1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang

50 4,6K 42

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chảy là một trong những bệnh lý có tỷ lệ mắc cũng như tử vong rất cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam 2, 6, 9. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, cùng với nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính , tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong trẻ em trên toàn thế giới. Hàng năm ước tính vẫn còn 1,3 tỷ lượt trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy, và không dưới 3,5 triệu trẻ tử vong vì tiêu chảy. Trung bình mỗi trẻ dưới 5 tuổi mắc từ 3,3 – 9 đợt tiêu chảy trong 1 năm 23, 30. Ở Việt Nam, tình hình tiêu chảy cũng tương tự như ở các nước đang phát triển, tiêu chảy vẫn còn là một bệnh phổ biến ở nước ta nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, tỷ lệ mắc cao và do chết vẫn còn. Việc điều trị và dự phòng bệnh tiêu chảy không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của các Ban ngành, Đoàn thể và đặc biệt là toàn thể nhân dân. Trong đó quan trọng nhất là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi vì đây là người trực tiếp chăm sóc cho con mình. Việc bồi dưỡng kiến thức, thái độ và hướng dẫn thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy vô cùng cần thiết đối với những đối tượng này. Bởi vì với kiến thức, thái độ và thực hành đúng để phòng ngừa tiêu chảy cấp trẻ em là yếu tố quan trọng nhất để giảm tỷ lệ tiêu chảy trẻ em và giảm thiểu mức độ tử vong trẻ em do tiêu chảy 2, 8, 10, 12. Tỉnh Hậu Giang sau khi được tái thành lập năm 2004 là một tỉnh nghèo, huyện Phụng hiệp là một huyện vùng sâu có diện tích tự nhiên 485,28 Km2, dân số 209,856 người, có 12 xã và 2 thị trấn với trên 90% dân số sống bằng nghề nông, cây trồng chủ yếu là mía và cây ăn trái; tỷ lệ hộ nghèo 22,5%, trình độ dân trí còn thấp, hầu hết người dân có thói quen sử dụng nước sông lắng phèn để ăn uống và sinh hoạt; số lượng trẻ em dưới 5 tuổi là 19.095 trẻ chiếm tỷ lệ 9,09% dân số, nên 2 tiêu chảy ở trẻ em vẫn còn là vấn đề phải quan tâm. Huyện Phụng Hiệp có 126 ấp trong đó ấp Tân Thành xã Tân Phước Hưng với số dân là 2509 người, được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt bị ô nhiễm trầm trọng nên tiêu chảy là một vấn đề quan tâm hàng đầu của y tế địa phương. Với phân bố dân cư chủ yếu làm nghề nông, trình độ văn hóa thấp, sử dụng nước sinh hoạt ô nhiễm…thì việc phòng bệnh tiêu chảy trẻ em một cách có hiệu quả cần thiết phải trang bị cho các bà mẹ có con nhỏ về kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành phòng chống bệnh tiêu chảy tại nhà 1, 24, 25. Tuy nhiên, thực trạng các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng huyện Phụng Hiệp có kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy hiện nay như thế nào? Ngành y tế cần biết trang bị những kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành nào cho những bà mẹ này?...Đó là lý do chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Khảo sát Kiến thức, Thái độ và Thực hành về phòng chống Bệnh tiêu chảy của Bà mẹ có con dƣới 5 tuổi tại ấp Tân thành, xã Tân Phƣớc Hƣng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang năm 2008”. Đề tài nghiên cứu nhằm các mục tiêu cụ thể dưới đây: 1. Đánh giá tỷ lệ bà mẹ Tân thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp có kiến thức, thái độ đúng về phòng chống bệnh tiêu chảy và các yếu tố liên quan (như tuổi, nghề nghiệp, học vấn, số con, hoàn cảnh kinh tế, nguồn thông tin…). 2. Xác định tỷ lệ bà mẹ Tân thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp thực hành đúng về phòng chống bệnh tiêu chảy và các yếu tố liên quan (như tuổi, nghề nghiệp, học vấn, số con, hoàn cảnh kinh tế, nguồn thông tin…).

Trang 1

5 tuổi mắc từ 3,3 – 9 đợt tiêu chảy trong 1 năm [23], [30]

Ở Việt Nam, tình hình tiêu chảy cũng tương tự như ở các nước đang phát triển, tiêu chảy vẫn còn là một bệnh phổ biến ở nước ta nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, tỷ lệ mắc cao và do chết vẫn còn Việc điều trị và dự phòng bệnh tiêu chảy không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của các Ban ngành, Đoàn thể và đặc biệt là toàn thể nhân dân Trong đó quan trọng nhất là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi vì đây là người trực tiếp chăm sóc cho con mình Việc bồi dưỡng kiến thức, thái độ và hướng dẫn thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy vô cùng cần thiết đối với những đối tượng này Bởi vì với kiến thức, thái độ và thực hành đúng để phòng ngừa tiêu chảy cấp trẻ em là yếu tố quan trọng nhất để giảm tỷ lệ tiêu chảy trẻ em và giảm thiểu mức độ tử vong trẻ

em do tiêu chảy [2], [8], [10], [12]

Tỉnh Hậu Giang sau khi được tái thành lập năm 2004 là một tỉnh nghèo, huyện Phụng hiệp là một huyện vùng sâu có diện tích tự nhiên 485,28 Km2, dân số 209,856 người, có 12 xã và 2 thị trấn với trên 90% dân số sống bằng nghề nông, cây trồng chủ yếu là mía và cây ăn trái; tỷ lệ hộ nghèo 22,5%, trình độ dân trí còn thấp, hầu hết người dân có thói quen sử dụng nước sông lắng phèn để ăn uống và sinh hoạt; số lượng trẻ em dưới 5 tuổi là 19.095 trẻ chiếm tỷ lệ 9,09% dân số, nên

Trang 2

tiêu chảy ở trẻ em vẫn còn là vấn đề phải quan tâm Huyện Phụng Hiệp có 126 ấp trong đó ấp Tân Thành xã Tân Phước Hưng với số dân là 2509 người, được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt bị ô nhiễm trầm trọng nên tiêu chảy là một vấn đề quan tâm hàng đầu của y tế địa phương Với phân bố dân cư chủ yếu làm nghề nông, trình độ văn hóa thấp, sử dụng nước sinh hoạt ô nhiễm…thì việc phòng bệnh tiêu chảy trẻ em một cách có hiệu quả cần thiết phải trang bị cho các

bà mẹ có con nhỏ về kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành phòng chống bệnh tiêu chảy tại nhà [1], [24], [25]

Tuy nhiên, thực trạng các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng huyện Phụng Hiệp có kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy hiện nay như thế nào? Ngành y tế cần biết trang bị những kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành nào cho những bà mẹ này? Đó là lý do chúng tôi

tiến hành đề tài nghiên cứu “Khảo sát Kiến thức, Thái độ và Thực hành về

phòng chống Bệnh tiêu chảy của Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp Tân thành,

xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang năm 2008”. Đề tài

nghiên cứu nhằm các mục tiêu cụ thể dưới đây:

1 Đánh giá tỷ lệ bà mẹ Tân thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp

có kiến thức, thái độ đúng về phòng chống bệnh tiêu chảy và các yếu tố liên quan (như tuổi, nghề nghiệp, học vấn, số con, hoàn cảnh kinh tế, nguồn thông tin…)

2 Xác định tỷ lệ bà mẹ Tân thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp thực hành đúng về phòng chống bệnh tiêu chảy và các yếu tố liên quan (như tuổi, nghề nghiệp, học vấn, số con, hoàn cảnh kinh tế, nguồn thông tin…)

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI NIỆM VỀ TIÊU CHẢY VÀ TIÊU CHẢY TRẺ EM

Bệnh tiêu chảy được định nghĩa là: người bệnh đi đại tiện nhiều lần trong ngày, chủ yếu là phân nhão, lỏng hay nước Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ em, tỷ lệ tử vong cao và chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ Một trường hợp được xem là tiêu chảy trẻ em khi trẻ đi tiêu 3 lần trở lên, đi tiêu phân lỏng hay phân đàm máu trong khoảng thời gian 24 giờ [2], [6], [9]

Biểu hiện đầu tiên là người bệnh đau bụng, đi ngoài liên tục, phân nhiều nước, mất nước, có thể bị sốt nhẹ, li bì hoặc hôn mê Bệnh sẽ diễn biến nặng hơn với các biểu hiện cơ thể suy kiệt, mắt trũng, nôn mửa Có trường hợp bị mất nước

và chất điện giải, không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong [12], [16], [18], [19]

Bệnh dễ phát sinh thành dịch do nguy cơ lây chéo cao Tình trạng lây chéo không chỉ xảy ra ở bệnh viện mà còn xảy ra ở gia đình Thậm chí, có gia đình cả nhà đều bị bệnh tiêu chảy do khâu vệ sinh, phòng chống kém Đây chính là nguyên nhân khiến bệnh tiêu chảy bùng phát thành dịch rất nhanh

1.1.1 Các thể lâm sàng của tiêu chảy cấp

Theo tổ chức thế giới thống nhất có 5 thể lâm sàng [23], [30]

1.1.1.1 Tiêu chảy cấp:

Là thể hay gặp nhất chiếm 80%, có đặc điểm tiêu phân lỏng nhiều nước, không quá 5 ngày, có thể gây tử vong chủ yếu do mất nước và điện giải, đáp ứng tốt nhất với điều trị bằng ORS, thể này là mục tiêu chính của chương trình quốc gia phòng chống tiêu chảy

Trang 4

1.1.1.2 Tiêu chảy kéo dài:

Là tình trạng tiêu chảy cấp không đáp ứng với điều trị thông thường và kéo dài trên 7 ngày, trung bình có từ 3 - 5 % tiêu chảy cấp chuyển thành tiêu chảy kéo dài do các yếu tố thuận lợi sau đây

- Trẻ không được bú mẹ nhất là sửa non ( các trường hợp tiêu chảy sơ sinh thường do lúc ra đời không được bú mẹ); trẻ nhủ nhi ở tuổi ăn dặm, trẻ suy giảm miễn dịch sau sởi

Ngoài ra tiêu chảy cấp có thể kéo dài do 2 nguyên nhân hay gặp là chưa giải quyết được nguyên nhân gây tiêu chảy và sai sót điều trị, sử dụng thuốc cầm ỉa (Tanin, tô mộc, sản phẩm có thuốc phiện) lạm dụng kháng sinh hoặc chọn kháng sinh không phù hợp, không duy trì chế độ ăn, bù nước và điện giải không đúng hoặc không đủ

1.1.1.3 Hội chứng lỵ :

Được định nghĩa là tiêu chảy có máu, chiếm 10%, nguyên nhân do nhiễm trùng Hội chứng lỵ thường kéo dài 1 -2 tuần, khó điều trị vì vi trùng dễ kháng thuốc, dễ gây biến chứng và tử vong

- Trong chương trình phòng chống tiêu chảy của tổ chức y tế thế giới khuyên dùng kháng sinh khi có phân đàm máu

1.1.1.4 Tiêu chảy mãn:

- Rất ít gặp với 3 thể trên, nguyên nhân không do vi khuẩn, chủ yếu do bẩm sinh và di truyền như bệnh viêm quánh miễn dịch

Trang 5

- Ngay sau khi sinh trẻ bị tiêu chảy gây chậm phát triển thể chất Tìm hiểu tiền sử , bệnh sử và phân tích các chất trong phân có thể giúp chẩn đoán nguyên nhân

- Tiêu chảy là do sự kém hấp thu và tăng xuất tiết ở ruột, dẩn đến cơ thể trẻ

bị mất nước và điện giải, khối lượng nước và điện giải mất nước trong tiêu chảy cấp dễ gây nên tử vong nếu không được bù nước điện giải kịp thời

1.1.2 Tiêu chảy ở trẻ em

Khi mắc bệnh tiêu chảy, trẻ em thường có các triệu chứng như: ói, đi tiêu tóe nước, có lúc có máu, sốt, đau bụng, bụng chướng Bệnh tiêu chảy vốn không quá nguy hiểm, tuy nhiên do một số người thiếu hiểu biết nên đã dẫn đến những hậu quả nặng nề Tiêu chảy trẻ em sẽ rất nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong nếu không được bù nước và chất điện giải đã bị mất theo phân [6], [12]

Bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết, Khoa tiêu hóa Bệnh viện Nhi đồng II Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết, tiêu chảy là một trong 10 bệnh có tỷ lệ trẻ mắc phải cao nhất Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu của căn bệnh này là do trẻ dùng thực phẩm nhiễm khuẩn vì không được bảo quản tốt Ngoài ra, việc cho trẻ ăn uống không đúng giờ, không đúng liều lượng; thực phẩm có hàm lượng đạm cao; hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên rau củ quả quá lớn cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy [6], [12]

Trang 6

Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng II khẳng định, tỷ lệ trẻ nhập viện vì bệnh tiêu chảy rất cao so với các bệnh khác Và số lượng không thay đổi nhiều qua các năm Mỗi năm có gần 7.000 bệnh nhi nhập viện này vì bệnh tiêu chảy Hơn 90% trong số đó là trẻ các quận, huyện ngoại thành, chiếm 30% số giường bệnh nội trú Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là trẻ dưới 3 tuổi [12]

Trẻ em thường mắc bệnh tiêu chảy Câu hỏi đặt ra do đó là tần số các vi khuẩn này ờ trẻ em mắc bệnh tiêu chảy ra sao Để trả lời câu hỏi này, Isenbarger và đồng nghiệp theo dõi và phân tích 1655 trẻ em ở vùng Đồng bằng sông Hồng trong vòng 12 tháng Trong thời gian theo dõi, có 2160 ca bệnh tiêu chảy; tính trung bình mỗi em mắc tiêu chảy khoảng 1,3 lượt trong 12 tháng Trong số ca bệnh tiêu chảy, 65% bị nhiễm vi khuẩn Shigella (loại S flexneri) [26]

Trong một nghiên cứu ở Hà Nội mới công bố trên tập san nhiễm trùng học quốc tế, các nhà nghiên cứu phân tích số liệu từ 587 trẻ em mắc bệnh tiêu chảy và

249 em không mắc bệnh (nhóm chứng) Trong nhóm tiêu chảy, 41% xảy ra ở trẻ

em dưới 1 tuổi Phân tích vi sinh cho thấy Rotavirus hiện diện trong 47% trường hợp, kế đến là E coli (22,5%), Shigella spp (khoảng 5%) và Bacteroides fragilis (khoảng 7%) Đáng chú ý là trong nghiên cứu này các nhà nghiên cứu không phát hiện một trường hợp nào với vi khuẩn V cholerae và Salmonella [26]

Nguyên nhân gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ do ăn uống không sạch sẽ, do thay đổi khẩu phần ăn, ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn, thức ăn lạ khiến trẻ không tiêu hoá được

Những trẻ không được bú sữa mẹ, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ đang ở trong tình trạng bị suy giảm miễn dịch tạm thời (sau khi bị sởi, bị AIDS ) cũng có nguy

cơ mắc tiêu chảy cao Tập quán ăn uống, chăm sóc của người lớn cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng tiêu chảy cấp ở trẻ em Nhất là cho trẻ bú bình không được rửa sạch hoặc cho uống lại sữa đã uống trước đó vài tiếng…

Trang 7

Cho bé ăn dặm sớm khi chưa qua 4 tháng tuổi khiến không tiêu hoá được dẫn đến bị tiêu chảy Nhiều trường hợp trẻ còn bị tiêu chảy do dùng kháng sinh không hợp lý [20]

Theo Bác sĩ Trương Ngọc Dương, Khoa Nhi viện Quân y 103, nguyên nhân gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ do ăn uống không sạch sẽ, do thay đổi khẩu phần ăn, ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn, thức ăn lạ khiến trẻ không tiêu hoá được [20]

1.1.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy:

Tiêu chảy xảy ra do những nguyên nhân sau [27], [28]:

- Do nhiễm khuẩn và nhiễm virus là nguyên nhân hàng đầu gây ỉa chảy ở cả trẻ em và người lớn Có thể ỉa chảy bởi nhiễm các loại vi khuẩn (như trực khuẩn E coli, vi khuẩn Salmonella, các vi khuẩn kỵ khí, tụ cầu khuẩn ), do nhiễm các loại

ký sinh trùng (amip, trichomonas ) và do nhiễm virus (adenovirus, enterovirus, rotavirus )

Trong một nghiên cứu đặc biệt về các trường hợp tiêu chảy do vi khuẩn Shigella gây ra tại một số nước Á châu, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng ở Việt Nam, trong số 11.419 cas tiêu chảy, 72% có nhiễm vi khuẩn S.flexneri và 26% S.sonnei Ở Trung Quốc, Indonesia, Pakistan và Bangladesh cũng có tỷ lệ tương tự như nước ta Ngược lại, ở Thái Lan, trong số 8.612 cas tiêu chảy, 15% bị nhiễm S.flexneri và 85% bị nhiễm S.sonnei Việc xét nghiệm vi khuẩn này không khó và

đã được phát triển nhưng quan trọng hơn đã có vắc-xin phòng chống bệnh

Một báo cáo mới đây của tổ chức Y tế thế giới (WHO) [23], [30] cho thấy, 80% các bệnh tật của con người có liên quan đến nước và vệ sinh môi trường 50%

số bệnh nhân trên thế giới và 25.000 người chết hàng ngày do các bệnh này 40% các ca tử vong do bệnh sốt rét và 94% các ca tử vong do bệnh tiêu chảy có thể tránh được nếu có những quản lý tốt hơn về môi trường

Trang 8

Năm 2002, một nghiên cứu thuần tập (prospective study) được thực hiện ở tỉnh Khánh Hòa Trong thời gian 1/1995 đến 9/2001, các nhà nghiên cứu ghi nhận

548 bệnh nhân, trong số này có 471 người lớn và 57 trẻ em

Phân tích vi sinh học cho thấy trong số 548 trường hợp tiêu chảy, có 53%

dương tính với vi khuẩn V parahemolyticus

Năm 2008, tại Kuala Lumpur (Malaysia) đã diễn ra đại hội quốc tế về các bệnh truyền nhiễm lần thứ 13, với sự tham dự của 2.000 bác sĩ, giáo sư và các cơ quan thông tấn báo chí đến từ nhiều quốc gia trên thế giới Tại đại hội, báo cáo tham luận của các chuyên gia cho biết: nhiễm Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh lý liên quan đến tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi Hằng năm trên thế giới có 25% - 55% số trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy và viêm dạ dày, ruột phải nhập viện là do nhiễm Rotavirus Bình quân mỗi năm thế giới có hơn 661 ngàn trẻ em tử vong vì viêm dạ dày - ruột do nhiễm Rotavirus, trong đó 90% trường hợp xảy ra ở châu Á

và châu Phi Riêng tại các quốc gia châu Á, mỗi năm có khoảng 171 ngàn trẻ bị tử vong bởi tiêu chảy do nhiễm Rotavirus, bệnh xảy ra nhiều nhất ở trẻ dưới 2 tuổi

Kết quả nghiên cứu trên 10.708 trẻ nhũ nhi tại các quốc gia châu Á cho thấy, việc chủng ngừa cho trẻ (đặc biệt trẻ từ 6 tháng đến dưới 2 tuổi) đã mang lại hiệu

quả cao (96,1%) trong phòng ngừa viêm dạ dày - ruột, tiêu chảy bởi tác nhân

Rotavirus nói trên Theo một nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Nhi Đồng 1, Rotavirus là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi Cứ 5 trẻ thì có 1 trẻ tới khám ở bệnh viện, 1/65 trẻ phải điều trị nội trú và 1/293 trẻ sẽ tử vong Gánh nặng của bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus đặc biệt ảnh hưởng tới trẻ dưới 2 tuổi với tần suất mắc bệnh cao nhất là từ 6-24 tháng tuổi [2] Hằng năm trên toàn thế giới ước tính có 125 triệu trẻ em bị tiêu chảy do Rotavirus, trong đó hơn 610.000 trẻ tử vong vì mất nước nặng 82% số ca tử vong này ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, châu Phi, châu Mỹ Latinh, châu Á [23]

Trang 9

- Do các rối loạn thành ruột: các bệnh viêm nhiễm, các khối u, dị tật có thể

là nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy cấp nhiều lần hoặc mãn tính

- Do thực phẩm: thực phẩm ôi thiu, nhiễm độc…Bệnh có thể sớm biểu hiện ngay sau vài giờ ăn những thực phẩm này

- Do stress và lo lắng: Những yếu tố tinh thần cũng là nguyên nhân gây nên rối loạn tiêu hóa

1.1.4 Phòng chống bệnh tiêu chảy

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới Hàng năm trên thế giới có khoảng

12 triệu trẻ em chết trước tuổi 5, và trong số này 70% chết vì những nguyên nhân liên quan đến bệnh tiêu chảy Như vậy, các số liệu trên cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi cần phải được đặc biệt theo dõi để ngăn ngừa bệnh bộc phát ở qui mô cộng đồng [2]

Năm 1978 chương trình phòng chống tiêu chảy được tổ chức y tế thế giới và UNICEF đề xướng, từ năm 1983 Việt Nam trở thành chương trình quốc gia, với các hình thức tuyên truyền tại cộng đồng và việc sử dụng dung dịch ORS và các dung dịch khác tại nhà đã làm giảm tỷ lệ chết trẻ em từ 1,24% năm 1987 xuống còn 0,37% năm 1990 (theo báo cáo của chương trình quốc gia phòng chống tiêu chảy) [30]

Các nguyên tắc cơ bản để phòng chống bệnh tiêu chảy:

- Không bao giờ được quên những quy tắc vệ sinh an toàn thực phẩm dưới đây:

- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là trước bữa ăn

- Uống nhiều nước (ít nhất 2 lít/ngày)

- Nếu cảm thấy không yên tâm về nước uống, hãy dùng trà thay cho nước lọc, hoặc mua những chai nước tinh khiết được đóng chai an toàn

Trang 10

- Không uống nước với đá nếu không biết rõ nguồn gốc của của loại đá này

- Tránh ăn những món ăn như rau sống, cá hoặc thịt sống, hoa quả không gọt

vỏ

- Không ăn thức ăn để lâu ngày, ôi thiu…

- Tránh để rơi vào tình trạng stress, lo âu

- Không uống nhiều rượu và ăn các gia vị cay

1.2 CHĂM SÓC KHI TRẺ BỊ TIÊU CHẢY

1.2.1 Cho trẻ ăn và bú nhiều hơn thường ngày

Nhiều nghiên cứu cho thấy các bà mẹ thường quan niệm, trẻ bị tiêu chảy phải kiêng ăn thịt, cá, chất tanh, đường, sữa thậm chí chỉ cho trẻ ăn cháo muối trắng

là một quan niệm sai lầm Vì như vây, trẻ bị mất nước lại không đủ chất dinh dưỡng khiến cơ thể càng kiệt quệ hơn, không đủ sức chống đỡ lại bệnh tật Tốt nhất là cho trẻ ăn uống bình thường, ăn những thức ăn dễ tiêu, chia làm nhiều bữa nhỏ và vệ sinh thân thể sạch sẽ [6], [12]

Nếu trẻ còn bú mẹ cần được bú nhiều hơn và mỗi cữ bú lâu hơn Cho trẻ ăn thành nhiều bữa, và thêm ít nhất 2 bữa so với những ngày không bệnh Ăn uống chậm Nếu trẻ còn bú bình, tốt nhất nên dùng muỗng đút sữa chậm

Về thực phẩm, nên cho trẻ ăn đủ 4 nhóm, đừng quên nhóm dầu, mỡ Thức ăn

cần nấu nhừ Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi như chuối, nho, cam, xoài, mãng cầu Nói chung các thức ăn hàng ngày của trẻ trước tiêu chảy đều có thể dùng, nếu phù

hợp lứa tuổi Không kiêng ăn, không kiêng sữa Không cần pha loãng sữa

Thường thì bạn không cần phải đổi sữa, nhưng trong một số ít trường hợp có thể bác sĩ sẽ cho đổi một loại sữa đặc biệt, khi đó bạn hãy đổi sữa cho trẻ và hiếm khi trẻ phải dùng loại sữa này quá hai tuần

Trang 11

Tuyệt đối không được bắt trẻ nhịn ăn để “ruột nghỉ ngơi” Điều này hết sức

sai lầm và rất nguy hiểm Thực tế dù trẻ tiêu chảy nhưng vẫn còn khả năng hấp thu hơn 70% chất dinh dưỡng Cho trẻ ăn sớm sẽ có tác dụng tốt lên tiến trình của bệnh Bạn cũng nên ăn và uống thêm để “có sức” mà lo cho trẻ

Khi trẻ bị tiêu chảy chắc chắn trẻ sẽ không cảm thấy ngon miệng khi ăn Tuy nhiên, việc ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng là vô cùng cần thiết nhằm mang lại năng lượng và tăng sức đề kháng cho cơ thể Trẻ có thể được cho ăn những món ăn thường ngày nhưng phải được đảm bảo an toàn, không nhiễm khuẩn Không nên cho trẻ ăn những thực phẩm gây cảm giác buồn nôn, khó chịu…Nếu trẻ bị tiêu chảy kèm với nôn, hãy cho trẻ uống một chút nước

1.2.2 Dùng dung dịch ORS đúng :

Nguyên nhân tử vong ở trẻ tiêu chảy cấp chủ yếu do mất nước và điện giải Trẻ càng đi ngoài nhiều thì lượng nước sinh lý trong cơ thể mất đi càng nhiều, vì thế, cần phải bù ngay lượng nước đã mất bằng cách cho trẻ uống nước Oresol

Cũng cần chú ý, phải pha Oresol theo đúng qui định, uống đúng liều lượng hướng dẫn, tránh tình trạng gây rối loạn nước và điện giải khiến bệnh càng nặng hơn

ORS (theo tổ chức y tế thế giới và UNICEF) là một hỗn hợp được gọi là muối bù dung dịch bằng đường uống

Trang 12

+ Sử dụng dung dịch ORS đúng ( theo TCYTTG ), 1 gói ORS ( bột trắng mịn, khô) pha trong 1.000 ml nước sôi để nguội khuấy đều cho tan; dung dịch đã pha chỉ dùng trong vòng 24 giờ, cho trẻ uống dung dịch ORS ngay sau khi bị tiêu chảy + Các dung dịch khác :

- Nước cháo muối:

Thành phần gồm 1 nắm gạo và 1 nhúm muối kèm 1 lít nước đun sôi đến nhừ

- Nước dừa tươi: một trái dừa tươi lấy nước cho uống

- Nước chín, nước canh rau, nước súp, nước cơm

1.2.3 Biết khi nào cần đƣa trẻ đến cơ sở y tế

Các triệu chứng ở trẻ bị tiêu chảy thường sẽ giảm sau 5-12 ngày, trẻ bắt đầu chơi, đòi ăn trở lại và lúc này cần cho trẻ ăn thêm mỗi ngày một bữa trong ít nhất hai tuần để “phục hồi” sức khỏe

Một số ít trẻ bị tiêu chảy có thể diễn biến phức tạp, vì vậy khi trẻ bị tiêu chảy, cần phát hiện những diễn biến không thuận lợi và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y

tế ngay để được xử trí kịp thời Đó là lúc Trẻ bỏ ăn, bỏ bú; Trẻ mệt, bệnh nhiều hơn; Trẻ rất khát nước; Trẻ ói liên tục; Trẻ sốt; Trẻ tiêu phân có máu; Trẻ li bì, khó đánh thức; Trẻ có co giật

Không nên tự cho trẻ uống thuốc cầm ỉa hoặc ăn các lá và quả chát như lá nhọ nồi, lá ổi xanh, quả ổi xanh Có thể sau khi uống, trẻ sẽ cầm ỉa ngay nhưng thực ra, điều này rất nguy hiểm vì nó làm cho bệnh càng thêm kéo dài, thậm chí nặng hơn do các virus, vi khuẩn được thải hồi chậm

Không tự ý cho trẻ dùng thuốc vì nguyên nhân tiêu chảy chủ yếu do virus, hoặc do hoá chất nhiễm khuẩn, bệnh thường khỏi sau vài ngày điều trị, chủ yếu bù nước và điện giải mà không cần phải sử dụng thuốc Một số trường hợp phải sử

Trang 13

dụng kháng sinh nhưng phải có chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa [6], [12]

1.3 TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRẺ EM Ở ĐỊA PHƯƠNG

Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hậu Giang năm 2007 toàn tỉnh có 6.184 trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy [1], [24]

Huyện Phụng hiệp có 19.095 trẻ dưới 5 tuổi, trẻ mắc tiêu chảy là 1.260 (theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng huyện Phụng hiệp năm 2007) Bệnh viện Đa khoa Phụng hiệp năm 2007 tiếp nhận 150 trẻ mắc tiêu chảy phải bù dịch chiếm tỷ

lệ 12,44% trẻ mắc tiêu chảy đến khám tại bệnh viện huyện

Tuy nhiên từ năm 2004, việc ngưng cung cấp ORS nên các điểm cấp tại các

ấp không còn nữa cùng với hạn chế kiến thức của các bà mẹ về sử dụng ORS, dung dịch tự pha chế, thậm chí không cho trẻ uống khi bị tiêu chảy; Thực trạng trên vẫn còn tồn tại ở tỉnh Hậu Giang nói chung và huyện Phụng hiệp nói riêng

Rõ ràng thực trạng các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng huyện Phụng Hiệp có kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy hiện nay có khả năng liên hệ đến tình trạng ỉa chảy trẻ em tại địa phương Ngành y tế thật sự cần phải biết trang bị những kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành phòng chống ỉa chảy trẻ em cho những bà mẹ có con nhỏ Việc

thực hiện đề tài nghiên cứu “Khảo sát Kiến thức, Thái độ và Thực hành về phòng

chống Bệnh tiêu chảy của Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp Tân thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang năm 2008” là một nghiên cứu thiết thực, quan trọng cho y tế địa phương để có thể kiểm soát tốt bệnh ỉa chảy trẻ

em trên địa bàn

Trang 14

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Toàn bộ bà mẹ có con dưới 5 tuổi sống tại ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng, Huyện Phụng Hiệp

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng

- Tiêu chuẩn đưa vào: Toàn bộ bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sống tại ấp Tân

Thành xã Tân Phước Hưng, Huyện Phụng Hiệp

- Tiêu chuẩn loại trừ: Những bà mẹ không thể tiếp cận (vắng nhà từ 3 lần trở lên, từ chối trả lời phỏng vấn) hoặc không thể trả lời câu hỏi của người phỏng vấn (những người mắc bệnh tâm thần, câm điếc, bệnh giai đoạn nặng), hoặc những bà

mẹ không trực tiếp nuôi con (có người nuôi giùm do bận đi làm)

2.1.2 Kiểm soát sai lệch chọn lựa đối tượng nghiên cứu

Nếu bà mẹ vắng nhà 1 lần hoặc 2 lần, nhân viên điều tra phải quay lại phỏng vấn sau Nếu vắng nhà từ 3 lần trở lên xem như không tính

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Theo phương pháp nghiên cứu ngang mô tả có phân tích [11]

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu:

Theo cách tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu ngang mô tả, chúng tôi sử dụng công thức [11]:

2

d

p)q p(1 α/2

2

Z

Trang 15

: Với mức ý nghĩa thống kê 0,05 thì ta có Z /2 = 1,96

Thay số liệu vào ta sẽ có:

246

2

05 , 0

) 8 , 0 0,8(1 2

96 , 1

2.3.1 Địa bàn nghiên cứu

Ấp Tân thành, xã Tân Phước Hưng, Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang

2.3.2 Cách chọn mẫu

Chọn toàn bộ các bà mẹ có con nhỏ tại Ấp Tân thành, xã Tân Phước Hưng, Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang

2.4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ

Trang 16

Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ có con nhỏ tại Ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng, Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang dựa vào phiếu điều tra (xem phần phụ lục) [3], [4], [5], [7]:

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp những hiểu biết về kiến thức, đồng thời tìm hiểu thái độ, hành vi của các bà mẹ có con nhỏ đối với bệnh tiêu chảy

- Quan sát và phỏng vấn trực tiếp về thực trạng, tình hình thực tế phòng chống bệnh tiêu chảy của người được điều tra

2.5 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ

2.5.1 Biến số [13], [14], [15], [16], [17]:

- Tuổi : biến số định tính gồm 3 giá trị (dưới 20 tuổi, từ 20 – 40 tuổi , trên 40)

- Nghề nghiệp: biến số danh định gồm 4 giá trị (nội trợ, buôn bán, công nhân viên,

- Độ tuổi của đứa con nhỏ nhất : biến số danh định gồm 4 giá trị (dưới 6 tháng,

từ 6 tháng – dưới 12 tháng, từ 12 tháng đến dưới 24 tháng, từ 24 tháng đến dưới 5 tuổi)

- Hoàn cảnh kinh tế: biến số danh định gồm 4 giá trị (Giàu, Khá, Trung bình,

Dưới trung bình) [21]

Trang 17

+ Giàu : từ 4 triệu đồng/ tháng trở lên

+ Khá : từ 2 - đến dưới 4 triệu đồng/tháng

+ Trung bình : từ 1 – dưới 2 triệu đồng /tháng

+ Dưới trung bình : dưới 1 triệu đồng/ tháng

2.5.2 Các chỉ số [13], [14], [15], [16], [17]:

- Nguồn thông tin về tiêu chảy: Tivi, Radio, báo chí, tranh, áp-phích, nhân viên y

tế, người thân ,hàng xóm

- Kiến thức về bệnh tiêu chảy:

Độ trầm trọng: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ trả lời bệnh tiêu chảy là một bệnh nguy hiểm

+ Sai: khi bà mẹ trả lời bệnh tiêu chảy là một bệnh không nguy hiểm

Đường lây truyền: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ trả lời bệnh tiêu chảy lây qua đường tiêu hóa

+ Sai: khi bà mẹ trả lời bệnh tiêu chảy lây qua đường hô hấp, đường da, hoặc đường khác

Kiến thức về dùng thuốc: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ khi trả lời không tự dùng Kháng Sinh hoặc Thuốc Cam Ỉa cho con khi con bị tiêu chảy

+ Sai: khi bà mẹ trả lời có tự dùng Kháng Sinh hoặc Thuốc Cầm Ỉa cho con khi con bị tiêu chảy

Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ bị tiêu chảy nặng cần đưa đến cơ sở y tế

Là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai Bà mẹ cần biết một trong các triệu chứng của ỉa chảy trẻ em thể nặng, đó là:

* Có biểu hiện khát nước

Trang 18

* Nôn liên tục nhiều lần

* Có sốt

* Có máu trong phân

* Đi ngoài nhiều , phân tóe nước

+ Đúng: Bà mẹ có kiến thức đúng về những dấu hiệu nặng của bệnh tiêu chảy khi trả lời đúng từ 1 ý trở lên

+ Sai: khi bà mẹ không trả lời được ý nào ở trên hoặc khác

Các loại dung dịch có thể sử dụng tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy: là biến nhị

giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ có chọn ORS hoặc bú sữa mẹ (nếu trẻ dưới 6 tháng), hoặc dùng nước cháo muối

+ Sai:khi bà mẹ không trả lời được ý nào ở trên hoặc trả lời khác

Cách cho trẻ ăn, hoặc uống (bú) tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy:

Là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ cho trẻ ăn hoặc uống (bú) như mọi ngày hoặc hơn nếu được + Sai: khi bà mẹ chọn giảm khẩu phần hoặc giảm số bữa ăn xuống, hoặc chỉ cho ăn cháo trắng hoặc không nên cho ăn gì cả

- Thái độ về nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng

và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ đồng ý rằng đa số trẻ bị tiêu chảy là do ăn phải thức ăn, hoặc nước uống bị nhiễm bẩn

+ Sai: khi bà mẹ trả lời không đồng ý hoặc không ý kiến

- Thái độ về vệ sinh tay cho trẻ : là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

Trang 19

+ Đúng: khi bà mẹ đồng ý rằng: Rửa tay cho trẻ trước khi ăn và rửa tay cho trẻ sau khi đi vệ sinh

+ Sai: khi bà mẹ trả lời không đồng ý hoặc chỉ đồng ý 1 trong 2 ý trên hoặc không ý kiến

- Thái độ về vệ sinh ăn uống và ở cho trẻ: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và

Sai

+ Đúng: khi bà mẹ đồng ý rằng: Cho trẻ ăn chín và uống sôi và ở sạch

+ Sai: khi bà mẹ trả lời không đồng ý hoặc chỉ đồng ý 1 hoặc 2 trong 3 ý trên hoặc không ý kiến

- Thái độ về sự cần thiết tìm hiểu bệnh tiêu chảy: là biến nhị giá gồm 2 giá trị

Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ cho rằng cần thiết

+ Sai: khi bà mẹ cho là không cần thiết

- Cách pha và sử dụng gói ORS tại nhà: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và

Sai

+ Đúng: khi bà mẹ pha một gói ORS với 1 lít nước và phải được sử dụng trong vòng 24 giờ

+ Sai: khi bà mẹ trả lời không đủ 2 ý trên

- Cách pha dung dịch ORS: Là biến nhị giá với 2 giá trị đúng và sai

+ Đúng : Khi bà mẹ pha với nước chín để nguội

+ Sai: Khi bà mẹ pha với nước suối, nước dừa, nước khác

- Lượng nước pha gói ORS: là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và sai

+ Đúng: Khi bà mẹ pha với 1 lít nước

+ Sai: Khi Bà mẹ pha với số lượng khác

- Thời gian sử dụng dung dịch ORS: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và sai

Trang 20

+ Đúng: Khi Bà mẹ trả lời trước 24h

+ Sai: Khi Bà mẹ trả lời sau 24h

- Nguồn cung cấp ORS : Là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và sai:

+ Đúng: Khi Bà mẹ trả lời là tại trạm y tế, nhà thuốc tây, đại lý thuốc tây, ghe hàng, cửa hàng dược, Bệnh viện

+ Sai: Không biết

- Thói quen đi vệ sinh: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ cho con đi vào bô, hoặc đi cầu tiêu hoặc tã

+ Sai: khi bà mẹ cho con đi vệ sinh ra nền đất

- Cách vệ sinh cho trẻ sau khi đi tiêu: là biến nhị giá gồm 2 giá trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ chọn rửa bằng nước và có xà phòng

+ Sai: khi bà mẹ chọn lau bằng giấy vệ sinh hoặc rửa bằng nước không xà phòng hoặc khác

- Sử dụng nước trong ăn uống: là biến danh định gồm 3 giá trị (nước máy, nước

mưa, nước giếng)

- Loại nước thường dùng cho trẻ uống tại nhà: là biến nhị giá gồm 2 giá trị

Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ chọn nước đun sôi để nguội

+ Sai: khi bà mẹ chọn nước từ vòi không đun sôi

- Thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi nấu ăn: là biến nhị giá gồm 2 giá

trị Đúng và Sai

+ Đúng: khi bà mẹ trả lời Có

+ Sai: khi bà mẹ trả lời Không

Trang 21

2.6 THU THẬP THÔNG TIN

2.6.1 Phương pháp thu thập thông tin

Dùng phương pháp phỏng vấn và khảo sát trực tiếp tại thực địa hộ gia đình Điền các thông tin thu được vào phiếu điều tra

2.6.2 Người thu thập thông tin

- Cán bộ trạm y tế xã Người dẫn đường là cộng tác viên Y tế (nhân viên Y tế thôn - tổ)

- Tập huấn cho điều tra viên về các kỹ thuật thu thập số liệu

2.7 KIỂM SOÁT SAI LỆCH THÔNG TIN

- Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu

- Người thu thập thông tin phải được tập huấn

- Tiến hành phỏng vấn thử 5 người phụ nữ để chỉnh sửa nội dung cho phù hợp

- Mỗi bộ câu hỏi sau khi được phỏng vấn phải được xem xét hoàn chỉnh Nếu những phiếu không đạt yêu cầu sẽ được phỏng vấn lại

2.8 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian thực hiện từ tháng 01/2008 đến tháng 1/2009

2.9 VẤN ĐỀ Y ĐỨC

Không vi phạm y đức vì nghiên cứu này không ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý của những người tham gia nghiên cứu Nghiên cứu đảm bảo bí mật cho người cung cấp tin, luôn cẩn thận với những vấn đề nhạy cảm như: tôn giáo, chính trị, văn hóa…

2.10 XỬ LÝ SỐ LIỆU

- Sử dụng phần mềm EPI INFO 6.04

- Các bước tiến hành thống kê và xử lý số liệu: Tạo bảng câu hỏi từ EPED, nhập

số liệu vào ENTE DATA, đọc kết quả và nhận định từ ANALYSIS of DATA [11]

Trang 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC TÍNH MẪU NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu: (n=300)

Trang 23

88.33%

10.67%

< 20 tuổi 20-40 tuổi

> 40 tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố lứa tuổi của mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Tỷ lệ bà mẹ thuộc nhóm tuổi từ 20-40 tuổi chiếm cao nhất

(88,33%), tiếp theo là nhóm trên 40 tuổi (10,83%) và thấp nhất là nhóm dưới 20 tuổi (0,83%)

Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Đa số các bà mẹ là nội trợ (60,67%), buôn bán (16,67%) và nghề

khác (17,67%) chiếm tỉ lệ cao hơn công nhân viên (5%)

Tỷ lệ %

Nghề nghiệ p

Trang 24

65.67

Cấp 1và 2 Cấp 3

Biểu đồ 3.3 Phân bố trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Hầu hết bà mẹ chỉ học đến cấp 1 và cấp 2 (65,67%) Số bà mẹ học

từ cấp 3 trở lên chiếm khoảng 33,33% Chỉ có 1% bà mẹ mù chữ

Biểu đồ 3.4 Phân bố số con của mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Bà mẹ có 1 con chiếm đa số (55%),kế đến là bà mẹ có 2 con

(30,67%) Bà mẹ có 3 con (13,33%) và 4 con trở lên (1%) chiếm tỉ lệ thấp

T ỷ l ệ %

Nghề nghiệ p

Trang 25

Biểu đồ 3.5 Phân bố theo độ tuổi nhỏ nhất của con theo mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Số bà mẹ có con từ 6-dưới 12 tháng (31,67%) có tỷ lệ gần bằng

với bà mẹ có con từ 12-dưới 24 tháng (34,17%) Nhóm tỉ lệ thấp hơn thì số bà mẹ

có con dưới 6 tháng (17%) có tỷ lệ xấp xỉ với bà mẹ có con từ 24 tháng –dưới 5 tuổi (16,67%)

Biểu đồ 3.6 Phân bố theo hoàn cảnh kinh tế của mẫu nghiên cứu

Nhận xét: Mức sống khá (39,33%) và trung bình (41,00%) chiếm đa số

Giàu (10,67%) và dưới trung bình (9%) chiếm ít hơn với tỷ lệ ngang nhau

Ngày đăng: 23/07/2014, 01:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc tính của mẫu nghiên cứu: (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.1. Đặc tính của mẫu nghiên cứu: (n=300) (Trang 22)
Bảng 3.7. Kiến thức của bà mẹ về các loại dung dịch có thể sử dụng tại nhà khi trẻ - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.7. Kiến thức của bà mẹ về các loại dung dịch có thể sử dụng tại nhà khi trẻ (Trang 30)
Bảng 3.8.  Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn ,hoặc uống (bú) tại nhà khi trẻ  bị tiêu chảy  (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.8. Kiến thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn ,hoặc uống (bú) tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy (n=300) (Trang 31)
Bảng 3.11. Thái độ về vệ sinh ăn,uống và ở cho trẻ (n=300) Ăn chín,uống sôi,ở sạch giúp trẻ - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.11. Thái độ về vệ sinh ăn,uống và ở cho trẻ (n=300) Ăn chín,uống sôi,ở sạch giúp trẻ (Trang 33)
Bảng 3.12. Thái độ của bà mẹ về sự cần thiết tìm hiểu bệnh tiêu chảy (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.12. Thái độ của bà mẹ về sự cần thiết tìm hiểu bệnh tiêu chảy (n=300) (Trang 34)
Bảng 3.16. Lý do bà mẹ không cho trẻ uống ORS khi trẻ bị tiêu chảy - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.16. Lý do bà mẹ không cho trẻ uống ORS khi trẻ bị tiêu chảy (Trang 35)
Bảng 3.18.  Thói quen cho con đi vệ sinh của bà mẹ (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.18. Thói quen cho con đi vệ sinh của bà mẹ (n=300) (Trang 37)
Bảng 3.21.  Loại nước trẻ thường uống tại nhà (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.21. Loại nước trẻ thường uống tại nhà (n=300) (Trang 38)
Bảng 3.20.   Sử dụng nước trong ăn uống (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.20. Sử dụng nước trong ăn uống (n=300) (Trang 38)
Bảng 3.22.  Thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi nấu ăn (n=300) - Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp tân thành, xã tân phước hưng, huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang
Bảng 3.22. Thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi nấu ăn (n=300) (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w