn và thực hiện dự án Do vậy bên cạnh Luật đầu tư nước ngoài, các văn bản dưới luật cũng phải nhằm mục tiêu khắc phục những bất hợp lý nảy sinh Thi hành chế độ một cửa có hiệu lực, điều chỉnh hệ thống giá cả có liên quan nhằm giảm chi phí cho nhà đầu tư , chú trọng đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định dự án Ngoài ra cần huỷ
bỏ những ràng buộc hệ thống ngân hàng và các dịch vụ kèm theo nhằm tạo môi trường thông thoáng cho các nhà đầu tư Thành lập các khu vực mậu dịch tự do, khu chế xuất cho các ngành công nghiệp xuất khẩu…là giải pháp hữu hiệu thu hút FDI và củng cố lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào công cuộc kinh doanh ở Việt Nam
Trang 72.3.2.6 Mặt thẩm định công nghệ còn thiếu nhiều kinh nghiệm
Chuyển giao công nghệ là một thành tố quan trọng của đầu tư nước ngoài Tuy nhiên nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện không theo các quy định của pháp luật (chẳng hạn như không lập
và ký kết hợp đồng hoặc chỉ ký kết hợp đồng giữa bên giao và bên nhận mà không trình để phê duyệt…) làm cho cơ quan thẩm định rất khó có những căn cứ chính xác và nhất quán để thực hiện công tác thẩm định về mặt công nghệ Nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết giữa các bên là do bên nước ngoài soạn thảo sẵn với những điêù khoản có lợi cho họ, trách nhiệm của bên giao không rõ ràng và có những điều khoản trái với quy định của pháp luật Việt Nam, chi phí chuyển giao công nghệ không hợp lý, vượt quá nhiều so với quy định Những hợp đồng đó thường bị sửa lại nhiều lần làm kéo dài thời gian phê duyệt Bên cạnh đó cũng chưa có được một đội ngũ cán bộ thẩm định thực sự thông thạo về các thiết bị công nghệ hiện đại cũng như thông thạo ngoại ngữ và luật pháp quốc tế dẫn đến nhiều trường hợp công nghệ đưa vào không đáp ứng được mục tiêu của dự án đề ra kinh nghiệm thẩm định giá và mức độ tiên tiến của công nghệ và máy móc còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả thấp, đặc biệt là trong các dự án liên doanh rất nhiều dự án bị giải thể trước thời hạn
2.3.2.6 Chưa có sự thống nhất giữa Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong đánh giá thẩm định dự án
Thông thường, những kết quả đánh giá thẩm định do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra sau quá trình thẩm định là những căn cứ trực tiếp để Chính phủ ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép đầu tư Tuy nhiên, cũng có những trường hợp
Trang 8không có sự thống nhất trong đánh giá dự án giữa Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cụ thể, trong dự án cấp nước BOT vừa được lấy làm ví dụ, mặc dù kết quả đánh giá thẩm định do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra về dự án là còn nhiều vấn đề tồn tại, nhiều vấn đề còn nghi vấn cần phải xem xét kỹ lưỡng mới có thể đưa ra kết luận cuối cùng, tuy nhiên dự án vẫn được Chính phủ chấp nhận và thông qua Nguyên nhân của vấn đề trên có thể ở chỗ chưa có những tiêu chuẩn
cụ thể để đánh giá xếp loại dự án, chưa có quy định chi tiết về những điều kiện
dự án cần phải đạt đủ để được cấp giấy phép đầu tư
Chương 3:
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3.1 Triển vọng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
3.1.1 Bối cảnh tình hình
Những thuận lợi:
Tình hình kinh tế- xã hội của nước ta tiếp tục ổn định và phát triển Đặc biệt, những thành tựu to lớn và rất quan trọng của 15 năm đổi mới đã làm cho thế và lực của ta mạnh lên, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường Sự phát triển có nhiều triển vọng của nền kinh tế trong môi trường chính trị xã hội
cơ bản ổn định, môi trường hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế có nhiều thuận lợi cùng với những tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động của đát nước sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục thu hút mạnh hơn nữa các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Trang 9Môi trường kinh doanh nói chung và môi trường đầu tư nói riêng không ngừng được cải thiện; công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm và dần đi vào nền nếp; đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ngày một trưởng thành
Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh cùng với sự phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức, tạo nên sự dịch chuyển mạnh cơ cấu kinh
tế quốc tế và gia tăng mạnh các dòng chuyển vốn trên thế giới
Mặt khác, kinh tế thế giới đã phục hồi và tăng trưởng trở lại Thời gian tới, Châu á- Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động của thế giới Trong bối cảnh đó, nước ta cũng có những cơ hội thuận lợi để thu hút thêm các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Những khó khăn
Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp Nhịp độ tăng trưởng kinh tế 5 năm qua chậm dần Năm 2000 có chiều hướng tăng lên nhưng chưa đạt được mức tăng trưởng cao như 5 năm đầu thập niên 90 Cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm, tích luỹ nội bộ nên kinh tế còn thấp, các cân đối vĩ mô còn thiếu vững chắc
Môi trường kinh doanh, đầu tư còn nhiều hạn chế Nhu cầu thị trường tăng chậm, dung lượng thị trường nhỏ và sức mua trong nước còn rất thấp trong khi cung về nhiều sản phẩm trong nước đã bão hoà Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài còn bất cập, đặc biệt thủ tục hành chính còn phiền hà, tình trạng chấp hành chưa nghiêm luật pháp chính sách còn khá phổ biến
Trang 10Cạnh tranh trong thu hút các dự án đầu tư nước ngoài trên thế giới và trong khu vực diễn ra ngày càng gay gắt Hiện nay, ba phần tư vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển do sự tăng cường liên kết giữa các công ty đa quốc gia của Mỹ, Nhật, Tây Âu Một phần tư
số vốn đầu tư nước ngoài còn lại chảy vào các nước đang phát triển nhưng chủ yếu bị thu hút vào các nươcs công nghiệp mới (NICS) hoặc vào các thị trường đầu tư lớn như Trung Quốc, ấn Độ, Brazil, Mêhico…Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực đã và đang cải thiện mạnh môi trường thu hút đầu tư nước ngoài nhằm vượt lên trên các nước khác, coi đó là giải pháp chiến lược phục hồi
và phát triển kinh tế Chính điều này tạo nên sức cạnh tranh mạnh và là thách thức to lớn với Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay môi trường đầu tư tại Việt Nam đang bị đánh giá là mất dần tính cạnh tranh và độ rủi ro trong kinh doanh cao hơn các nước trong khu vực
Sau khủng hoảng kinh tế khu vực và dựa vào kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đa đánh giá Việt Nam đúng hơn và trở nên thận trọng, không đầu tư ồ ạt theo hướng đón đầu như những năm đầu 90 mà thực hiện chính sách đầu tư phù hợp với tình hình kinh tế và sức mua thực tế của người dân Việt Nam Việc thực hiện từng bước tự do hoá thương mại và đầu tư theo lộ trình AFTA, khu vực đầu tư ASEAN (AIA) cũng được các nhà đầu tư nước ngoài tính toán khi lựa chọn địa điểm đầu tư , thực hiện phân công lao động quốc tế đối với các nước trong khu vực ASEAN, tuỳ thuộc môi trường đầu tư, tiềm lực kinh tế, nguồn tài nguyên nhân lực tại chỗ, quy mô thị trường của mỗi nước