TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 52, 2009 DẪN LIỆU BƯỚC ĐẦU VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG Ở HỒ PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM Võ Văn Phú, Hoàng Đình Trung Trường Đại học Khoa
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 52, 2009
DẪN LIỆU BƯỚC ĐẦU VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT
KHÔNG XƯƠNG SỐNG Ở HỒ PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
Võ Văn Phú, Hoàng Đình Trung Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Hoàng Đức Huy Trường Đại học KHTN, ĐHQG Tp Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam trong thời gian 2 năm
2007 và 2008 Kết quả bước đầu cho thấy:
- Lần đầu tiên có được danh lục thành phần loài động vật không xương sống (ĐVKXS)
ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam gồm 41 loài động vật nổi (Zooplankton) và 28 loài động vật đáy (Zoobenthos)
- Số lượng các loài động vật nổi trong hồ có sự biến động theo các tháng trong năm từ
16 - 36 loài
- Khảo sát sự biến động mật độ động vật nổi ở hồ Phú Ninh trong thời gian nghiên cứu dao động từ 8.800 – 109.600 con/m 3
I Mở đầu
Hồ chứa là một trong những thủy vực được đánh giá là có tiềm năng kinh tế và
đa dạng sinh học cao, nơi lưu giữ một nguồn tài nguyên thủy sinh vật rất đa dạng, có ý nghĩa trong việc cung cấp thực phNm cho đời sống, đồng thời có giá trị về mặt khoa học
Hồ Phú Ninh ở tỉnh Quảng Nam được hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 1986, với sức chứa 344.106 m3 và diện tích lưu vực 23.409 ha nhằm đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ điện nhỏ, du lịch sinh thái, hạn chế lũ lụt hằng năm, cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Tam Kỳ và một số địa phương lân cận Ngoài các ưu thế để phát triển kinh tế - xã hội, hồ Phú Ninh còn có một hệ động thực vật thủy sinh rất phong phú đã nâng cao năng suất và sản lượng các loài cá nuôi trong hồ
Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về thành phần loài động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam Trong 2 năm 2007 và 2008, được sự tài trợ về kinh phí của đề tài cấp tỉnh của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam, chúng tôi đã tổ chức khảo sát thu mẫu liên tục với tần suất
1 lần vào đầu các tháng chẵn năm 2007 và tháng lẻ trong năm 2008 nhằm đánh giá tính
đa dạng sinh học nói chung và cung cấp những dẫn liệu ban đầu về thành phần loài
động vật không xương sống (ĐVKXS) làm cơ sở cho việc định hướng, đề xuất xây
dựng khu bảo tồn sinh vật nước ngọt đầu tiên của tỉnh Quảng Nam
Trang 2II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là khu hệ động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, bao gồm động vật nổi (Zooplankton) và động vật đáy (Zoobenthos).Trên toàn bộ mặt hồ chọn 10 điểm tiêu biểu theo quy trình quy phạm nghiên cứu cơ bản của UBKH Kỹ thuật Nhà nước (1981) nay là Bộ Khoa học và Công nghệ để thu mẫu, được
ký hiệu từ M1 đến M10 (bảng 1 và hình 1)
Bảng 1: Các điểm thu mẫu động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh
4 Đường lên mỏ vàng Bồng Miêu (xã Tam Lãnh) M4
5 Núi Đón Đà (giáp xã Tam Sơn, Tam Lãnh) M5
9 Gần khu lịch đồi Đá Đen (giáp xã Tam Thạnh, Tam
Hình 1: Sơ đồ các điểm thu mẫu động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh
M 2
M 1
M.4 M.4
M.5 M.5
M.6 M.6
M.3 M.3
M.7 M.7
M.8 M.8
M.9 M.9
M 10
Trang 32.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Sử dụng lưới Juday để thu mẫu định tính và định lượng động vật nổi (Zooplankton)
ở mỗi điểm Thu động vật đáy (Zoobenthos) dùng gàu Petersen, diện tích 0,025m2, chúng tôi thu 4 gàu/mỗi điểm Sau đó, dùng rây đồng 2 tầng, có mắt lưới 0,5 mm và 0,25
mm để lọc mẫu Vật mẫu thu được, cho vào thNu nhựa nhỏ có dung tích 0,2 lít và định hình ngay bằng formol 4% Riêng với động vật đáy, ngoài việc thu mẫu trực tiếp, chúng tôi còn thu mua mẫu của người dân địa phương đánh bắt được
2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Phân tích, định loại tên khoa học bằng phương pháp so sánh hình thái Các tài liệu chính được sử dụng để định loại là: Định loại động vật không xương sống (ĐVKXS) nước ngọt Bắc Việt Nam của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980); Định loại các nhóm ĐVKXS nước ngọt thường gặp ở Việt Nam của Nguyễn Xuân Quýnh (2001); A Shirota (1968); W.T Edmonson (1959); Động vật chí Việt Nam, phần giáp xác nước ngọt - tập 5 (2001); Robert W Pennak (1978) [2, 3, 4, 8,
10, 11, 12]… Chúng tôi sử dụng các tài liệu trên để phân loại từ bộ, họ, tới loài theo khoá định loại lưỡng phân, chuNn tên loài theo hệ thống phân loại The Taxonomicon & Systema Naturae (2000)
Định lượng động vật nổi (Zooplankton): Dùng pipet lấy 1ml nước có chứa mẫu
ở trong 20ml mẫu cho lên trên buồng đếm Sedgewick Raffter ở độ phóng đại 10X, 40X Đếm trực tiếp bằng cách di chuyển lamen theo tọa độ từ trên xuống dưới từ trái qua phải
Số lượng động vật phù du được tính theo công thức [9]:
N0 =
C x V/ x 1000
V//
N0: số lượng Zooplankton (con/m3)
C: Số cá thể đếm được trên buồng đếm
V/: số ml nước mẫu còn lại sau khi lọc (20ml)
V//: Thể tích mẫu nước đã thu (50L)
Từ kết quả thu được qua các điểm và thời gian thu mẫu, chúng tôi rút ra sự biến động số lượng, mật độ cá thể của động vật nổi ở hồ Phú Ninh theo không gian và thời gian
Tất cả vật mẫu sau khi định loại, được lưu giữ ở phòng thí nghiệm Tài nguyên Môi trường, Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Huế
Trang 4III Kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc trưng và cấu trúc động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
3.1.1 Đặc trưng và cấu trúc thành phần loài động vật nổi (Zooplankton)
Trong thời gian nghiên cứu, đã xác định được 36 loài động vật nổi (Zooplankton) và 5 dạng ấu trùng (Larva), trong đó: Trùng bánh xe (Rotatoria) 8 loài thuộc 4 giống, 3 họ; giáp xác râu ngành (Cladocera) 12 loài, 6 giống, 4 họ; giáp xác chân chèo (Copepoda) 15 loài, thuộc 12 giống, 3 họ; giáp xác có vỏ (Ostracoda) với 1 loài, 1 họ và 1 giống
Thành phần loài động vật nổi ở hồ Phú Ninh đều có nguồn gốc nước ngọt, số loài không nhiều nhưng cấu trúc thành phần loài khá đa dạng ở tất cả các bậc phân loại
từ bộ, họ, giống đến loài
Về bậc họ, trong tổng số 11 họ, giáp xác râu ngành (Cladocera) 4 họ (chiếm 36,37%), giáp xác chân chèo (Copepoda) và trùng bánh xe (Rotatoria) cùng có 3 họ (chiếm 27,27%), giáp xác có vỏ (Ostracoda) 1 họ (chiếm 9,09%) Họ có số giống cao nhất là họ Diaptomidae với 6 giống, tiếp đến là họ Cyclopidae với 5 giống, họ Brachionidae, Bosminidae và Daphnidae mỗi họ có 2 giống, các họ còn lại là Asplanchnidae, Conochilidae, Sididae, Chydoridae, Pseudodiaptomidae, Cypridae mỗi họ có 1 giống
Bảng 2: Số lượng và tỷ lệ các taxon động vật nổi ở hồ Phú Ninh
STT Tên bộ Số
loài
Tỷ lệ
Số loài
Tỷ lệ
% Tên giống
Số loài
Tỷ lệ
%
1 Ploimida 7 17,07 Asplanchnidae 1 2,43 Asplanchna 1 2,43
2 Flosculariacea 1 2,43 Conochilidae 1 2,43 Conochilus 1 2,43
Hình 2: Biểu đồ số lượng các họ, giống và loài trong thành phần
loài động vật nổi ở hồ Phú Ninh
3 4
8
12
3
12 15
1 1 1
0 5 10 15
Rotatoria Cladocera Copepoda Ostracoda Các bộ
Số lượng
Số họ
Số giống
Số loài
Trang 53 Cladocera 12 29,27 Bosminidae 2 2,88 Bosminopsis 1 2,43
4 Copepoda 15 36,59 Diaptomidae 9 21,95 Allodiaptomus 3 7,31
5 Ostracoda 1 2,43 Cypridae 1 2,43 Heterocypria 1 2,43
Về bậc giống, bộ giáp xác râu ngành (Cladocera) có 6 giống (chiếm 26,10%), trùng bánh xe (Rotatoria) có 4 giống (chiếm 17,39%); bộ giáp xác chân chèo (Copepoda) 12 giống (chiếm 52,17%); giáp xác có vỏ (Ostracoda) có 1 giống (chiếm 4,34%) Giống Diaphanosoma và giống Brachionus có số loài nhiều nhất với 4 loài, tiếp đến là 2 giống cùng có 3 loài là Allodiaptomus và Chydorus, 3 giống Keratella, Ceriodaphnia, Neodiaptomus, mỗi giống có 2 loài, các giống còn lại Asplanchna, Connochilus, Bosmina, Bosminopsis, Moina, Heliodiaptomus, Mongolodiaptomus, Sinodiaptomus, Tropocyclops, Tropodiaptomus, Eucyclops, Mesocyclops, Microcyclop, Thermocyclops, Heterocypria là giống đơn loài (bảng 2)
Về bậc loài, bộ giáp xác chân chèo (Copepoda) có số loài nhiều nhất với 15 loài (chiếm 36,59%), tiếp đến là bộ giáp xác râu ngành (Cladocera) với 12 loài (chiếm 29,27%); trùng bánh xe với 8 loài (chiếm 19,51%); giáp xác có vỏ (Ostracoda) 1 loài (chiếm 2,43%) và 5 dạng ấu trùng (chiếm 12,20%)
Trang 63.1.2 Đặc trưng và cấu trúc thành phần loài động vật đáy (Zoobenthos)
Đã xác định được 28 loài động vật đáy ở hồ chứa Phú Ninh, thuộc 3 ngành, 5 lớp, 5 bộ, 14 họ và 21 giống Tính bình quân, mỗi bộ có 2,8 họ, 4,2 giống và 5,6 loài Mỗi họ 1,5 giống, 2 loài và mỗi giống chứa 1,3 loài Mức độ đa dạng về các bậc taxon ở các nhóm loài là khác nhau (bảng 3)
Bảng 3: Số lượng và tỷ lệ các taxon động vật đáy ở hồ Phú Ninh
STT Tên bộ loài Số Tỷ lệ % Tên họ loài số Tỷ lệ % Tên giống loài số Tỷ lệ %
1 Prosobranchia 10 35,72 Pachychilidae 1 3,57 Semisulcospira 1 3,57
2 Eulamellibranchia 7 25,00 Corbiculidae 4 Corbicula 4 14,29
3 Nereidiformia 1 3,57 Nereididae 1 3,57 Namalycastis 1 3,57
4 Tubificida 3 10,71 Naididae 1 3,57 Chaetogaster 1 3,57
5 Decapoda 7 25,00 Palaemonidae 5 17,86 Palaemon 1 3,57
Parathelphusidae 1 3,57 Somanniathelphusa 1 3,57
Xét về mặt cấu trúc bậc họ, ngành giun đốt (Annelida) và ngành chân khớp (Arthropoda) có sự tương đồng nhau về số lượng họ
Về bậc họ, trong tổng số 14 họ, ngành thân mềm (Mollusca) 8 họ (chiếm 57,14% tổng số họ), ngành giun đốt (Annelida) và chân khớp (Arthropoda) cùng có 3
họ (chiếm 21,43%) Hai họ cùng có số giống cao nhất (3 giống) là họ Viviparidae và
Trang 7Palaemonidae, tiếp đến là các họ Thiaridae, Ampullariidae, Mytilidae và Tubificidae mỗi họ có 2 giống, các họ còn lại là Pachychilidae, Corbiculidae, Pisidiidae, Amblemidae, Nereididae, Naididae, Atyidae, Parathelphusidae mỗi họ có 1 giống
Về bậc giống, bộ mang trước (Prosobranchia) có 8 giống (chiếm 38,10%), bộ mang tấm (Eulamellibranchia) 4 giống (chiếm 19,05%), bộ Nereidiformia có 1 giống (chiếm 4,76%), bộ Tubificida có 3 giống (chiếm 14,29%), bộ mười chân (Decapoda) có
5 giống (chiếm 23,80%) Giống Corbicula có số loài nhiều nhất với 4 loài, tiếp đến là giống Macrobrachium có 3 loài, hai giống cùng có 2 loài là Angulyagra và Sinotaia, các giống còn lại Semisulcospira, Melanoides, Thiara, Bellamya, Pila, Pomacea, Limnoperna, Afropisidium, Oxynaia, Namalycastis, Chaetogaster, Branchiura, Aulodrilus, Palaemon, Palaemonetes, Caridina, Somanniathelphusa là giống đơn loài
Về bậc loài, bộ mang trước (Prosobranchia) của ngành thân mềm (Mollusca) có số loài nhiều nhất với 10 loài (chiếm 35,71%), tiếp đến là bộ mang tấm (Eulamellibranchia) và
bộ mười chân (Decapoda) cùng có 7 loài (chiếm 25,00%); Tubificida (Olygochaeta) với 3 loài (chiếm 10,71%); Nereidiformia (Polychaeta) 1 loài (chiếm 3,57%)
3.2 Sự biến động về số lượng loài và mật độ động vật nổi ở hồ Phú Ninh
* Về số lượng:
Số lượng thành phần loài động vật nổi ở hồ chứa Phú Ninh khá đa dạng, thành phần loài chủ yếu là bộ giáp xác râu ngành (Cladocera), giáp xác chân chèo (Copepoda)
và trùng bánh xe (Rotatoria) Số lượng động vật nổi trên một đơn vị thể tích (cá thể/m3),
là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu hay nghèo của thủy vực Sự biến động
số lượng thành phần loài trong thuỷ vực phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện thuỷ lý, thuỷ hoá như: nhiệt độ, hàm lượng oxy, các chất hữu cơ, mật độ tảo,
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy số lượng các loài động vật nổi ở
hồ Phú Ninh có sự sai khác theo thời gian nghiên cứu Số lượng thành phần loài tập trung nhiều nhất vào tháng 3 (36 loài), tiếp đến là tháng 4 (28 loài) và thấp nhất vào
Hình 3: Số lượng các họ, giống và loài trongthành phần loài động vật đáy
ở hồ Phú Ninh
8 12 17
5 7
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
Số lượng
Mollusca Polychaeta Olygochaeta Crustacea Nhóm loài
Họ Giống Loài
Trang 8tháng 11 (16 loài), tháng 9 (17 loài), các tháng còn lại dao động từ 18 – 27 loài Khí hậu lưu vực hồ chứa Phú Ninh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô
từ tháng II đến tháng VIII, mùa mưa từ tháng IX đến tháng I năm sau Như vậy số lượng loài động vật nổi trong mùa khô cao hơn trong mùa mưa
Số loài
27
24
36 28
17
23 16 21
0
10
20
30
40
Thời gian (tháng)
Hình 4:Số lượng loài động vật nổi phân bố theo tháng ở hồ Phú Ninh
* Về mật độ:
Đã xác định được mật độ động vật nổi ở hồ chứa Phú Ninh biến động từ 8.800 -109.600 con/m3 Do tính chất đặc trưng của thủy vực dạng hồ, có tốc độ dòng chảy chậm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài động vật nổi thích nghi phân bố và mật độ
cá thể khá cao Trong đó, những loài động vật nổi nước ngọt điển hình thuộc nhóm Cladocera và Copepoda phát triển mạnh ở hầu hết các điểm nghiên cứu, đạt mật độ ổn định
và rất cao như Bosmina longirostris, Bosminopsis deitersi, (Cladocera); Allodiaptomus
rappeportae, Allodiaptomus gladiolus, Mesocyclops leuckarti, (Copepoda)
Số lượng (con/m 3 )
15200 16000 16800 16400 18400
9600 16800 12400 8800 12800 11200 13200
55600
109600
62200 97200
26400 22800 26000 22800 24000 34400 24400 45600
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
Thời gian (tháng)
Hình 5: Biến động mật độ động vật nổi ở hồ Phú Ninh theo các tháng trong năm
Trong 10 điểm thu mẫu trên hồ, các điểm M6, M7, M8, M9, M10 có số lượng cá thể động vật nổi khá cao, đặc biệt là khu vực giáp đồi Đá Đen (điểm 9) có số lượng cá thể cao nhất và tại điểm này sự biến động số lượng cá thể theo tháng khá lớn (từ 14.400 – 109.600 con/m3) Điểm M1 ở đập thủy điện có số lượng thấp nhất (8.800 – 20.800 con/m3) Còn các điểm M2, M3, M4, M5 có số lượng cá thể ít hơn và biến động theo thời gian cũng như không gian thu mẫu không nhiều
Trang 9Sở dĩ có sự khác nhau về số lượng loài ở các điểm khác nhau trên hồ, đặc biệt ở các điểm thu mẫu M6 (chùa Yên Sơn), M7 (hố Ba Trăng), M9 (giáp khu du lịch đồi Đá Đen) chịu tác động trực tiếp của con người, tại đây nhận một lượng lớn chất hữu cơ do
lá cây đổ xuống phân huỷ thành hay từ rác thải mà khách du lịch xả xuống hồ lâu ngày phân huỷ thành là nguồn dinh dưỡng chính cho thực vật phù du Như vậy, nguồn nước được bổ sung không chủ động các chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn phong phú cho động vật nổi vùng này
Số lượng (con/m 3 )
12400 10400 16400 18000 14400 14000
9600 12800 11600
8800
66800 109600
54000
75200 55600
44800 47600
24800 22000
20800
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
Điểm thu mẫu
Hình 6: Biến động mật độ động vật nổi ở hồ Phú Ninh theo không gian
IV Kết luận và đề nghị
4.1.Kết luận
1 Thành phần loài động vật không xương sống ở hồ Phú Ninh khá đa dạng Đã xác định được 36 loài động vật nổi (Zooplankton) và 5 dạng ấu trùng (Larva) thuộc 23 giống của 11 họ và 6 bộ; 28 loài động vật đáy (Zoobenthos), tập trung vào 4 ngành chính: ngành thân mềm (Mollusca), ngành giun đốt (Annelida) và chân khớp (Arthropoda)
2 Trong thành phần loài động vật nổi ở hồ Phú Ninh, bộ giáp xác chân chèo (Copepoda) có số loài nhiều nhất với 15 loài (chiếm 36,59%), tiếp đến là bộ giáp xác râu ngành (Cladocera) với 12 loài (chiếm 29,27%); trùng bánh xe (Rotatoria) với 8 loài (chiếm 19,51%); giáp xác có vỏ (Ostracoda) 1 loài (chiếm 2,43%) và 5 ấu trùng (chiếm 12,20%) Thành phần loài động vật đáy, ngành thân mềm (Mollusca) có số lượng loài cao nhất với 17 loài (chiếm 60,71%), tiếp đến là ngành chân khớp (Arthropoda) có 7 loài (chiếm 25%), ngành giun đốt (Annelida) với 4 loài (chiếm 14,29%)
3 Số lượng loài động vật nổi xuất hiện theo các tháng trong năm biến động từ
16 -36 loài Nghiên cứu sự biến động theo thời gian và không gian trong quá trình nghiên cứu đã xác định được số lượng động vật nổi dao động từ 8.800 - 109.600 con/m3
4.2 Đề nghị
Trang 101 Mật độ động vật nổi hồ Phú Ninh rất cao, thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Do
đó, cần nghiên cứu về sinh học, sinh thái một số loài thủy sản nước ngọt kinh tế nuôi thả trong hồ, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên phong phú trong hồ nhằm nâng cao năng suất sinh học tạo ra giá trị kinh tế phục vụ con người trên nền tảng phát triển bền vững
2 Chủ động bón phân cho mặt nước phù hợp, có phương pháp khoa học để tăng nguồn thức ăn tự nhiên cho các loài cá nuôi trong hồ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban quản lý rừng phòng hộ hồ chứa Phú Ninh, Dự án đầu tư phát triển kinh tế vườn rừng - rừng phòng hộ Phú Ninh, giai đoạn (1999 - 2004), Tam Kỳ, 1999
2 Nguyễn Xuân Quýnh, Định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, 2001
3 Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 1980
4 Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Động vật chí Việt Nam, phần giáp xác nước ngọt - tập 5, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2001
5 Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Đức Tiến, Mai Đình Yên, Thủy sinh học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2002
6 Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Ngọc Cường, Thành phần loài họ ốc nhồi – Ampullariidae Gray, 1824 ở Việt Nam, Tạp chí Sinh học, Hà Nội, Tập 25, Số 4, (2003),
1 – 5
7 Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Ngọc Cường, Họ ốc vặn (Viviparidae – Gastropoda) ở Việt Nam, Tạp chí Sinh học, 26, No 2, (2004), 1- 4
8 A Shirota, The plankton of South Viet Nam, Over sea Techimical copperation Agency Japan, 1968
9 Andrew D Eaton, Lenore S Clesceri, Eugene W Rice, Arnold E Greenberg, Standard methods for the examination of water & wastewater (21 st Edition), 2005
10 Boxshall G A and Halsey S H., An introduction to Copepod diversity, London, 2004
11 Robert W Pennak, Freshwater invertebrates of the United states, A wiley-interscience
publication, 1978
12 W T Edmonson, Fresh water biology: Part of Rhizopoda, Actinopoda, Cladocera, Copepoda, Rotifera, Ostracoda University of Washington, Scattle, 1959
PRELIMINARY RESULT ON THE COMPOSITION