1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "XÁC LẬP MÔ HÌNH KINH TẾ NÔNG HỘ PHÙ HỢP VỚI CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI CẢNH QUAN LÃNH THỔ ĐỒI NÚI TỈNH QUẢNG BÌNH" ppt

7 532 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 159,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 53, 2009 XÁC L ẬP MÔ HÌNH KINH TẾ NÔNG HỘ PHÙ HỢP VỚI CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI C ẢNH QUAN LÃNH THỔ ĐỒI NÚI TỈNH QUẢNG BÌNH Hà V ăn Hành, Trần Thúy Hằng

Trang 1

T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 53, 2009

XÁC L ẬP MÔ HÌNH KINH TẾ NÔNG HỘ PHÙ HỢP VỚI CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI C ẢNH QUAN LÃNH THỔ ĐỒI NÚI TỈNH QUẢNG BÌNH

Hà V ăn Hành, Trần Thúy Hằng

Tr ường Đại học Khoa học, Đại học Huế

TÓM T ẮT

T ỉnh Quảng Bình có điều kiện tự nhiên phong phú, thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghi ệp toàn diện Tuy nhiên, trong những năm qua nền nông nghiệp ở đây phát triển chưa

t ương xứng với tiềm năng sẵn có Vì vậy, việc xác lập các mô hình kinh tế sinh thái nông hộ phù

h ợp với đặc điểm sinh thái cảnh quan của các tiểu vùng là rất cần thiết

Trong khuôn kh ổ của bài báo này, chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ

t ự nhiên và tìm hiểu đặc điểm sinh thái của từng tiểu vùng, từ đó đề xuất một số mô hình kinh tế nông h ộ đặc trưng cho từng tiểu vùng sinh thái cảnh quan khu vực đồi núi tỉnh Quảng Bình

I Đặt vấn đề

Tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đã được con người nhận thức từ lâu,

nhưng muốn có kết quả cao thì phải dựa vào sự nỗ lực của hệ thống các hộ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do quan niệm trước đây về kinh tế hộ gia đình đồng nghĩa với kinh tế cá thể và mang những xu hướng phát triển tiêu cực nên chính sách kinh tế của nhà nước ta là nhằm chủ yếu vào việc phát triển các loại hình kinh tế có quy mô lớn

như: hợp tác xã, nông trường, xí nghiệp quốc doanh mà quên đi một chức năng quan

trọng của hộ gia đình, đó là chức năng kinh tế Chính điều này đã được C Mác nêu rõ:

“Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có

lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không sử dụng lao động làm thuê”

Với chính sách đổi mới, kinh tế cá thể và hộ gia đình được thừa nhận là 1 trong

6 thành phần kinh tế chủ yếu của đất nước Kinh tế hộ gia đình với quy mô nhỏ và có tính năng động cao đã vượt qua những cơn sóng gió của cơ chế thị trường để phục hồi

và phát triển Ngoài ra, kinh tế hộ còn có vai trò là tạo tiền đề về tài chính, kinh nghiệm

sản xuất và quản lý để phát triển kinh tế trang trại

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải Bắc Trung bộ với diện tích đồi núi chiếm khoảng 85% tổng diện tích tự nhiên Ở đây có điều kiện tự nhiên phong phú, thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện Tuy nhiên, trong những năm qua kinh tế Quảng Bình vẫn còn khó khăn, nông nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm

năng sẵn có Vì vậy, việc xác lập các mô hình kinh tế sinh thái nông hộ phù hợp với đặc điểm sinh thái cảnh quan của các tiểu vùng là rất cần thiết

Trang 2

II S ự phân hóa lãnh thổ tự nhiên và các tiểu vùng sinh thái cảnh quan vùng đồi núi Qu ảng Bình

2.1 Khái quát v ề điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình

a V ị trí địa lý: Quảng Bình có diện tích tự nhiên 8.051,8 km2

nằm trải dài từ 16°55’ đến 18°05’ vĩ Bắc và từ 105°37’ đến 107°00’ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hà

Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân

Lào và phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 110 km

b Địa hình: Địa hình có đặc trưng chủ yếu là hẹp và dốc, nghiêng từ Tây sang

Đông, đồi núi chiếm khoảng 85% diện tích toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh Vùng núi phía Tây có độ cao trung bình từ 1.000 - 1.500 m, trong đó cao nhất là đỉnh Phi Co Pi 2.017 m,

kế tiếp là vùng đồi dạng bát úp Gần bờ biển có dải đồng bằng nhỏ và hẹp với nhiều cồn cát và dải cát chạy dọc bờ

c Th ổ nhưỡng: Tài nguyên đất được chia thành 2 hệ chính: Đất phù sa ở vùng

đồng bằng và hệ Feralit ở vùng đồi và núi với 5 nhóm chủ yếu là: Nhóm đất đỏ vàng; nhóm đất cát; đất mặn; đất phù sa; đất lầy và than bùn, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên và phân bố ở vùng đồi núi

d Khí h ậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, có sự chi phối sâu sắc

của địa hình và luôn bị tác động bởi khí hậu của 2 miền Nam - Bắc Vì vậy, khí hậu có 2 mùa rõ rệt: Mùa ít mưa (từ tháng II đến tháng VIII) và mùa mưa (từ tháng IX đến tháng I

năm sau)

Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300 mm/năm, phân bố không đồng đều

giữa các vùng và các tháng trong năm Thời gian mưa tập trung vào các tháng IX, X và

XI, trong đó tháng X có lượng mưa chiếm gần 30% tổng lượng mưa cả năm

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 250

C Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng VI, VII và VIII, nhiệt độ có lúc lên đến 400

C

Độ ẩm tương đối ở Quảng Bình thuộc vào loại cao, trung bình năm từ 83 - 84%

Độ ẩm thấp nhất vào những ngày có gió Tây Nam khô nóng (< 50%) và cao nhất vào các tháng cuối đông (tháng XII, I) do hiện tượng mưa phùn

e Thu ỷ văn: Trên địa bàn tỉnh có 5 sông lớn là: sông Gianh, sông Ròn, sông

Nhật Lệ (là hợp lưu của sông Kiến Giang và sông Long Đại), sông Lý Hoà và sông Dinh với tổng lưu lượng nước khoảng 4 tỷ m³/năm Các sông này ngắn và dốc nên tốc

độ dòng chảy lớn Chế độ thủy văn các sông này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mưa lũ ở

thượng nguồn và chế độ thuỷ triều ở hạ lưu

f Sinh v ật: Quảng Bình nằm trong khu hệ động, thực vật Trường Sơn Bắc với sự

đa dạng về thành phần loài, trong đó có nhiều nguồn gen quý hiếm Đặc trưng cho đa

dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng

Trang 3

Về động vật, Quảng Bình có 67 loài thú, 48 loài bò sát, 297 loài chim…, trong

đó có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ,

Về thực vật, Quảng Bình có 138 họ, 401 chi, 640 loài khác nhau Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỷnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm

sản quý khác Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc

2.2 S ự phân hóa lãnh thổ tự nhiên vùng đồi núi Quảng Bình

Là một tỉnh có chiều ngang hẹp, phía Tây lại giáp núi và phía Đông giáp biển nên địa hình Quảng Bình phân hóa đa dạng và phức tạp, vừa có đồng bằng ven biển,

vừa có địa hình đồi và địa hình núi Dựa vào các nguyên tắc phân vùng và trên cơ sở đặc thù của lãnh thổ, ranh giới các vùng và tiểu vùng lãnh thổ đồi núi tỉnh Quảng Bình được xác định theo các bậc địa hình như sau:

+ Vùng đồi: Có độ cao tuyệt đối từ 10 - 300 m và độ cao tương đối từ 10 - 100m Vùng này được chia làm 2 dạng địa hình: Dạng địa hình đồi thấp từ 10 - 150 m với độ chia

cắt sâu dưới 50 m và dạng địa hình đồi cao từ 150 - 300 m với độ chênh cao từ 50 - 100 m

+ Vùng núi: Được xác định từ độ cao 300 m trở lên với độ cao tương đối trên

100 m Trong lãnh thổ nghiên cứu có 2 dạng địa hình là: Dạng địa hình núi thấp có độ cao từ 300 - 750 m và dạng địa hình núi trung bình có độ cao trên 750 m

2.3 Đặc điểm các tiểu vùng sinh thái cảnh quan lãnh thổ đồi núi tỉnh Quảng Bình

a D ạng địa hình đồi thấp: Đây là địa hình chiếm diện tích lớn nhất lãnh thổ với

2.164 km2, chiếm hơn 26% diện tích tự nhiên của cả tỉnh Ở đây, nhiệt độ từ 24 - 250

C, địa hình ít dốc, nhiều nơi khá bằng phẳng Trong địa hình này có các loại đất như: Đất xám feralit (Xf), đất mới biến đổi chua (CMc), đất phù sa chua (Pc)… Địa hình này có điều kiện thuận lợi hơn hẳn các địa hình khác về nhiều mặt, nhất là giao thông, nguồn

nước nên dân cư tập trung đông đúc và kinh tế khá phát triển Tuy nhiên, cũng còn

một số nơi chưa khai thác hết quỹ đất

b D ạng địa hình đồi cao: Địa hình này có 2 tiểu vùng, phân bố ở phía Tây Bắc

và phía Tây Nam lãnh thổ với tổng diện tích là 2.042 km2

, chiếm 25% diện tích tự nhiên

của tỉnh Đặc điểm thổ nhưỡng ở đây khá phong phú, bao gồmđất xám feralit (Xf), đất phù sa chua (Pc), đất phù sa trung tính ít chua (P) Ở đây, nhiệt độ khoảng 23 - 240

C,

độ ẩm tương đối khá cao so với đồng bằng Tuy nhiên, thảm thực vật tự nhiên ở vùng này

chủ yếu là cây bụi và cỏ tranh, lau lách Một số nơi có thảm thực vật nhân tác như: keo lá tràm, thông và cao su với diện tích tương đối lớn

c D ạng địa hình núi thấp: Với tổng diện tích 1.909 km2

, chiếm hơn 23% diện tích tự nhiên của cả tỉnh với nhiệt độ từ 22 - 230

C Địa hình núi thấp phân bố dọc theo biên giới phía Tây lãnh thổ và bị chia thành 2 phần bởi khối núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng nên tạo thành 2 tiểu vùng là tiểu vùng núi thấp Tây Bắc và tiểu vùng núi thấp Tây

Trang 4

Nam Lớp phủ thổ nhưỡng đặc trưng ở đây là các loại đất feralit Địa hình nhìn chung

biến đổi đều đặn hơn tiểu vùng núi trung bình nhưng nhiều nơi vẫn bị chia cắt mạnh Ngoài các khu rừng tự nhiên và rừng trồng, ở đây còn một số diện tích đất chưa sử dụng

tương đối lớn

d D ạng địa hình núi trung bình: Địa hình này có độ cao tuyệt đối trên 750 m

với tổng diện tích khoảng 213,4 km2

, chiếm khoảng 3% diện tích toàn tỉnh và phân chia thành 2 tiểu vùng là tiểu vùng núi trung bình phía Tây Bắc và tiểu vùng núi trung bình phía Tây Nam Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh, rất dốc, có nhiều đỉnh núi cao trên 1.000

m, với nhiệt độ từ 21 - 220

C Ở đây có các loại đất chủ yếu là đất xám feralit (Xf) và đất xám mùn trên núi (Xh) Thực vật chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng với trữ

lượng gỗ tương đối lớn

Ngoài ra, trong lãnh thổ nghiên cứu còn có tiểu vùng đã vôi Phong Nha – Kẽ

Bảng với địa hình hiểm trở, thảm thực vật phong phú đa đạng nên hướng khai thác sử

dụng chủ yếu là phục vụ cho phát triển du lịch và xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên

S Ơ ĐỒ CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI CẢNH QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH

Trang 5

III Đề xuất các mô hình kinh tế nông hộ đặc trưng cho các tiểu vùng sinh thái

c ảnh quan

3.1 C ơ sở khoa học của việc đề xuất

Để phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp thì yếu tố quan trọng phải được đặt lên hàng đầu là “Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa” Điều này có nghĩa là cần có mối tổng hòa giữa các yếu tố tự nhiên và yếu tố con người để tạo nên sự phát triển bền vững Vì vậy, việc đề xuất các mô hình kinh tế nông hộ đặc trưng cho các

tiểu vùng sinh thái cảnh quan cần đánh giá mức độ thích nghi và hiệu quả kinh tế của các mô hình đó, đồng thời cần quan tâm đến định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xem xét đến hiện trạng sử dụng đất của từng khu vực Có như vậy các

mô hình kinh tế nông hộ mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội và bảo

vệ môi trường

3.2 Đề xuất xây dựng mô hình kinh tế nông hộ phù hợp với điều kiện sinh thái

Xây dựng mô hình kinh tế sinh thái hợp lý thực chất là mô phỏng các mô hình

vốn có của tự nhiên và đưa thêm các yếu tố nhân sinh vào sao cho chúng có khả năng phát triển bền vững Việc xác lập mô hình này phải dựa vào nhu cầu sinh thái của các đối tượng sản xuất và đặc điểm sinh thái cụ thể của từng tiểu vùng Đối với lãnh thổ đồi núi Quảng Bình có thể phân ra 8 tiểu vùng với chức năng tổng quát và mô hình đề xuất được thể hiện ở bảng 1 như sau:

Bảng 1 Chức năng chính và mô hình đề xuất cho các tiểu vùng

ở khu vực đồi núi Quảng Bình

TT Vùng Ti ểu vùng Ch ức năng chính Mô hình đề xuất

- Núi trung bình Tây Bắc

- Núi trung bình Tây Nam

Phòng hộ Khoanh nuôi, bphục hồi tự nhiên ảo vệ

- Núi thấp Tây Bắc

- Núi thấp Tây Nam Phòng hộ - kinh tế

Rừng - Nông, lâm kết

hợp - Ruộng

- Núi đá vôi Phong Nha -

Khoanh nuôi, bảo tồn

đa dạng sinh học

- Đồi cao Tây Bắc

- Đồi cao Tây Nam Kinh tế - phòng hộ

Rừng - Vườn đồi - Chuồng - Ruộng

- Đồi thấp Kinh tế RRuừng - Vườn nhà - ộng - Ao

R ừng: Phục hồi rừng tự nhiên hoặc trồng rừng kinh tế

V ườn rừng: Trồng các cây hương liệu và dược liệu như: trầm hương, huê,

V ườn đồi: Cây công nghiệp dài ngày như: cao su, cà phê, chè, hồ tiêu Trồng keo

lá tràm ở những nơi đất bị thoái hóa và tầng dày mỏng để cải tạo đất

Trang 6

V ườn nhà: Trồng cây ăn quả (như: dứa, cam, quýt) và hồ tiêu

Chu ồng: Chăn nuôi gia súc như: bò, dê, lợn

Ao: Xây dựng ao nuôi cá, baba, lươn, ếch,

Ru ộng: Phát triển các cây trồng cạn ngắn ngày kết hợp với nuôi vịt hay thực

hiện mô hình cá - lúa

IV K ết luận

Qua nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ và đặc điểm của các tiểu vùng sinh thái

cảnh quan khu vực đồi núi Quảng Bình, bước đầu có thể rút ra một số kết luận sau:

- Vai trò của kinh tế nông hộ trong phát triển kinh tế đã được khẳng định là mô hình tiên tiến trong nông nghiệp nông thôn và nó bắt đầu xuất hiện ở Quảng Bình vào

những năm 1980, nhưng đến nay vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng lãnh thổ

- Điều kiện tự nhiên ở đây rất phong phú và có sự phân hóa đa dạng Trong lãnh

thổ tỉnh Quảng Bình đã phân hóa thành 3 vùng địa lý tự nhiên (núi, đồi và đồng bằng), trong đó vùng núi có 5 tiểu vùng và vùng đồi có 3 tiểu vùng sinh thái

- Lãnh thổ nghiên cứu có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một

nền nông nghiệp toàn diện Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao cần phải thiết lập các mô hình kinh tế sinh thái nông hộ và trang trại hợp lý, phù hợp với đặc điểm của các tiểu vùng

* Công trình này được hoàn thành trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu khoa học cơ bản giai đoạn 2006 - 2008 Đề tài mã số 71 30 06

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

1 Hà Văn Hành, Phân tích cấu trúc cảnh quan để xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông

h ộ hợp lý phục vụ cho việc định canh định cư ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế), Báo

cáo t ổng kết đề tài cấp Bộ, mã số: B97-07-21, Huế, 1999

2 Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nghiên cứu phát triển mô hình kinh tế trang trại ở

t ỉnh Quảng Bình, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Tỉnh, Hà Nội, 12/2006

3 Hoàng Đức Triêm và nnk, Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Bình Trị Thiên, Báo cáo

t ổng kết đề tài cấp Nhà nước, Huế, 1998

Trang 7

SETTING UP FARMER HOUSEHOLD ECONOMY MODEL SUITABLE FOR SMALL AREAS OF LANDSCAPE ECOLOGY IN THE HILLY AND MOUNTAINOUS TERRITORY OF QUANG BINH PROVINCE

Ha Van Hanh, Tran Thuy Hang College of Sciences, Hue University

SUMMARY

Quang Binh province has natural conditions, which is plentiful, favourable to develop a comprehensive agriculture However, in recent years, the development of agriculture has not corresponded to the potentiality available So setting up an ecological economy model suitable

to the landscape ecology characteristics is necessary

In the scope of this topic, we have carried out a careful research on the splitting of natural area and the learning about ecological characteristic, based on the result obtained to put forward some of farmer household economy models, which is a characteristic of small landscape ecology in the hilly and mountainous territory of Quang Binh province

Ngày đăng: 23/07/2014, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm