Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) – mãn tính, gặp ở mọi đối tƣợng, chƣa rõ nguyên nhân và thƣờng diễn biến trong thời gian dài1,3,5,7,28,31. Đặc trƣng của bệnh là những đợt nặng lên và thuyên giảm diễn ra thất thƣờng với dấu hiệu lâm sàng khác nhau, khó phát hiện. Bệnh có thể dẫn đến tử vong do cấp gây tổn thƣơng đến các cơ quan nhƣ: thần kinh, tim mạch, hô hấp…10,16,73. Đáng lo ngại nhất là đến nay bệnh vẫn chƣa có thuốc chữa khỏi, thời gian sống của bệnh nhân ngắn từ khi phát hiện bệnh 6,87. Trên thế giới cách đây vài thế kỉ, bệnh đã đƣợc phát hiện và nghiên cứu trên nhiều đối tƣợng khác nhau. Những con số tử vong lên đến báo động chiếm 50%, tiêu tốn nhiều tiền bạc và ảnh hƣởng trầm trọng đến sức khỏe của ngƣời dân 58. Bệnh có thể gặp ở hầu hết các đối tƣợng và mọi độ tuổi khác nhau, nhƣng phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ từ 1550 tuổi chiếm 90% số ca mắc bệnh 7,10,12,14,18,19. Với sự tiến bộ của y học hiện đại , việc điều trị bệnh đến nay đã thu đƣợc nhiều kết quả khả quan. Số ngƣời tử vong chỉ còn khoảng 10% do đƣợc sử dụng các loại thuốc Corticoide và ức chế miến dịch khác8,25,28. Ở Việt Nam, từ năm 1970 LBĐHT đã đƣợc đề cập và quan tâm, với đánh giá là bệnh quan trọng hàng đầu trong nhóm bệnh hệ thống Collagen bởi tỉ lệ gặp là 60%, bằng 15 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Nổi bật là các tổn thƣơng đa dạng ở các cơ quan5,19. Số bệnh nhân đến khám và điều trị SLE ở khoa Dị ứng – MDLS Bệnh viện Bạch Mai có số lƣợng tăng lên rõ rệt chiếm khoảng 13 số trƣờng hợp điều trị nội trú với 400500 ngƣời
Trang 1
NGUYỄN VĂN TOÀN
¸P DôNG THANG §IÓM SLEDAI TRONG TI£N L¦îNG
BÖNH NH¢N LUPUS BAN §á HÖ THèNG T¹I KHOA CÊP CøU BÖNH VIÖN B¹CH MAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN TOÀN
¸P DôNG THANG §IÓM SLEDAI TRONG TI£N L¦îNG
BÖNH NH¢N LUPUS BAN §á HÖ THèNG T¹I KHOA CÊP CøU BÖNH VIÖN B¹CH MAI
Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu
Trang 35 Số lần vào viện vì bệnh này:……
6 Ngày vào viện: ……… ,
Xuất huyết giảm tiểu cầu/Tan máu tự miễn
Viêm cầu thận, hội chứng thận hư
Trang 42 Ban dạng đĩa ở mặt và thân
3 Da nhạy cảm với ánh sáng
4 Loét niêm mạc
5 Viêm đa khớp
6 Viêm màng tim hoặc màng phổi
7 Tổn thương thận
8 Rối loạn thần kinh – tâm thần
9 Rối loạn về máu
10 ANA dương tính
11 ds-DNA dương tính
4 Điểm SLEDAI: ………
5 Điểm APACHE II: ………
6 Các biểu hiện khác: ………
………
Trang 6(Seizure) chuyển hoá
2 Loạn thần
(Pychosis)
Các khả năng và chức năng thường bị thay đổi như: Ảo giác, ý nghĩ không mạch lạc, không chặt chẽ rõ ràng Ý nghĩ kỳ dị không logic hoặc trạng thái căng thẳng Loại trừ do thận hoặc do thuốc
mơ hoặc tăng giảm hoạt động tâm thần vận động Loại trừ nguyên nhân do chuyển hoá hoặc do thuốc
8
5 Rối loạn thần
kinh sọ (Cranial
nerve dissoder )
Rối loạn thần kinh vận động hoặc chức năng của thần
6 Đau đầu Lupus
Ban mới xuất hiện lần đầu hoặc tái phát dạng ban viêm 2
16 Loét niêm mạc Xuất hiện lần đầu hoặc tái phát của loét miệng, mũi, sinh 2
Trang 7Đau ngực cùng với ít nhất một trong các dấu hiệu: Tiếng
cọ màng tim, biểu hiện tràn dịch màng ngoài tim trên siêu âm hoặc trên điện tâm đồ
21 Tăng ds-DNA ds-DNA là chỉ số đánh giá hoạt động của SLE
> 25% hoặc trên khoảng giới hạn bình thường của test
2
23 Giảm tiểu cầu
Trang 8Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Toàn
Trang 9Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc tới tr-ờng Đại học Y Hà Nội, là nơi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
PGS TS Nguyễn Đạt Anh – Chủ nhiệm khoa cấp cứu – ng-ời Thầy đã tận tình giúp đỡ, truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức quý báu cũng nh- trực tiếp h-ớng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi vô cùng trân trọng ghi nhận và biết ơn sự chia sẻ khó khăn, giúp đỡ về vật chất và tinh thần của những ng-ời trong gia đình và bạn bè thân thiết, giúp tôi hoàn thành khoá học
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2011
BS Nguyễn Văn Toàn
Trang 10ARA American Rhematism Association
SLE Systemic Lupus Erythematosus
SLEDAI Systemic Lupus Erythematosus Disease activity Index
TC Số lượng tiểu cầu
RNA Ribonucleic acid
Trang 11Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) –
mãn tính, gặp ở mọi đối tượng, chưa rõ nguyên nhân và thường diễn biến trong thời gian dài[1],[3],[5],[7],[28],[31] Đặc trưng của bệnh là những đợt nặng lên và thuyên giảm diễn ra thất thường với dấu hiệu lâm sàng khác nhau, khó phát hiện Bệnh có thể dẫn đến tử vong
do cấp gây tổn thương đến các cơ quan như: thần kinh, tim mạch, hô hấp…[10],[16],[73] Đáng lo ngại nhất là đến nay bệnh vẫn chưa có thuốc chữa khỏi, thời gian sống của bệnh nhân ngắn từ khi phát hiện bệnh [6],[87]
Trên thế giới cách đây vài thế kỉ, bệnh đã được phát hiện và nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau Những con số tử vong lên đến báo động chiếm 50%, tiêu tốn nhiều tiền bạc và ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của người dân [58] Bệnh có thể gặp ở hầu hết các đối tượng và mọi độ tuổi khác nhau, nhưng phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ từ 15-50 tuổi chiếm 90% số ca mắc bệnh [7],[10],[12],[14],[18],[19] Với sự tiến bộ của y học hiện đại , việc điều trị bệnh đến nay đã thu được nhiều kết quả khả quan Số người tử vong chỉ còn khoảng 10% do được sử dụng các loại thuốc Corticoide và ức chế miến dịch khác[8],[25],[28]
Ở Việt Nam, từ năm 1970 LBĐHT đã được đề cập và quan tâm, với đánh giá là bệnh quan trọng hàng đầu trong nhóm bệnh hệ thống Collagen bởi tỉ lệ gặp là 60%, bằng 1/5 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Nổi bật là các tổn thương đa dạng ở các cơ quan[5],[19] Số bệnh nhân đến khám và điều trị SLE ở khoa Dị ứng – MDLS Bệnh viện Bạch Mai có số lượng tăng lên rõ rệt chiếm khoảng 1/3 số trường hợp điều trị nội trú với 400-500 người mỗi năm[8]
Trang 12Tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai số lượng bệnh nhân đến cấp cứu và điều trị thường biểu hiện ở đợt cấp với những tổn thương nặng ở nhiều tạng như thần kinh, hô hấp, tiết niệu…với nguy cơ tử vong cao Thái
độ điều trị như thế nào, dùng corticoide liều pulse, lọc máu, ….hay dùng corticoide liều thông thường Vấn đề này còn đang gây lúng túng cho các bác sĩ điều trị Dựa vào tiêu chí nào để quyết định điều trị?
Năm 1993 Trường Đại học Toronto Canada đã nghiên cứu và chỉ ra tính ưu việt của thang điểm SLEDAI trong đánh giá sự hoạt động của LBĐHT
Năm 2006 Glandman DD đã nghiên cứu trên 500 bệnh nhân LBĐHT thấy rằng thang điểm SLEDAI còn có giá trị dự báo tử vong
Ngoài thang điểm SLEDAI, hiện nay, có một số thang điểm khác đánh giá mức độ hoạt động của LBĐHT như: LAI, LACC, SLAM, BILAG…[44],[45],[86] Việc sử dụng thang điểm nào trên lâm sàng với mục đích đánh giá được toàn diện bệnh nhân một cách nhanh chóng từ đó giúp các bác sĩ có thái độ sử lý kịp thời hiện đang còn nhiều quan điểm lựa chọn
Thang điểm SLEDAI (SLE Disease activity Index) chúng tôi thấy có nhiều ưu điểm đó là nó đánh giá bệnh nhân toàn diện dựa trên đánh giá của chín hệ thống cơ quan của cơ thể: Thần kinh, tâm thần, hệ mạch, thận, …
Và hơn nữa nó đánh giá được bệnh nhân một cách nhanh chóng không quá
24 giờ sau vào viện
Để góp phần đánh giá tổn thương giúp chẩn đoán, tiên lượng và điều trị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống đợt cấp có hiệu quả
:
cứu tại khoa cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai
ban đỏ hệ thống đợt cấp
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Những vấn đề cơ bản về bệnh lupus ban đỏ hệ thống
1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh lupus ban đỏ hệ thống
(Lupus Systemic Erthematosus – SLE) đã được
mô tả trong một cuốn sách của HYPOCRATES ―Herpes esthiomenos‖ Thuật ngữ Lupus xuất hiện lần đầu tiên trong tạp chí ―Biography‖ của St.Martin từ thế kỷ X ―theo tiếng Latin: Lupus có nghĩa là chó sói‖, với tổn thương trên da giống vết chó sói cắn Cuối thế kỷ XII, Frugandi sử dụng từ lupus để phân biệt các tổn thương trên da ở đùi, cẳng chân với ung thư Từ thế kỷ XIX, Biette (1983), Hebra (1945), Cazenave (1851) đã mô tả biểu hiện da là dày sừng, teo
da Từ đó có danh từ LE (Lupus Erythematosus)[3],[58]
Kaposi (1872) mô tả các triệu chứng điển hình của bệnh với các tổn thương nội tạng: Da, viêm phổi, đau khớp, sưng hạch Osler phân biệt hai dạng bệnh: Dạng đĩa có tổn thương da đơn thuần và dạng lan toả có biểu hiện da và nhiều nội tạng Ông cũng nhận thấy đặc trưng của LBĐHT là các đợt tái phát cấp tính với các đợt lui bệnh
Emmanuel (1872-1946) mô tả viêm nội tâm mạc ở bệnh nhân LBĐHT
có đau khớp, ban đỏ Năm 1906 Wasseman test trong chẩn đoán giang mai được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán LBĐHT
Năm 1941 Klemperer đưa ra khái niệm ―bệnh Collagen‖ để chỉ nhóm bệnh có những biến đổi chung như thấp tim, viêm khớp dạng thấp, SLE, viêm da cơ, xơ cứng bì
Trang 14Năm 1948 Hargraves tìm ra tế bào LE tạo cơ sở quyết định những hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của LBĐHT Sau đó nhiều tự kháng thể được phát hiện Năm 1957, Seligman tìm ra kháng thể kháng DNA bằng kính hiển
vi miễn dịch huỳnh quang và mở ra hướng nghiên cứu LBĐHT là một bệnh thuộc nhóm tự miễn
Từ năm 1958 liệu pháp Corticoide được ứng dụng trong điều trị bệnh LBĐHT, tạo ra những bước tiến mới trong điều trị nhằm kéo dài cuộc sống người bệnh và trở thành thuốc chủ yếu trong điều trị bệnh LBĐHT
Năm 1944, tiêu chuẩn chẩn đoán LBĐHT được khởi xướng, đến năm
1971 hội thấp khớp học Hoa Kỳ (ARA nay là ACR) đưa ra bảng gồm 14 tiêu chuẩn Năm 1982 được rút gọn còn 11 tiêu chuẩn và được sửa lại năm 1997 gồm 11 tiêu chuẩn được sử dụng để chẩn đoán bệnh LBĐHT đến ngày nay[1],[3],[5],[6],[7],[10],[14],[15],[21],[25],[58],[61]
Trang 15Sơ đồ căn bệnh học của LBĐHT
Biến đổi DNA, Nucleo-protein
- DNA virus + DNA bệnh nhân
Phức hợp kháng nguyên-kháng thể
Lắng đọng KN-KT + bổ thể
Các tổn thương ở da và phủ tạng
Trang 16Quá trình tự tiêu tế bào, một trong những hiện tượng đầu tiên là sự gãy các sợi chromatin dẫn đến sự sản xuất các thành phần nucleosome của phân tử histon (H1, H2A, H2B, H3 và H4) được bao quanh bởi chuổi kép của từ 150 – 180 cặp base DNA của mỗi hai vòng của xoắn ốc Các nucleosome nhanh chóng bộc lộ trên bề mặt tế bào bị tổn thương Một số được điều hoà trong môi trường ngoại bào, một số khác bị thực bào cùng với các tế bào tổn thương bởi các đại thực bào các phức hợp tạo nên do các tự kháng nguyên và tự kháng thể tạo ra trong tự tiêu tế bào, dẫn đến hiện tượng viêm trung gian qua hoạt hoá bổ thể ở tổ chức mà nó lắng đọng Điều này giải thích sự giảm sút CH50 và tiêu thụ bổ thể tăng trong giai đoạn tiến triển bệnh Sự thiếu hụt dị hợp tử C4 giảm khả năng bệnh lý do loại bỏ các phức hợp miễn dịch và tăng nguy cơ viêm tại tổ chức
Do đó bệnh LBĐHT có thể xem như bệnh mạch máu hệ thống được khởi động bởi phức hợp miễn dịch Các thành phần tự kháng nguyên của phức hợp dẫn đến phản ứng tự miễn đối với các cấu trúc nucleosome do hiện tượng tự tiêu tế bào hàng loạt đem lại Trong lupus ban đỏ hệ thống và các bệnh tự miễn khác, hệ miễn dịch mất khả năng phân biệt lạ-quen Nó quay ra chống lại chính mình bằng cách sinh ra các kháng thể chống lại tế bào của hầu hết các cơ quan Kháng thể chống kháng nguyên của cơ thể được sản suất và phản ứng kháng nguyên – kháng thể tạo thành phức hợp miễn dịch,
có thể kết hợp với bổ thể lắng đọng tại tổ chức: Thành mạch máu, màng đáy cầu thận,… hoặc lưu hành trong máu Chính phức hợp miễn dịch này là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt các hiện tượng bệnh lý: Kích thích phản ứng viêm, giải phóng các hoá chất trung gian, hoạt hoá các tế bào viêm…gây hậu quả là tổn thương các tế bào, các cơ quan[4],[5],[10],[15],[20],[41],[50]
Trang 171.1.2.1 Các yếu tố bệnh nguyên
Mặc dù chưa tìm ra được chính xác yếu tố gây bệnh của Lupus ban
đỏ hệ thống, song người ta thấy một số yếu tố sau làm khởi phát hoặc làm tăng mức độ nặng của bệnh
- Yếu tố di truyền: Một số nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỉ lệ mắc LBĐHT ở người da đen cao hơn ở người da trắng Harley (2002) thấy có sự khác biệt về di truyền liên quan đến LBĐHT giữa các nhóm bệnh nhân người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Âu[1],[12],[14],[21],[58]
- Giới và hoormon giới tính: Bệnh gặp nhiều nhất ở phụ nữ, nhất là phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ và cho con bú Hiếm gặp trước tuổi dậy thì và sau thời kỳ mãn kinh Một số nghiên cứu cho thấy ở nồng độ sinh lý, estrogen có tác dụng tăng sinh tế bào B, tăng sản xuất kháng thể Ngược lại, liều cao có tác dụng ức chế đáp ứng của tế bào lymphoT[1],[2],[11]
- Thuốc: Các thuốc điều trị lao (INH, Rifampicin…), thuốc hạ huyết
áp (Hydralazin, Procainamide…), thuốc chống co giật(Phenintonin), thuốc tránh thai….có khả năng gây ra bệnh LBĐHT[3],[4],[7],[35]
- Yếu tố môi trường: Ánh sáng mặt trời, đặc biệt là tia cực tím(UV) làm khởi phát và làm tăng nặng bệnh Xuất hiện ban trên da, thay đổi cấu trúc DNA dẫn đến sản xuất các tự kháng thể [1],[4] Hoá chất được coi là yếu tố môi trường không nhiễm khuẩn trong bệnh nguyên của bệnh LBĐHT
- Yếu tố vi khuẩn, virus cũng được đề cập đến trong bệnh sinh của LBĐHT Các nghiên cứu cho thấy nhiễm khuẩn chỉ có vai trò khởi phát, tạo điều kiện thuận lợi phát sinh bệnh[41],[53]
Trang 181.1.2.2 Rối loạn miễn dịch thể dịch
Do nguyên nhân nào đó, cơ chế kiểm soát miễn dịch của bản thân
bị phá vỡ Các kháng nguyên trở thành lạ đối với cơ thể, sinh ra các tự kháng thể chống lại các kháng nguyên đó Hai loại tự kháng thể đặc hiệu với LBĐHT là tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép DNA (Anti ds-DNA)có
tỉ lệ gặp là 70-80% nhưng tính đặc hiệu cao hơn và tự kháng thể kháng kháng nguyên Smith (Anti-Sm) có độ nhạy 30-34% nhưng rất đặc hiệu Ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân (ANA) có tỉ lệ gặp rất cao 98 -100% nhưng độ đặc hiệu thấp chỉ khoảng 30%, kháng phức hệ Protein gắn ARN, kháng histon, kháng Cardiolipin, kháng kháng nguyên màng hồng cầu Sự kết hợp tự kháng thể và kháng nguyên tương ứng tạo nên phức hợp miễn dịch, phức hợp miễn dịch này lắng đọng tại tổ chức gây phản ứng viêm, tắc hẹp, hoại tử mạch máu tại đó Phức hợp miễn dịch không qua được cầu thận mà bị lắng đọng tại màng đáy gây tổn thương cầu thận Trong máu, phức hợp miễn dịch được thanh thải bởi hệ võng nội
mô được phát hiện bằng nhiều kỹ thuật Phức hợp miễn dịch hoạt hoá và
cố định hệ thống bổ thể trên màng tế bào đích gây tiêu tế bào đặc hiệu[2],[21],[22],[24],[25],[68],[88], [89]
1.1.2.3 Rối loạn miễn dịch tế bào
Rối loạn điều hoà miễn dịch tế bào trong bệnh LBĐHT do số lượng tế bào Lympho TCD4 và TCD8 giảm nhưng hoạt tính của tế bào Lympho T giúp đỡ (T helper) và T ức chế (T suppussor) biến đổi theo hai hướng khác nhau T helper tăng, T surppessor giảm Sự giảm sản xuất IL-2 và rối loạn điều hoà miễn dịch tế bào dẫn đến tăng sinh, tăng hoạt hoá Lympho B, sản xuất kháng thể chống lại các kháng nguyên của cơ thể Sự tăng sinh lympho
Trang 19B làm phì đại các tổ chức như lách to, hạch to, thâm nhiễm các tế bào viêm (Đại thực bào, monocyte, bạch cầu hạt…)[4],[11],[24],[67]
1.1.3 Biến đổi bệnh lý của các cơ quan nội tạng trong LBĐHT
1.1.3.1 Tổn thương hệ tim mạch
Viêm màng ngoài tim thường gặp nhất 30%, viêm cơ tim 10%, viêm nội tâm mạc Libman – Sacks là hiếm Chủ yếu xảy ra van hai lá và van động mạch chủ[13]
-Tổn thương tim: Cả 3 lớp của tim đều có biểu hiện tổn thương, trong
đó viêm màng ngoài tim có tần xuất cao nhất
+ Viêm ngoại tâm mạc: Biểu hiện trên lâm sàng chiếm 20-30%, siêu
âm phát hiện khoảng 40% và trên giải phẫu bệnh 60-70% Tràn dịch màng ngoài tim hay gặp nhất với dịch màu vàng chanh hoặc màu trong xét nghiệm thấy có lymphocyte, tế bào đa nhân… Tiên lượng xấu ở bệnh nhân có biểu hiện chèn ép tim do tràn dịch màng ngoài tim Hội chứng Pick (Viêm màng ngoài tim co thắt) rất hiếm gặp[13],[15][21]
+ Viêm cơ tim: Có biểu hiện rối loạn nhịp, block dẫn truyền Ít gặp loạn nhịp hoàn toàn Viêm cơ tim có thể phát hiện nhờ siêu âm với tỉ lệ gặp khoảng 5%
+ Viêm nội tâm mạc: Trên giải phẫu bệnh từng gặp thể xơ trai Lâm sàng có thể thấy tiếng thổi ở ổ van 2 lá hoặc ở ổ van động mạch chủ kèm theo nguy cơ bị Osler tăng cao Người ta nhận thấy có mối liên quan giữa viêm nội tâm mạc và xuất hiện kháng thể kháng phospholipide
- Tổn thương mạch
Trang 20+ Tổn thương mạch vành: Nhồi máu cơ tim với biểu hiện cơn đau thắt ngực trên bệnh nhân Lupus Đây là tai biến gây tỉ lệ tử vong cao[6]
+ Hội chứng Raynaud chiếm 20-30%, có thể có biến chứng loét đầu chi + Huyết khối tĩnh mạch: 8-20% các trường hợp dễ gây tắc mạch hay gặp ở vùng tĩnh mạch chi, tĩnh mạch tạng, tĩnh mạch chủ [14]
1.1.3.2 Tổn thương hệ hô hấp
Tổn thương phổi trên X-Quang
- Viêm màng phổi: Tổn thương thường gặp là tràn dịch màng phổi (50%) một bên hay hai bên, đôi khi mở đầu bệnh lý gây ho và đau ngực Chọc hút màng phổi cho thấy dịch viêm giàu albumin và tế bào lympho, đôi khi chứa kháng thể kháng nhân Thường gặp trong thời kỳ tiến triển của bệnh, là tràn dịch màng phổi nước thanh tơ, số lượng dịch thường không nhiều nên ít gây ra hiện tượng khó thở trên lâm sàng [14],[60]
- Tổn thương nhu mô: Khó phát hiện và có biểu hiện bệnh cảnh trên lâm sàng rất khác nhau:
Trang 21+ Viêm phổi Lupus không nhiễm trùng: Triệu chứng về hô hấp rất ồn
ào và cấp tính, nhưng tỉ lệ gặp không cao (2-10%)
+ Chảy máu trong phế nang: Đây là tổn thương rất nặng, gây ra suy
hô hấp cấp và thường dẫn tới tử vong Hemoglobin giảm rất nhanh và rất nhiều, X-quang phổi có hình ảnh ―phổi trắng‖ trong cơn suy hô hấp cấp (poumon blanc)
+ Hay gặp hơn cả là rối loạn về chức năng hô hấp, giảm mức khuếch tán CO2, hội chứng phổi co thắt
+ Tình trạng xơ kẽ lan toả: Trên lâm sàng và xét nghiệm biểu hiện là những đường mờ đều trong phổi (Tỉ lệ gặp khoảng 3%)
- Tăng áp động mạch phổi[14],[70]
Hiện tượng này được Haupt và CS ghi nhận khi mổ tử thi cho 120 trường hợp LBĐHT, thấy có 6 trường hợp tăng áp động mạch phổi mà không thấy tổn thương nhu mô cũng như huyết khối động mạch phổi Có lẽ hiện tượng này kín đáo, ít ảnh hưởng tới bệnh nhân dẫn tới chẩn đoán và điều trị ít được quan tâm Ngày nay, với các phương tiện hiện đại như siêu âm… có thể xác định sớm tăng áp động mạch phổi
1.1.3.3 Tổn thương thận
Tổn thương thận là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, thường gặp nhất là tổn thương cầu thận Tần xuất gặp là 40-60% Được phát hiện bằng sự có mặt của Protein trong nước tiểu Nếu sinh thiết thận thì tỉ lệ tổn thương thận còn cao hơn nữa (70-80%) Tổn thương này hay gặp trong những năm đầu của bệnh Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp người ta thấy các lắng đọng IgG, C3 phân
Trang 22tán khắp cầu thận, trong các thể bệnh nặng còn thấy cả lắng đọng fibrinogen
[3],[3], [9],[29],[57]
- Tổn thương cầu thận được phân loại như sau:
Loại I: Thận bình thường về mặt quang học, không có lắng đọng trong
miễn dịch huỳnh quang
Loại II: Viêm cầu thận lớp màng giữa mao mạch đơn thuần
Loại III: Viêm cầu thận đoạn và ổ tăng sinh
Loại IV: Viêm cầu thận lan toả tăng sinh
Loại V: Viêm cầu thận ngoài màng
Loại VI: Viêm cầu thận xơ hoá
Trên thực tế lâm sàng, tổn thương thận được xếp vào các hội chứng:
Hội chứng thận hư[5]
Biểu hiện: Phù to toàn thân
Protein niệu > 3,5g/24h Protein máu giảm dưới 60g/l, trong đó Albumin giảm dưới 30g/l Tăng Lipid (Triglycerid, Cholesterol)
Có hạt mỡ lưỡng chiết quang trong nước tiểu
Hội chứng viêm cầu thận cấp [5]
Biểu hiện bằng đái ra máu đại thể hoặc vi thể, đái ít hoặc vô niệu kèm
theo ure, creatinin máu tăng nhanh trong thời gian ngắn, huyết áp tăng Nếu
không sử trí kịp thời sẽ suy thận cấp dẫn đến tử vong nhanh chóng
Suy thận mạn: Biểu hiện huyết áp tăng cao, thiếu máu, phù,
creatinin máu tăng cao tuỳ theo mức độ suy thận[4],[5]
Trang 23Tổn thương bàng quang: Là một tổn thương rất hiếm gặp, với biểu hiện chủ yếu là viêm bàng quang (thành bàng quang dày lên) Thương tổn này thường đi kèm với các biểu hiện ở hệ tiêu hoá Đây là loại tổn thương nặng, với tiên lượng tử vong cao khi xuất hiện[5],[9],[29]
Hình ảnh tổn thương thận lupus
1.1.3.4 Tổn thương hệ thần kinh tâm thần
- Tổn thương thần kinh: Hay gặp trên lâm sàng là co giật không rõ nguyên nhân, những cơn động kinh (15%) có đáp ứng tốt với các thuốc
Trang 24chống co giật và với Corticoide Sự suy giảm hoạt động trung ương chủ yếu
do bán cầu đại não với biểu hiện liệt nửa người Ít khi có biểu hiện thân não hoặc tuỷ sống gây bệnh cảnh viêm tuỷ ngang riêng biệt hay phối hợp với viêm thần kinh thị giác (nhìn đôi, nhìn mờ…)
Những biểu hiện thần kinh trung ương ít gặp, có thể gặp dị cảm ngoài
da, đau đầu mất ngủ, suy giảm trí nhớ, hội chứng màng não (Viêm màng não Lupus là viêm màng não nước trong)[4],[37],[52],[71]
- Tổn thương tâm thần:
Hay gặp nhất là hoang tưởng, ảo giác
Cần phân biệt với các biến chứng của những rối loạn chuyển hoá hay tăng huyết áp, tác dụng phụ của các loại thuốc trong quá trình điều trị như: Corticoide…[4],[52]
Các tế bào máu lưu hành thường chịu tác động trực tiếp của tổn thương
tự miễn do sự sản xuất tự kháng thể chống lại các thành phần kháng nguyên màng tế bào Ở đây, cả hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu đều có thể trở thành kháng nguyên đích cho đáp ứng miễn dịch tự miễn[5],[15],[18],[27]
Trên lâm sàng có thể phát hiện tự kháng thể kháng hồng cầu bằng nghiệm pháp Coombs trực tiếp dương tính tỉ lệ gặp 60% Trong bệnh Lupus, thường gây ra biểu hiện thiếu máu trên lâm sàng và tự kháng thể kháng tiểu cầu bằng kỹ thuật ELISA, hoặc xác định kháng nguyên đích trên tổ chức bằng kỹ thuật Western blot Tuy nhiên, không phải mọi bệnh nhân với biểu hiện tan máu hoặc giảm tiểu cầu đều dương tính với nghiêm pháp Coombs hoặc kháng thể kháng tiểu cầu và ngược lại[18],[27],[56]
Trang 25Một dấu hiệu khá phổ biến và có giá trị trong chẩn đoán bệnh LBĐHT, được phát hiện năm 1948 bởi Hargraves và cộng sự, là sự có mặt của tế bào LE (tế bào lupus đỏ, tế bào Hargraves) Tế bào LE thực chất là bạch cầu đa nhân thực bào phức hợp nhân tế bào (kháng thể kháng nhân) Tế bào LE thường được tìm thấy trong tuỷ xương nhưng có thể tìm thấy ở máu ngoại vi [3], [56]
Thực ra không phải mọi bệnh nhân LBĐHT đều phát hiện được tế bào
LE Mặt khác, tế bào LE không phải chỉ có ở bệnh nhân LBĐHT mà còn được phát hiện ở một số bệnh tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, các bệnh có tổn thương tổ chức liên kết lan toả, viêm gan, viêm đại tràng thể loét
và do sử dụng một số loại thuốc như hydralazin[3]
1.1.3.6 Rối loạn đông máu
Sự xuất hiện của các chất kháng đông lupus dẫn đến hậu quả là rối loạn đông máu với thời gian đông máu kéo dài hoặc thậm trí xuất huyết trên lâm sàng Các chất kháng đông lupus khá đa dạng, có thể kháng các yếu tố đông máu đặc hiệu như yếu tố VIII, yếu tố IX và thường kèm theo xuất huyết trên lâm sàng Nếu kèm với giảm tiểu cầu, giảm Prothrombin máu thì xuất huyết càng trầm trọng hơn Tuy nhiên phức hợp miễn dịch lắng đọng tại thành mạch máu có thể hoạt hoá quá trình đông máu dẫn đến hình thành các cục máu đông và có thể gặp tắc mạch do huyết khối[3],[18],[27],[56]
1.1.3.7 Biến đổi bệnh lý của các yếu tố thể dịch
Yếu tố đặc trưng nhất trong các rối loạn bệnh học của tổn thương tự miễn là sự xuất hiện của các tự kháng thể Moore và Lutz (1944) đã quan sát thấy hiện tượng dương tính giả với huyết thanh chẩn đoán giang mai ở nhiều bệnh nhân LBĐHT Haserick (1950) chứng minh được hiện tượng này xảy
ra do trong máu bệnh nhân LBĐHT có một yếu tố dịch thể lưu hành – một gamaglobulin, ông gọi là ―yếu tố LE‖ Elliot và Mathieson(1953) đã nhận
Trang 26thấy hoạt tính bổ thể trong huyết thanh bệnh nhân LBĐHT giảm thấp Các phát hiện trên đây chỉ ra rằng trong huyết thanh bệnh nhân LBĐHT có kháng thể lưu hành đã gây ra sự kết hợp kháng nguyên-kháng thể, do đó mà
bổ thể bị tiêu thụ Suy luận này được Cepellini và Seligmann (1957) khẳng định khi tìm ra kháng thể chống DNA bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
ở bệnh nhân LBĐHT Năm 1966, Tan và cộng sự đã chứng minh rằng đó là một kháng thể tự sinh Các phát hiện này đã mở ra một tầm nhìn mới cho việc nghiên cứu LBĐHT
Trong LBĐHT, có thể xuất hiện nhiều tự kháng thể đặc hiệu với các kháng nguyên khác nhau của bản thân Hai loại tự kháng nguyên có tính đặc hiệu của bệnh là tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép của DNA (anti ds_DNA) và tự kháng thể kháng màng tế bào (anti_Sm) Vì vậy, sự xuất hiện của hai tự kháng thể này là các tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán xác định bệnh LBĐHT Các tự kháng thể khác biểu hiện tổn thương các cơ quan tương ứng như: Kháng thể kháng nhân, kháng các phức hệ pratin gắn với RNA, kháng histon, kháng cardiolipin của thành mạch máu và cơ tim, kháng kháng nguyên màng hồng cầu, tiểu cầu, lympho, kháng kháng nguyên màng tế bào thần kinh cũng như yếu tố dạng thấp [2], [3], [5], [22], [24], [27] Điều này đã tạo nên tính đa dạng về lâm sàng trong LBĐHT
Sự kết hợp giữa tự kháng thể với kháng nguyên tương ứng sẽ tạo nên phức hợp miễn dịch Các phức hợp miễn dịch này có thể lắng đọng tại tổ chức và kích hoạt phản ứng viêm, giải phóng các chất hoá học trung gian Phức hợp miễn dịch không được lọc qua cầu thận mà lắng đọng ở màng đáy gây tổn thương cầu thận[2],[9]
Mặt khác, phức hợp miễn dịch sẽ hoạt hoá hệ thống bổ thể, dẫn đến cố định bổ thể trên màng tế bào đích với hậu quả là tiêu huỷ tế bào đích Dù với
Trang 27cơ chế hoạt hoá như thế nào thì trong quá trình tiến triển của bệnh bổ thể cũng bị tiêu thụ Vì vậy định lượng phức hệ bổ thể còn lại có thể giúp đánh giá mức độ tiến triển của bệnh
1.2 Triệu chứng lâm sàng của LBĐHT
1.2.1 Triệu chứng ban đầu
Các trường hợp điển hình thường có biểu hiện: Sốt, mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân, tốc độ máu lắng tăng cao Kèm theo biểu hiện ban hình cánh bướm ở mặt, nhạy cảm ánh sáng, đau khớp, rụng tóc, nước tiểu có protein,
có trụ niệu….[1],[7],[15],[18],[32]
1.2.2 Biểu hiện thời kỳ toàn phát
Biểu hiện thành các đợt tiến triển cấp tính nối tiếp nhau, đợt sau nặng hơn đợt trước với tần xuất, mức độ khác nhau tuỳ vào mỗi bệnh nhân
1.2.2.1 Toàn thân: Hầu hết các bệnh nhân LBĐHT đều có sốt, thường là sốt
dai dẳng không rõ nguyên nhân, không có tính chu kỳ, ít đáp ứng với thuốc
hạ sốt Có thể kèm theo gầy sút cân, mệt mỏi toàn thân, kém ăn ở đợt cấp[3],[10],[11],[64]
1.2.2.2 Tổn thương da, niêm mạc:
- Ban đỏ hình cánh bướm ở mặt: gặp khoảng 50% số bệnh nhân Với tính chất ban dạng dát đỏ có thể sờ thấy, có vảy mịn lan từ hai gò má lên mũi
và cánh mũi [3],[11]
Trang 28Hình ảnh tổn thương ban đỏ hình cánh bướm trên mặt
- Loét niêm mạc (40%): Miệng, họng, hầu, lưỡi, sinh dục
- Rụng tóc không tìm thấy nguyên nhân (40%) Tóc rụng rất nh iều, có thể hói thành từng mảng
- Hội chứng Raynaud: Gặp khoảng 20%.[3],[5],[11],[64]
Trang 29
Hình ảnh Hội chứng Raynaud
Hình ảnh tổn thương ban dạng đĩa
1.2.2.3 Tổn thương cơ, xương, khớp
- Đau, viêm một hoặc nhiều khớp (gặp 85% trường hợp), di chuyển từ khớp này sang khớp khác, tiến triển thành từng đợt Đau cơ, loãng xương cục bộ gây đau vai, cổ háng thường gặp khi sử dụng corticoide kéo dài
- Hoại tử xương ( 15%): Là hoại tử vô trùng, thường gặp ở đầu xương hoặc lồi cầu xương đùi, thân xương chày…mà không phải do dùng corticoide
- Viêm cơ, loạn dưỡng cơ ( 40%)[21],[39],[54],[77]
Trang 30Hình ảnh hoại tử chỏm xương đùi trong lupus
1.2.2.4 Tổn thương thận
Là yếu tố tiên lượng hàng đầu đối với bệnh nhân LBĐHT, nhưng không phải lúc nào cũng tương ứng với bệnh cảnh lâm sàng Thường gặp viêm cầu thận có phù, đái ít, Protein niệu, trụ niệu Đợt cấp thường có hội chứng cầu thận cấp, hội chứng thận hư và suy thận Tổn thương thận là yếu
tố tiên lượng quan trọng của bệnh, cần làm sinh thiết thận xác định mức độ tổn thương
Suy thận ít gặp vì nó chỉ hiện diện ở 10% trường hợp LBĐ Thật vậy, tổn thương thận có lẽ nhiều hơn, nhưng thường im lặng trên lâm sàng, chỉ có protein niệu (khoảng 50% LBĐ) Mỗi khi phải xuất hiện thì tổn thương thường hiện diện ngay từ đầu tiên và nó là điều kiện tiên lượng Không có mối liên quan giữa độ nặng của tổn thương toàn thân và tổn thương tại thận Tổn thương thận dẫn đến bởi tăng huyết áp, tăng creatinin máu, protein niệu
và hồng cầu niệu vi thể với tăng bạch cầu niệu Sinh thiết thận được chỉ định khi bệnh nhân có tăng huyết áp hiện diện trong bối cảnh lupus, hay dấu hiệu sinh học của bệnh thận: protein niệu và hồng cầu niệu không giải thích được bởi các nguyên nhân khác, sự tăng creatinin máu[9],[19],[20],[25],[29]
Trang 311.2.2.5 Biểu hiện ở máu và tổ chức tạo máu
Thiếu máu huyết tán ( 50%), xuất huyết giảm tiểu cầu ( 50%) trong đó có 10% có tiểu cầu giảm < 50G/l Có thể gan, lách, hạch to, rối loạn đông máu, nguy cơ tăng đông gây huyết khối động mạch, tĩnh mạch[56]
1.2.2.6 Tổn thương hệ tim mạch
Hay gặp viêm màng ngoài tim có tràn dịch màng tim (48%) Thường gặp tràn dịch mức độ vừa hoặc ít, ít gặp tràn máu màng tim Nhịp nhanh xoang cũng hay gặp ở bệnh nhân LBĐHT Viêm màng ngoài tim co thắt, viêm cơ tim, viêm nội tâm mạc (Hội chứng Kibman-Sack) hiếm gặp hơn Suy vành, viêm tắc động mạch, tĩnh mạch chi có thể xảy ra [4]
1.2.2.7 Tổn thương hệ hô hấp: Viêm màng phổi (45%), tràn dịch màng
phổi (24%), viêm phổi lupus (29%) chủ yếu do nhiễm trùng Viêm phổi kẽ dẫn đến xơ phổi đôi lúc xảy ra Tăng áp động mạch phổi gặp 4-15% Trong bệnh LBĐHT có hội chứng antiphospholipide gặp với tỉ lệ cao hơn Hội chứng suy hô hấp và chảy máu phế nang thường gây tử vong nhanh là biểu hiện nặng nhất ở bệnh LBĐHT [11],[23],[24]
Hình ảnh tổn thương viêm phổi
Trang 321.2.2.8 Tổn thương hệ thần kinh, tâm thần: Là tổn thương hiếm gặp
(2-10%), chủ yếu là biểu hiện đau đầu, co giật kiểu động kinh toàn thể hoặc cục
bộ Có thể gặp hội chứng thần kinh khu trú, viêm màng não nước trong, viêm thần kinh ngoại vi[37],[52],[71],[76]
1.2.2.9 Tổn thương hệ tiêu hoá
Hay gặp nôn, ỉa chảy, ậm ạch, đầy hơi, khó tiêu…Hiếm gặp thủng ruột, giảm nhu động ruột gây giãn quai ruột, viêm tuỵ cấp, viêm tuyến nước bọt Chảy máu tiêu hóa gặp 1,5-6,3% trong đó có nguyên nhân do thuốc (Corticoide, Aspirin…) Có thể gặp gan to (8-12%), nhưng ít khi thấy gan to quá 3cm dưới bờ sườn Các xét nghiệm chức năng gan chủ yếu ở giới hạn bình thường [23]
1.2.2.10 Các biểu hiện ở mắt
Có thể gặp viêm võng mạc (5%), viêm kết mạc xung huyết hoặc tắc động mạch võng mạc, viêm thần kinh thị giác
1.2.2.11 Tổn thương về sản phụ khoa
- Rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh rất hay gặp
- Tỷ lệ thai chết ở bệnh nhân LBĐHT cao hơn nhóm ở cộng đồng Theo Jungers và cộng sự thì hiện tượng thai chết gặp chủ yếu ở bệnh nhân trong giai đoạn tiến triển của bệnh (23%), không thấy trường hợp nào xảy ra trên bệnh nhân bệnh đã ổn định Nghiên cứu của Carreras và cộng sự thì nguyên nhân gây ra thai chết lưu không chỉ do tổn thương thận mà còn thấy
sự xuất hiện kháng thể chống đông lưu hành trong máu mẹ thuộc type kháng prothombinase[3],[15],[19]
1.2.2.12 Các biểu hiện hiếm gặp khác
- Viêm thanh quản
- Viêm tuyến giáp
Trang 33- Viêm bàng quang phối hợp với viêm ruột
- Hội chứng Sharp: Có sự pha trộn giữa xơ cứng bì, LBĐHT, viêm da
cơ, viêm khớp dạng thấp với biểu hiện rất đa dạng: hội chứng Raynaud, đau
cơ, yếu cơ, ngón tay sưng to hình khúc dồi, da xơ teo căng bóng…
* Tiểu cầu giảm
- Tốc độ máu lắng: Tăng và thường tăng rất cao (92%)
- Điện di Protein huyết thanh: Gamma Globulin tăng (86%)
- Nước tiểu: Phần lớn bệnh nhân LBĐHT có thay đổi về xét nghiệm nước tiểu với biểu hiện tổn thương thận thường gặp như trụ niệu, protein niệu, đái máu vi thể và có bạch cầu niệu mà không phải nguyên nhân do nhiễm trùng[2],[3],[11]
1.3.2 Các xét nghiệm đặc hiệu
- Tế bào Hargraves (80%) là một tiêu chuẩn chẩn đoán LBĐHT mà tính chắc chắn và đặc thù không thể chối cãi Đó là bạch cầu đa nhân được tìm thấy trong máu hoặc tuỷ xương mà trong bào tương của chúng có chứa những mảnh nhân của các tế bào khác đã bị phá huỷ[27]
- Kháng thể kháng nhân ANA dương tính: Là xét nghiệm có độ nhậy cao nhưng độ đặc hiệu không cao đối với bệnh LBĐHT Kháng thể kháng
Trang 34chuỗi kép (Anti ds_DNA) và kháng thể kháng Smith (Anti Sm) tương đối đặc hiệu đối với LBĐHT
- Kháng thể kháng DNA chuỗi kép (ds-DNA) rất đặc hiệu trong LBĐHT, không những có giá trị trong chẩn đoán mà còn có giá trị trong tiên lượng
- Kháng thể kháng DNA chuỗi đơn (ss DNA): ít có giá trị
- Kháng thể kháng RNA[67],[79]
1.3.3 Các xét nghiệm khác
- Giảm bổ thể C3, C4, CH50 có giá trị chẩn đoán, đặc biệt ở giai đoạn cấp hoặc lupus thận[79]
- Giảm tỷ lệ tế bào lymphoT so với tế bào lymphoB
- sGOT, sGPT tăng không liên quan đến bệnh khác ở gan Khi bệnh nhân bị viêm tuyến nước bọt, viêm tụy cấp có biểu biện Amylase tăng cao Lupus thận có Protein niệu, Ure, Creatinin máu tăng, Albumin máu giảm, rối loạn điện giải
1.4 Chẩn đoán LBĐHT
Do các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của LBĐHT rất phong phú
và đa dạng nên việc đặt ra tiêu chuẩn chẩn đoán đã được nhiều tác giả đề cập Năm 1958 Wilsow đề xuất các tiêu chuẩn chủ yếu và thứ yếu cho LBĐHT với việc nhấn mạnh viêm màng phổi Harvey (1960) trình bày tiêu chuẩn chẩn đoán LBĐHT chủ yếu dựa vào test tế bào LE Tháng 5/1971, hội khớp học
Mỹ (ARA) công bố 14 tiêu chuẩn chẩn đoán LBĐHT và năm 1982 được điều chỉnh lại còn 11 tiêu chuẩn Được cải tiến lại năm 1997: Tiêu chuẩn chẩn đoán ACR (1997)[1],[3],[5],[7],[10],[18],[19],[20],[26],[39], [73]
Chẩn đoán bệnh LBĐHT dựa theo bảng gồm 11 tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ-ACR năm 1997 Bệnh nhân có ≥ 4/11 tiêu chuẩn
Trang 35riêng rẽ hoặc đồng thời trong khoảng thời gian quan sát được chẩn đoán LBĐHT với độ nhạy 98% độ đặc hiệu 96%
Tiêu chuẩn chẩn đoán LBĐHT theo ACR1997
- Có Protein niệu > 0.5g/24h, hoặc
- Đái máu (Có >5 hồng cầu/1vi trường), hoặcư
- Đái mủ (có >5 tế bào BC/1vi trường), hoặc
- Trụ niệu, hoặc
- Suy thận
8 Tổn thương thần kinh-tâm thần (không do các nguyên nhân khác)
9 Rối loạn về máu:
- Thiếu máu, tan máu, hoặc
- Giảm bạch cầu < 4000/mm3, hoặc
- Giảm tiểu cầu < 100.000/mm3, hoặc
11 Kháng thể kháng nhân (+) (không do thuốc)
Chẩn đoán (+) khi có 4 tiêu chuẩn trở lên
Trang 361.5 Đánh giá độ nặng của LBĐHT
Trong điều trị, việc đánh một bệnh nhân Lupus ban ban đỏ hệ thống
có phải tiến triển đợt cấp không, mức độ nặng của bệnh như thế nào để quyết định điều trị tích cực là rất quan trọng
Hiện nay, có một số thang điểm thông dụng để đánh giá mức độ hoạt động và độ nặng của bệnh LBĐHT [30],[32],[33],[34],[42],[44],[45],[49]
- SLEDAI SLE Disease activity Index– 1993– Trường ĐH Toronto Canada
- LAI The Lupus Activity Index – Jonh Hopkins
- SLAM Systemic Lupus Activity Measure - 1989
- BILAG The Brish Isles Lupus Assessment Group – 1988 – Hội
da liễu Anh
So sánh các thang điểm
BILAG 30 ngày Phân độ A-E của 8 hệ cơ quan, có 84 tiêu chuẩn
SLAM 30 ngày Phân loại Tr/C chủ quan theo nhẹ/vừa/nặng 24LS +
7 CLS ECLAM 30 ngày 9 LS, 3CLS, có bổ thể
LAI 14 ngày Có 5 cơ quan cho điểm từ 0-3, có Ds_DNA và bổ thể SLEDAI 10 ngày Có 24 thông tin/105 điểm, có bổ thể
Thang điểm SLEDAI do các nhà khoa học trường đại học TORONTO-Canada đề xướng và đã được sử dụng nhiều cả trong lâm sàng
và trong nghiên cứu khoa học
Trang 37Ưu điểm:
Nhạy cảm với các thay đổi lâm sàng và CLS
Trong đợt cấp: SLEDAI tăng thêm 3 điểm
Theo dõi đáp ứng điều trị: SLEDAI giảm 6điểm
Yếu tố chủ quan: Có thể tránh được sai số hệ thống
Thời gian đáng giá: ngắn thuận tiện cho nghiên cứu
Đánh giá toàn diện bệnh nhân
Mức cho điểm như sau:
+ 8 điểm cho tổn thương hệ thống thần kinh và hệ mạch
+ 4 điểm cho tổn thương hệ thống thận và cơ, xương
+ 2 điểm cho tổn thương các màng và hệ miễn dịch
+ 1 điểm cho tổn thương hệ máu và toàn thân
Trang 38Dấu hiệu Biểu hiện Điểm
kỳ dị không logic hoặc trạng thái căng thẳng Loại trừ do thận hoặc do thuốc
Nói không mạch lạc, mất ngủ hoặc ngủ ngày lơ mơ hoặc tăng giảm hoạt động tâm thần vận động Loại trừ nguyên nhân
do chuyển hoá hoặc do thuốc
Trang 398 Viêm mạch
(Vasculitis)
Loét hoại thư, cục viêm ngón tay, nhồi máu rìa ngón tay, xuất huyết hoặc phát hiện bằng sinh thiết, XQ mạch
4
11 Trụ niệu
(Uriary cats)
Những trụ niệu do hồng cầu hoặc do tích
tụ Heme granular (Hem)
4
12 Đái máu
(Hematuria)
Có > 5 hồng cầu/vi trường, loại trừ nhiễm khuẩn, do sỏi hoặc do nguyên nhân khác
2
Trang 4018 Viêm màng phổi
(Pleurisy)
Đau ngực với tiếng cọ màng phổi, hoặc tràn dịch màng phổi, hoặc dính màng phổi
23 Giảm tiểu cầu
(Thrombocytopenia)
< 100G/l, loại trừ nguyên nhân do thuốc 1
24 Giản bạch cầu
(Leucopenia)
< 3G/l, loại trừ nguyên nhân do thuốc 1
SLEDAI được đánh giá tại thời điểm khám bệnh, có giá trị hỏi bệnh trước khám 10 ngày Điểm thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 105 điểm
Thực tế có rất ít trường hợp có SLEDAI > 45[49]
Đánh giá độ nặng của LBĐHT theo SLEDAI
Bệnh nhẹ và vừa: ≤ 12 điểm
Bệnh nặng: >12 điểm