Dịch chiết từ cá Nóc đã tác động lên hệ huy ết học của chuột Swiss: làm giảm số lượng hồng cầu còn làm tăng số lượng bạch cầu và làm thay đổi công thức bạch cầu.. Ở nhóm có tiêm dịch chi
Trang 1T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 55, 2009
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘC TỐ CÁ NÓC (S SPADICEUS RICH) LÊN MỘT SỐ
TH ẢI ĐỘC CỦA NẤM HOÀNG CHI
Đoàn Suy Nghĩ, Hoàng Thị Hà
Tr ường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM T ẮT
Cá Nóc S spadiceus Rich được thu ở vùng biển Thừa Thiên Huế Độc tính cá Nóc được xác định trên chuột nhắt trắng Swiss có trọng lượng trung bình khỏang 30 - 30,5 gam Liều tiêm
là 0,1ml d ịch chiết từ trứng; gan hay cơ cá Nóc hoặc 1ml (dịch chiết từ nấm Hoàng chi và dịch chi ết từ cá Nóc) vào màng bụng chuột nhắt trắng Swiss Dịch chiết từ cá Nóc đã tác động lên hệ huy ết học của chuột (Swiss): làm giảm số lượng hồng cầu còn làm tăng số lượng bạch cầu và làm thay đổi công thức bạch cầu Ở nhóm có tiêm dịch chiết nấm và dịch chiết cá Nóc có số
l ượng hồng cầu bị giảm ít hơn còn số lượng bạch cầu tăng ít hơn và công thức bạch cầu cũng thay đổi ít hơn so với nhóm tiêm dịch chiết cá Nóc nhưng không tiêm dịch chiết từ nấm Hoàng chi K ết quả nghiên cứu chứng tỏ rằng: nấm Hòang chi có tác dụng bổ huyết
1 M ở đầu
Ngộ độc thực phẩm nói chung, ngộ độc cá nóc nói riêng đang là một hồi chuông báo động đối với vấn đề an toàn thực phẩm Đã có khá nhiều tài liệu công bố về độc tố
của cá nóc và tác dụng gây độc của nó [2, 5, 7 ] Song do người dân nhất là dân vùng
biển do thông tin không đến được hay là cho rằng thịt cá nóc thơm ngon, đã qua chế
biến thì không còn độc nữa nên vẫn ăn dẫn đến số vụ ngộ độc cá nóc ngày một tăng, gây thiệt hại về người và của Lĩnh vực nghiên cứu tìm kiếm các loài thảo dược có khả
năng hạn chế hay loại bỏ độc tố cá nóc, chì, thủy ngân, tài liệu công bố còn quá ít [8, 9, 10] Để tiếp tục tìm kiếm thảo dược hạn chế được độc tố cá nóc, chúng tôi đã chọn năm
nghiên cứu khả năng thải độc tố cá nóc (S spadiceus Rich) cho chuột nhắt trắng dòng
Swiss
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Nấm Hoàng chi Ganoderma colossum do TS Ngô Anh - Khoa Sinh học,
Trường Đại học Khoa học Huế cung cấp
- Phương pháp chiết nấm Hoàng chi bằng nước theo tài liệu [9]
Trang 2- Cá nóc tròn đen S spadiceus Rich thu ở vùng biển Thuận An, huyện Phú Lộc,
tỉnh Thừa Thiên Huế Cá nóc có trọng lượng cơ thể là 400 g trong đó trọng lượng trứng
là 29,240 g và trọng lượng gan là 20,078 g
- Phương pháp chiết độc tố từ trứng, gan và cơ cá nóc theo tài liệu [3]
- Chuột nhắt trắng dòng Swiss khỏe mạnh, có trọng lượng trung bình 30 – 30,5 g, không phân biệt giới tính, được phân thành 7 lô: Lô đối chứng sinh học (ĐCSH: Tiêm
nước cất); Lô tiêm dịch chiết trứng (TDCT: Tiêm dịch chiết trứng cá nóc);
Lô tiêm dịch chiết gan (TDCG: Tiêm dịch chiết gan cá nóc); Lô tiêm dịch chiết
cơ (TDCC: Tiêm dịch chiết cơ cá nóc); Lô tiêm dịch chiết trứng và dịch chiết Hoàng chi
chiết cơ và dịch chiết Hoàng chi (TDCC-HC) Chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc chuột ở các lô là giống nhau
- Dịch chiết từ trứng, gan và cơ cá nóc tiêm vào phúc mạc (TPM) chuột 1 liều duy nhất là 0,1 ml/con
- Dịch chiết từ nấm Hoàng chi cũng tiêm vào phúc mạc chuột liều thứ 1, thứ 2,
thứ 3 lần lượt ứng với thời gian là sau 30 phút, sau 1 giờ và sau 2 giờ kể từ khi tiêm dịch chiết cá nóc Mũi thứ 4, thứ 5 và thứ 6 dịch chiết từ nấm Hoàng chi lần lượt được tiêm vào 8 giờ sáng ngày thứ 2, thứ 3 và thứ 4 sau ngày tiêm dịch chiết cá nóc Liều tiêm
dịch chiết từ nấm Hoàng chi là 1 ml/con
- Phương pháp xác định các chỉ tiêu huyết học theo tài liệu [1] Máu được lấy ở
tĩnh mạch đuôi trước khi tiêm dịch chiết cá nóc (hay dịch chiết Hoàng chi) và sau 1
ngày ngừng tiêm (30 NNT)
3 K ết quả nghiên cứu (kqnc) và thảo luận
3.1 Xác định số lượng hồng cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng
Kết quả xác định số lượng hồng cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng ở các lô thí nghiệm được trình bày trong bảng 1
Bảng 1 Số lượng hồng cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng trong các lô thí nghiệm (LôTN)
NNT
Sau 21 NNT
Sau 30 NNT
Thời
gian
/1 mm3)
Trang 37,27 ± 0,03 6,66 ± 0,04 7,25 ± 0,03 7,66 ± 0,04 7,98 ± 0,03 7,91 ± 0,04 TDCT
Số lượng hồng cầu trung bình: 7,47 ± 0,03 (86,8%) 7,37 ± 0,05 6,96 ± 0,04 7,35 ± 0,03 7,86 ± 0,02 8,26 ± 0,06 8,20 ± 0,03 TDCT
-HC Số lượng hồng cầu trung bình: 7,66 ± 0,04 (89%)
7,15 ± 0,01 6,61 ± 0,02 7,19 ± 0,03 7,59 ± 0,04 7,80 ± 0,03 8,05 ± 0,02 TDCG
Số lượng hồng cầu trung bình: 7,37 ± 0,03 (85,6%) 7,29 ± 0,02 6,78 ± 0,01 7,31 ± 0,03 7,74 ± 0,02 8,01 ± 0,02 8,32 ± 0,01 TDCG
-HC Số lượng hồng cầu trung bình: 7,57 ± 0,02 (88%)
7,20 ± 0,02 6,72 ± 0,01 7,33 ± 0,03 7,75 ± 0,04 7,98 ± 0,02 8,11 ± 0,01 TDCC
Số lượng hồng cầu trung bình: 7,51 ± 0,02 (87,3%) 7,34 ± 0,01 6,89 ± 0,03 7,46 ± 0,01 7,90 ± 0,03 8,26 ± 0,01 8,53 ± 0,02 TDCC
-HC Số lượng hồng cầu trung bình: 7,73 ± 0,02 (89,8%)
Từ KQNC chúng tôi có nhận xét: Số lượng hồng cầu (SLHC) máu ngoại vi chuột nhắt trắng khỏe mạnh là khá ổn định Để có cơ sở so sánh, chúng tôi qui ước
giảm xuống và giảm nhiều nhất sau 3 ngày ngừng tiêm Sau 7NNT thì SLHC không
giảm thêm nữa mà bắt đầu quá trình tự hồi phục Sau 30NNT, ở lô TDCT có SLHC đạt
100% KQNC cho thấy tác động của dịch chiết trứng, gan, cơ cá nóc tròn đen có qui
luật giống như ở cá nóc nghệ đã công bố [3] Ở các lô TDCT-HC, TDCG-HC,
và quá trình tự hồi phục diễn ra nhanh hơn Cụ thể, sau 30NNT ở lô TDCT-HC có
so với ĐCSH là 100% Điều này chứng tỏ nấm Hoàng chi đã hạn chế được tác động của độc tố cá nóc tròn đen đối với sự phá hủy hồng cầu đồng thời kích thích sự tạo máu nên
số lượng hồng cầu bị giảm ít hơn và hồi phục nhanh hơn so với ở các lô chuột tiêm dịch chiết cá nóc nhưng không tiêm dịch chiết Hoàng chi
3.2 Xác định số lượng bạch cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng
Kết quả xác định số lượng bạch cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng ở các lô thí nghiệm được trình bày trong bảng 2
Trang 4Bảng 2 Số lượng bạch cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng trong các lô thí nghiệm (LôTN)
NNT
Sau 21
Thời
gian
/1mm3)
10,16 ± 0,05 10,60 ± 0,02 9,22 ± 0,03 8,54 ± 0,02 7,22 ± 0,03 7,23 ± 0,02 TDCT
Số lượng bạch cầu trung bình: 8,82 ± 0,03 (125,2%) 9,45 ± 0,05 9,86 ± 0,02 8,72 ± 0,03 8,32 ± 0,02 7,16 ± 0,01 7,15 ± 0,02 TDCT
-HC Số lượng bạch cầu trung bình: 8,44 ± 0,03 (119,8%)
10,13 ± 0,03 10,47 ± 0,02 9,10 ± 0,01 8,42 ± 0,02 7,29 ± 0,03 7,15 ± 0,01 TDCG
Số lượng bạch cầu trung bình: 8,76 ± 0,02 (124,4%) 8,65 ± 0,03 9,07 ± 0,04 8,60 ± 0,01 8,20 ± 0,02 7,23 ± 0,04 7,09 ± 0,02 TDCG
-HC Số lượng bạch cầu trung bình: 8,14 ± 0,03 (115,6%)
10,26 ± 0,04 10,50 ± 0,02 9,13 ± 0,02 8,40 ± 0,03 7,37 ± 0,01 7,10 ± 0,03 TDCC
Số lượng bạch cầu trung bình: 8,79 ± 0,03 (124,8%) 9,13 ± 0,01 9,31 ± 0,02 8,64 ± 0,03 8,21 ± 0,02 7,24 ± 0,04 7,03 ± 0,02
TDCC-HC Số lượng bạch cầu trung bình: 8,26 ± 0,02 (117,3%)
Từ KQNC chúng tôi có nhận xét: Số lượng bạch cầu (SLBC) máu ngoại vi chuột
nhắt trắng khỏe mạnh là khá ổn định Để có cơ sở so sánh, chúng tôi qui ước SLBC máu ngoại vi chuột lô ĐCSH là 100% Ở các lô TDCT, TDCG, TDCC có SLBC tăng lên và
tăng cao nhất sau 3 NNT Sau 7 NNT thì SLBC không tăng thêm nữa mà bắt đầu quá
đạt 101,5%, lô TDCC có SLBC đạt 100,8% so với ĐCSH là 100% KQNC cho thấy tác động của dịch chiết trứng, gan, cơ cá nóc tròn đen lên SLBC có qui luật giống như ở cá
so với ĐCSH nhưng tăng ít hơn so với các lô TDCT, TDCG, TDCC và quá trình tự hồi
phục diễn ra nhanh hơn Cụ thể, sau 30NNT, ở lô TDCT-HC có SLBC đạt 101,5%, lô
phản ứng miễn dịch của cơ thể nên đã hạn chế được sự tăng bạch cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng
Trang 53.3 Xác định công thức bạch cầu (CTBC) máu ngoại vi chuột nhắt trắng
CTBC là tỷ lệ phần trăm các loại bạch cầu đối với tổng số bạch cầu trong máu
gồm bạch cầu lympho (Lymphocyte: L), bạch cầu trung tính (Neutrophile: N), bạch cầu đơn nhân (Monocyte: M), bạch cầu ưa axít (Eosinophile: E) và bạch cầu ưa kiềm (Basophile: B)
Kết quả xác định CTBC máu ngoại vi chuột nhắt trắng ở các lô thí nghiệm được trình bày trong bảng 3
Bảng 3 Công thức bạch cầu máu ngoại vi chuột nhắt trắng trong các lô thí nghiệm
Sau 1 NNT
Sau 3 NNT
Sau 7 NNT
Sau 14 NNT
Sau 21 NNT
Sau 30 NNT
Thời gian
(%)
L = 67,7 ± 0,6 M = 3,3 ± 0,2
N = 27,6 ± 0,5 E + B = 1,4 ± 0,1 N/L = 0,40
L 51,0 ± 2,0 50,0 ± 3,0 55,0 ± 3,0 62,5 ± 2,0 67,0 ± 3,0 68,0 ± 2,0
N 39,0 ± 1,0 40,0 ± 2,0 35,0 ± 4,0 28,5 ± 1,5 26,0 ± 1,0 27,0 ± 1,5
M 5,5 ± 0,2 6,0 ± 0,1 6,5 ± 0,6 6,0 ± 0,7 5,0 ± 0,4 3,5 ± 0,3 E+B 4,5 ± 0,1 4,0 ± 0,1 3,5 ± 0,4 3,0 ± 0,3 2,0 ± 0,2 1,5 ± 0,1
TDCTtttt
TDCT
L 65,0 ± 0,3 64,2 ± 0,6 65,5 ± 0,6 67,0 ± 0,5 67,9 ± 0,5 69,0 ± 0,6
N 29,6 ± 0,5 30,0 ± 2,0 29,7 ± 0,2 29,3 ± 0,4 28,6 ± 0,4 28,0 ± 0,5
M 3,4 ± 0,4 3,6 ± 0,2 3,3 ± 0,2 2,5 ± 0,2 2,3 ± 0,2 2,0 ± 0,1 E+B 2,0 ± 0,2 2,2 ± 0,1 1,5 ± 0,1 1,2 ± 0,1 1,2 ± 0,1 1,0 ± 0,1 TDCT - HC
L 53,5 ± 1,0 53,2 ± 0,5 60,0 ± 2,0 65,5 ± 1,5 66,1 ± 2,0 67,8 ± 2,5
N 36,5 ± 0,5 35,9 ± 0,8 30,0 ± 1,0 26,5 ± 1,0 26,2 ± 1,5 26,5 ± 1,5
M 5,5 ± 0,2 5,4 ± 0,4 5,6 ± 0,8 4,5 ± 0,6 4,5 ± 0,5 3,7 ± 0,4 E+B 5,0 ± 2,0 5,5 ± 0,3 4,4 ± 0,4 3,5 ± 0,3 3,2 ± 0,2 2,0 ± 0,1
TDCG
TDCT
TDCT
TDCG
L 66,0 ± 1,0 65,5 ± 0,3 66,7 ± 0,6 67,6 ± 0,5 68,5 ± 0,6 69,0 ± 2,0 TDCG-HC
N 28,7 ± 0,3 29,1 ± 0,5 28,5 ± 0,2 28,0 ± 0,3 27,5 ± 0,4 27,0 ± 1,0
Trang 6M 3,3 ± 0,5 3,8 ± 0,4 3,4 ± 0,3 3,2 ± 0,2 3,0 ± 0,1 3,0 ± 0,2 E+B 2,0 ± 0,1 1,6 ± 0,1 1,4 ± 0,1 1,2 ± 0,1 1,0 ± 0,1 1,0 ± 0,1
L 55,5 ± 0,4 54,4 ± 0,6 60,5 ± 0,5 66,0 ± 3,0 68,2 ± 0,7 69,5 ± 0,5
N 35,5 ± 0,3 36,0 ± 3,0 31,5 ± 0,4 26,6 ± 0,5 26,0 ± 2,0 25,2 ± 0,6
M 4,6 ± 0,2 4,7 ± 1,0 5,0 ± 0,2 4,2 ± 0,1 3,5 ± 0,3 3,2 ± 0,3 E+B 4,4 ± 0,1 4,9 ± 0,1 3,0 ± 0,1 3,2 ± 0,2 2,3 ± 0,2 2,1 ± 0,1
TDCC
TDCC
L 66,5 ± 0,5 65,0 ± 2,0 66,9 ± 0,8 68,5 ± 0,5 69,2 ± 0,7 69,7 ± 0,8
N 28,6 ± 0,4 29,5 ± 0,5 28,4 ± 0,6 27,3 ± 0,6 27,0 ± 2,0 26,5 ± 0,5
M 3,1 ± 0,2 3,5 ± 0,5 3,2 ± 0,5 3,0 ± 1,0 2,8 ± 0,2 2,8 ± 0,3 E+B 1,8 ± 0,1 2,0 ± 0,2 1,5 ± 0,1 1,2 ± 0,2 1,0 ± 0,1 1,0 ± 0,1 TDCC-HC
Từ KQNC chúng tôi có nhận xét: Chuột khỏe mạnh (lô ĐCSH) có CTBC khá ổn định Khi TDCT, TDCG và TDCC đã làm thay đổi CTBC theo hướng bạch cầu trung
tăng cao nhất sau 7 NNT còn bạch cầu ưa axit và ưa kiềm tăng ít hơn Sau 3NNT hoặc sau 7 NNT đối với bạch cầu đơn nhân, diễn ra quá trình tự hồi phục CTBC trở về gần
với CTBC của chuột khỏe mạnh Sự thay đổi CTBC dưới tác động của độc tố cá nóc tròn đen tương tự như tác động của độc tố cá nóc nghệ đã công bố [3] Ở các lô
và ưa kiềm vẫn tăng so với lô ĐCSH còn tăng ít hơn so với ở các lô TDCT, TDCG và TDCC Ngược lại, bạch cầu trung tính vẫn giảm so với lô ĐCSH còn giảm ít hơn so với
ở các lô TDCT, TDCG và TDCC Quá trình hồi phục CTBC ở các lô TDCT-HC,
chứng tỏ nấm Hoàng chi đã kìm hãm sự thay đổi CTBC của máu ngoại vi chuột nhắt
trắng khi bị nhiễm độc tố cá nóc tròn đen nên nấm Hoàng chi cũng như nấm Linh chi
đều có tác dụng trung hòa hay đào thải được độc tố cá nóc tròn đen (S spadiceus Rich),
do vậy, gián tiếp hạn chế sự phá hủy bạch cầu
4 K ết luận
- Độc tố từ trứng, gan và cơ cá nóc tròn đen (S spadiceus Rich) đã làm giảm số
lượng hồng cầu còn nấm Hoàng chi đã kìm hãm sự giảm số lượng hồng cầu của máu ngoại vi chuột nhắt trắng so với chuột khỏe mạnh
Trang 7- Độc tố từ trứng, gan và cơ cá nóc tròn đen (S spadiceus Rich) đã làm tăng số
lượng bạch cầu còn nấm Hoàng chi đã kìm hãm sự tăng số lượng bạch cầu của máu ngoại vi chuột nhắt trắng so với chuột khỏe mạnh
- Độc tố từ trứng, gan và cơ cá nóc tròn đen (S spadiceus Rich) đã làm thay đổi
trắng so với chuột khỏe mạnh
Công trình có sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học Tự nhiên
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế, Kỹ thuật xét nghiệm cơ bản huyết học, NXB Y học, (2002)
2 Ngô Đức Chứng, Hoàng Thị Nghiệp, Cá nóc ở Thừa Thiên Huế: thành phần loài và tác
d ụng ngộ độc, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Sở KH&CN Thừa Thiên Huế, Số 2,
(2003), 3 – 7
3 Nguyễn Thị Hà, Đoàn Suy Nghĩ, Nghiên cứu tác động của độc tố cá Nóc Nghệ S inermis T&S lên m ột số chỉ tiêu huyết học của chuột nhắt trắng dòng Swiss, Những vấn
đề NCCB trong Khoa học sự sống, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, (2005),
485-487
4 Lê Thị Thu Hiền, Đoàn Suy Nghĩ, Bước đầu nghiên cứu tác dụng chống oxi hóa của
n ấm Hoàng chi (Ganoderma colossum), Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa
h ọc sự sống, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, (2007), 280-282
5 Lê Quang Huấn, Lê Xuân Tú, Tách chiết và tinh chế Tetrodotoxin từ một số loài cá nóc (Tetryodontiae) t ại vùng biển Miền Trung, Việt Nam, Tạp chí Sinh học, Số16, (1994),
38- 41
6 Kleinwatcher P et al, Colossolactones, new triterpenoid metanbolitites from Vietnamese mushroom Ganoderma colossum J Nat Prod N.64(2), (2001), 236 -239
7 Đoàn Suy Nghĩ, Xác định độc tố cá nóc nghệ ở biển Thừa Thiên Huế, Những vấn đề nghiên c ứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb.KH&KT, (2004), 283- 286
8 Đoàn Suy Nghĩ, Nguyễn Thị Vân, Bước đầu nghiên cứu bài thuốc thải độc tố cá Nóc Ngh ệ cho chuột nhắt trắng dòng Swiss, Những vấn đề NCCB trong Khoa học sự sống,
Nxb KH & KT, Hà Nôi, (2005), 670-672
9 Đoàn Suy Nghĩ, Ngô Anh, Nghiên cứu tác dụng bổ huyết của nấm Hoàng chi (G colossum) v ề khả năng giảm tác hại của thủy ngân đối với một số chỉ tiêu huyết học
c ủa gà, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, Số 33, (2006), 39 – 43
10 Đoàn Suy Nghĩ, Ngô Anh, Nghiên cứu sự tích lũy chì liều thấp ở một số mô của chuột
nh ắt trắng (Swiss) và tác dụng thải chì của nấm Linh chi G lucidum, Những vấn đề
Trang 8NCCB trong Khoa h ọc sự sống, Nxb KH & KT, Hà Nôi, (2007), 126-128
11 Lê Xuân Thám, Nói rõ hơn về nấm Linh chi vàng – nấm Hoàng chi (Ganoderma colossum), Báo khoa học phổ thông, Số 31(5), ngày 12/08, (2005), 1 & 13.
STUDYING ON THE EFFECTS OF TOXIN EXTRACTED FROM PUFFER
S SPADICEUS RICH TO SOME HEMATOLOGICAL INDEX OF SWISS
WHITE MICE AND ABILITY ELIMINATE TOXIN OF MUSHROOM G
COLOSSUM
Doan Suy Nghi, Hoang Thi Ha College of Science, Hue University
SUMMARY
The puffer S spadiceus Rich are collected from sea water of Thua Thien Hue province Toxicity of puffer are tested on Swiss white mice whose an average weighting about 30 – 30,5 g
A dose of 0,1 ml liquid extracted of the eggs, liver and somatic muscle from puffer or dose 1ml extract from mushroom S spadiceus are injected into abdominal membrane of the mouse Extracts from puffer affect hematological system of Swiss white mouse: reducing the number of hematocyte (erythrocyte), increasing number of plasmocyte (leucocyte) and changing the leucocytic formular of peripheral blood On the groups injected extract from puffer and extract from mushroom S spadiceus have erythrocyte number reduce lesser a leucocyte number increase lesser and leucocytic formular change lesser than groups injected extract from puffer
a without injected extract from mushroom S spadiceus The obtained results proved that: mushroom S spadiceus have hematic tonic