Từ kết quả hội thảo tại 4 điểm nghiên cứu chúng tôi rút ra kết luận: - Số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng rất đa dạng được chia thành các nhóm gồm song mây, lá nón; lương th
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 52, 2009
GIẢI PHÁP BẢO TỒN LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Lê Thị Diên, Ngô Trí Dũng, Hà Huy Anh Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tới 64% tổng diện tích tự nhiên của huyện Trong khi phải chờ đợi nguồn thu lâu dài từ rừng trồng (chủ yếu là keo), thì người dân nơi đây thường dựa vào nguồn thu nhập phụ nhưng rất quan trọng từ lâm sản ngoài gỗ Từ kết quả hội thảo tại 4 điểm nghiên cứu chúng tôi rút ra kết luận: (-) Số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng rất đa dạng được chia thành các nhóm gồm song mây, lá nón; lương thực, thực phm, cây thuốc và nhóm loài khác Số loài được người dân sử dụng có sự khác nhau ở các điểm nghiên cứu (-) Các mối đe dọa đối với sự tồn tại của các loài lâm sản ngoài gỗ được xác định là do mất nơi cư trú, nhu cầu thị trường tiêu thụ và nhu cầu sử dụng trong gia đình ngày càng cao, khai thác không đảm bảo tái sinh; (-) Các giải pháp gây trồng được đề xuất ở rừng tự nhiên, rừng trồng và vườn nhà, tập trung chủ yếu ở một số loài ưu tiên như song mây, lá nón, ong mật, cây thuốc nam, dâu tây, dâu búng
I Đặt vấn đề
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích tự nhiên là 65.051,8 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 4.019,38 ha, đất lâm nghiệp
là 41.799,31 ha, còn lại là đất khác và chưa sử dụng Dân số toàn huyện là 23.117 người (2006), gồm 2 dân tộc Kinh và Cơ-tu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 41%
Do có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tới 64% tổng diện tích tự nhiên nên nghề rừng có vai trò rất quan trọng đối với người dân nơi đây
Tuy nhiên, trong khi phải chờ đợi nguồn thu lâu dài từ rừng trồng (chủ yếu là keo), thì người dân nơi đây thường dựa vào nguồn thu nhập phụ nhưng rất quan trọng từ lâm sản ngoài gỗ Do nhu cầu thị trường đối với một số loại lâm sản ngoài gỗ như song mây, lá nón, mật ong ngày càng tăng, cộng với diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp nên nguồn tài nguyên này ngày càng trở nên bị suy giảm trong một vài năm trở lại đây
Trang 2thảo "Chia sẻ kinh nghiệm với người dân trong bảo tồn và nhân giống lâm sản ngoài gỗ" tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế với sự tài trợ của Quỹ Ford
II Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng tại vùng nghiên cứu;
- Các mối đe dọa và giải pháp bảo tồn cho các nhóm loài lâm sản ngoài gỗ;
- Khả năng gây trồng một số loài lâm sản ngoài gỗ ưu tiên tại vùng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu bao gồm 4 thôn: thôn 1 và thôn 3 (xã Thượng Quảng); thôn
5 (xã Thượng Lộ) và thôn LAHIAR (xã Hương Sơn)
Thảo luận theo chủ đề, cho điểm độc lập, thuyết trình
III Kết quả nghiên cứu
3.1 Các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng tại vùng nghiên cứu
Kết quả thảo luận nhóm cho thấy các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân tại địa bàn nghiên cứu sử dụng rất đa dạng và được phân chia thành 4 nhóm loài, bao gồm:
- Nhóm loài song, mây, lá nón: mây nước, mây rút, mây tắt, mây hèo, mây voi, mây đắng, mây song, mây rả, mây trâu, mây nước nghé, mây phun, mây xoan, mây cám, lá nón, lá kè, lá cọ
- Nhóm loài lương thực, thực phNm: măng tre, măng nứa, măng lồ ô, môn vót,
lá me, chuối rừng, rau tai voi, chi lai, a chớt, rau rớn, rau tàu bay, rau dền, chân chim, tai nai, lá lốt, lá me, dư ngươu, tân lăng, rau má, rau ngố, xà lách xoong, ốc suối, tiêu rừng, a nằm, dong riềng, mật ong, mật ruồi, nấm mối, nấm mèo, cá sao, cá xanh, cá chình, bứa, sung, dâu búng, đào, dâu, chôm chôm
- Nhóm loài cây thuốc: sâm bồng, bông bác, chè dây, vàng đắng, củ rấu, lá khôi, kim cang, ngải cứu, lá kè, tra coong, môn thục, ca ting, lọt, mạch mảy, bách bộ, Rơ lẻ, Hlăng, môn thục, tía tô, hương nhu, xám, mã đề, sả, gừng, tranh, rau má, cộng sản, bạc hà, abố
- Nhóm loài khác: đoát, đót, ươi, nang, bời lời, dẻ, dầu lai, chuồn
Kết quả thống kê số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng tại các điểm nghiên cứu phân theo nhóm loài được thể hiện qua bảng 1
Trang 3Bảng 1: Số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng phân theo nhóm loài
Số loài
Tổng
Thôn 1 - Thượng Quảng
Thôn 3 - Thượng Quảng
Thôn 5 - Thượng Nhật
Thôn 1 - Hương Sơn
(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả hội thảo, 2007)
Trong số này, nhóm loài lương thực, thực phNm được người dân ở cả 4 thôn sử dụng nhiều nhất vì đây là nguồn thực phNm hàng ngày của những hộ sống phụ thuộc vào rừng Mặt khác, nguồn lâm sản phụ này được người dân sử dụng nhiều vì chúng có thể được thu hái quanh năm tùy theo nhu cầu sử dụng thực phNm của các hộ sống gần rừng Đặc biệt mật ong với tính đa chức năng được người dân sử dụng trong gia đình và bán với giá cao Tiếp theo đó là nhóm loài song, mây, lá nón, tuy chiếm tỷ trọng không cao bằng nhóm loài lương thực, thực phNm, nhưng đây là nhóm loài lâm sản ngoài gỗ rất quan trọng đối với người dân ở cả 4 thôn vì ngoài việc được sử dụng làm đồ dùng trong gia đình, phần lớn chúng được bán để tạo thu nhập cho các hộ gia đình sống phụ thuộc vào rừng, đặc biệt là hộ nghèo Nhóm cây thuốc tuy có tiềm năng rất lớn trong tự nhiên nhưng ít được người dân ở cả 4 thôn sử dụng vì có rất ít người dân biết cách sử dụng cây thuốc nam để chữa bệnh Nhóm lâm sản ngoài gỗ khác như các loài cho quả
và hạt phần lớn tập trung ở rừng tự nhiên, mặc dù có giá trị cao như ươi, dẻ , nhưng vẫn chưa tạo được giá trị hàng hóa, chính vì vậy cũng chưa đủ sức hút để người dân khai thác, sử dụng và phát triển
3.2 Các mối đe dọa và giải pháp bảo tồn cho các nhóm loài lâm sản ngoài gỗ
Kết quả thảo luận nhóm ở cả 4 thôn cho thấy mối đe dọa đối với khả năng tồn tại của mỗi nhóm loài lâm sản ngoài gỗ là khác nhau Chính từ sự khác nhau này, giải pháp bảo tồn cho các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân đưa ra cũng khác nhau Kết quả được thể hiện qua các bảng 2
Bảng 2: Mối đe dọa và giải pháp bảo tồn các loài lâm sản ngoài gỗ
- Nhu cầu của thị trường lớn; - Không phát đốt rừng tự nhiên,
Trang 4- Không có kế hoạch bảo vệ và phát triển
thác phải chừa lại cây làm giống;
- Có kế hoạch gây trồng và chăm sóc cây con;
- Tuyên truyền nhận thức lâu dài cho người dân
2 Mật ong,
mật ruồi
- Giá thị trường cao;
- Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp;
- Cách khai thác theo kiểu hủy diệt của người dân (dùng lửa)
- Nhu cầu dùng trong gia đình lớn
- Dùng khói khi khai thác
- Nuôi ong qui mô hộ gia đình
3 Thực phNm
- Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp;
- Số lượng ngoài tự nhiên còn nhiều,
ít bị đe dọa
- Cải tạo vườn hộ;
- Trồng rau thâm canh
4 Cây thuốc
- Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp;
- Phần lớn số lượng các loài ngoài tự nhiên còn nhiều, ít bị đe dọa;
- Tuy nhiên, một số loài quý hiếm bị khai thác cạn kiệt
- Trồng vườn nhà;
- Tuần tra, quản lí bảo vệ trên diện tích được giao
5 Loài thuần
hóa
- Khó khăn chủ yếu là thời gian sinh trưởng dài, hiệu quả kinh tế đem lại chưa cao
- Hiện tại người dân mới thuần hóa được một số loài cây cho ăn quả như đào, dâu, chôm chôm
- Đảm bảo đầu ra cho sản phNm các loài đã được thuần hóa
- Thuần hóa thêm một số loài có giá trị cao như ươi, dẻ, bời lời bằng cách dựng các mô hình phục hồi và làm giàu rừng
(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả hội thảo, 2007)
Có thể nhận thấy, mối đe dọa lớn nhất đối với hầu hết các nhóm loài lâm sản ngoài gỗ tại địa bàn nghiên cứu là diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp do chuyển đổi loại rừng (từ rừng tự nhiên sang rừng trồng nhằm giải quyết vấn đề đảm bảo người dân sống gần rừng có thể sống được bằng nghề rừng) Nhu cầu thị trường ngày càng cao là mối
đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của nhóm loài song mây, lá nón và mật ong vì tại thời điểm nghiên cứu giá 1 kg mây nước, mây song là 2.500 đồng, 100 sợi mây rút giá 8.000
- 12.000 đồng; 100 lá nón giá từ 6.000 - 10.000 đồng; 1 chai mật ong (65ml) giá từ 40.000 - 150.000 đồng (tùy chất lượng) Đây chính là sức hút người dân địa phương vào rừng khai thác các loài lâm sản ngoài gỗ này, đặc biệt trong lúc nông nhàn Ngoài ra, hai nhóm loài này còn chịu mối đe dọa đến khả năng tái sinh loài do người dân không có ý thức khi tham gia khai thác Họ cho rằng lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên ai cũng
có quyền khai thác, họ vào rừng với mục đích khai thác được càng nhiều càng tốt nên hầu như không có ai quan tâm đến việc khai thác phải đảm bảo tái sinh
Trang 5Bên cạnh các mối đe dọa trên, các nhóm loài còn chịu sức ép từ nhu cầu tiêu thụ hàng ngày của các hộ gia đình sống gần rừng Mặc dù với quan niệm của người dân, mối đe dọa này dường như không tác động nhiều đến khả năng tồn tại của các nhóm loài lâm sản ngoài gỗ, nhưng theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, một khi các lâm sản này trở thành hàng hóa (ví dụ như rau dớn, rượi đoác, chè dây, vàng đắng ) thì nguồn cung cấp từ tự nhiên sẽ không đủ cho hoạt động khai thác của người dân, và nguy cơ dẫn tới tuyệt chủng các loài này là rất cao
Giải pháp được người dân đưa ra nhằm giảm thiểu các mối đe dọa tập trung chủ yếu ở các nhóm bảo vệ nơi cư trú (rừng tự nhiên); quản lý hoạt động khai thác (bao gồm
cả nơi khai thác và kỹ thuật khai thác); gây trồng và tuyên truyền để mọi người hiểu được tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ đối với sinh kế của người dân
3.3 Khả năng gây trồng một số loài lâm sản ngoài gỗ ưu tiên tại vùng nghiên cứu
Mặc dù số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân tại vùng nghiên cứu sử dụng nhiều, nhưng qua thảo luận nhóm, người dân ở các thôn đã lựa chọn một số loài ưu tiên cho kế hoạch gây trồng của thôn mình dựa trên kinh nghiệm họ đã tích lũy được, cụ thể như sau:
Bảng 3: Khả năng gây trồng một số loài lâm sản ngoài gỗ ưu tiên tại vùng nghiên cứu
Loài/nhóm
loài ưu tiên
Khả năng gây trồng Thôn 1 -
Thượng Quảng
Thôn 3 - Thượng Quảng
Thôn 5 - Thượng Nhật
Thôn 1 – Hương Sơn
Song mây
- Trồng trên vườn
hộ, trồng xen trên rừng trồng
- Trồng trên diện tích rừng được giao
- Rừng giao cho nhóm
hộ
- Lấy cây con từ rừng
- Phát dây leo bụi rậm
Trồng trên diện tích rừng
tự nhiên sẽ giao
Trồng trên diện tích rừng tự nhiên
sẽ giao
Lá nón
Trồng trên diện tích rừng được giao
- Rừng giao cho nhóm
hộ
- Lấy cây con từ rừng
- Phát dây leo bụi rậm
Mật ong, mật
ruồi
Nuôi ong hộ gia đình Vườn hộ
diện tích giao
Trang 6Trong số các nhóm loài lâm sản ngoài gỗ được ưu tiên lựa chọn, nhóm loài song mây được người dân ở cả 4 thôn lựa chọn để gây trồng và bảo vệ Ngoài song mây, người dân ở thôn 1 và thôn 3 (xã Thượng Quảng) rất chú trọng đến việc gây trồng và phát triển lá nón vì họ nhận được sự đầu tư từ dự án và họ nhận thức được rằng nguồn song mây và lá nón ngày càng suy giảm do khai thác quá mức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của các hộ gia đình nơi đây Ngoài ra, hoạt động gây trồng lâm sản ngoài
gỗ nói chung ở hai thôn này thuận lợi hơn thôn 5 (xã Thượng Nhật) và thôn LAHIAR (xã Hương Sơn) do rừng tự nhiên tại hai thôn này đã được giao cho nhóm hộ quản lý Việc gây trồng lâm sản ngoài gỗ trên diện tích được giao thông qua việc phát dây leo bụi rậm và trồng dặm cây con đã được người dân áp dụng
Tiềm năng cây thuốc nam tại địa phương rất lớn nhưng chưa chú trọng đúng mức và chưa có giá trị hàng hóa, người dân mất dần các bài thuốc dân gian và xu hướng thay thế bằng thuốc tây tại trạm y tế của xã Mặc dù vậy, ngoại trừ thôn 5 (xã Thượng Nhật), người dân ở cả ba thôn còn lại đều đề xuất hoạt động gây trồng cây thuốc nam ở vườn nhà hoặc vườn rừng do có nguồn cung cấp giống và dễ gây trồng Đặc biệt trong bối cảnh giá thuốc tây leo thang như hiện nay, cây thuốc nam chính là sự lựa chọn của người dân, đặc biệt là dân nghèo để chữa các loại bệnh thông thường
Nuôi ong qui mô hộ gia đình chưa được phát triển theo chiều rộng và chiều sâu
do khó khăn về nguồn giống và kĩ thuật nuôi trồng nên chỉ có hai thôn lựa chọn giải pháp nuôi ở quy mô hộ gia đình trong vườn, đó là thôn 3 (xã Thượng Quảng) và thôn 5 (xã Thượng Nhật) do giá thị trường cao và tận dụng đất đai vườn hộ
Các loài khác như dâu búng, dâu tây chưa được người dân chú trọng do chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, thời gian cho quả dài, nên chỉ có người dân ở thôn 5 (xã Thượng Nhật) đề xuất gây trồng trên diện tích rừng tự nhiên sẽ giao cho dân
IV Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
- Số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng rất đa dạng và có sự khác nhau ở các điểm nghiên cứu
- Các mối đe dọa đối với sự tồn tại của các loài lâm sản ngoài gỗ được xác định
là do mất nơi cư trú, nhu cầu thị trường tiêu thụ và nhu cầu sử dụng trong gia đình ngày càng cao, khai thác không đảm bảo tái sinh;
- Các giải pháp gây trồng được đề xuất ở rừng tự nhiên, rừng trồng và vườn nhà, tập trung chủ yếu ở một số loài ưu tiên như song mây, lá nón, ong mật, cây thuốc nam, dâu tây, dâu búng
Trang 74.2 Kiến nghị
- Chọn các hộ điển hình tham quan học hỏi mô hình đã gây trồng thành công để
áp dụng tại địa bàn
- Dự án tạo điều kiện đầu tư phát toàn bộ dây leo bụi rậm, xác định ranh giới diện tích để trồng các loại lâm sản ngoài gỗ: mây nước, lá nón
- Đầu tư các vật tư cần thiết để phát triển vườn thuốc nam qui mô hộ gia đình: nguồn giống địa phương chưa có, trang thiết bị phục vụ vườn ươm
- Đầu tư trồng các loài cây cho lâm sản ngoài gỗ, nên chú trọng các loài có giá trị kinh tế cao như điền trúc, dẻ việc nhân giống và gây trồng lâm sản ngoài gỗ chỉ phục vụ cho diện tích giao cho cộng đồng
- Gieo ươm thử nghiệm các loài lâm sản ngoài gỗ thực sự đem lại kết quả cho người dân, đặc biệt cải thiện thu nhập cho bà con trong thôn như mây nước, mây tắt, lá nón, song Kế hoạch hoạt động phải rõ ràng gắn với thời gian cụ thể và phải mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thanh Chiến, Dự án sử dụng bền vững LSNG để bảo tồn rừng và tài nguyên rừng,
Tạp chí Lâm nghiệp, số 9/1998
2. Levang P.; de Foresta H, Các loại cây kinh tế của Indonesia, Cretom and Seameo
Biotrop, 1991
3. Mendelsohn, Non-Timber Forest Product, Tropical Forest Handbook, Volume 2, 1992
4 Phạm Xuân Hoàn, Triệu Văn Hùng, Phạm Văn Điển, Nguyễn Trung Thành, Võ Đại
Hải, Một số vấn đề trong lâm học nhiệt đới, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2004
5. Raintree J.B; Lê Thị Phi, Nguyễn Văn Dương, Báo cáo về khảo sát các vấn đề khó khăn liên quan đến bảo tồn và các cơ hội phát triển trong vùng đệm thuộc Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Kẻ Gỗ, Trung Tâm Nghiên Cứu các Lâm Sản Ngoài Gỗ, 1999
6. Schmincke K H, Các lâm sản ngoài gỗ liên quan đến thu nhập nông thôn và lâm nghiệp bền vững, Tổ Chức Lương Nông Thế Giới, 1995
7. Trần Ngọc Lân, Phát triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, NXB Nông nghiệp, 1999
Trang 8SOLUTIONS TO NON-TIMBER FOREST PRODUCTS CONSERVATION
IN NAM DONG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE
Le Thi Dien, Ngo Tri Dung, Ha Huy Anh College of Agriculture and Forestry, Hue University
SUMMARY
Nam Dong is a mountainous district officially belonging to Thua Thien Hue province of which forests cover 64% of the total area While current Acacia plantation provides long-term benefits, local people are still dependant on the non-timber forest products (NTFPs) for short-term benefits From series of forest workshops conducted in 4 villages, our findings show that (i) the number of NTFPs are very diverse with different categories such as rattan, Rhapis laosensis (leaf for making conical hat); food stuff, and medicinal herbs The number of species used by the local are also variable at different villages; (ii) Threats to NTFPs include loss of habitat, high demand of market and home consumption, and destructive harvest without regeneration facilitation; and (iii) the conservation practices range from plantation in natural forests, home garden and high priority is on such species as rattan, Rhapis laosensis, bee-keeping, medicinal herbs, and wild fruit trees