Do vậy, các khuyến nghị chính sách hỗ trợ nhằm giảm thi ểu tính dễ bị tổn thương, giúp hộ nông dân trong khu vực chủ động hơn trong lựa chọn chiến l ược đa dạng hoá có ý nghĩa quan trọn
Trang 1T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009
TRONG ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG HOÁ SINH KẾ
VÀ HI ỆU QUẢ KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ Ở MIỀN TRUNG
Bùi Th ị Tám và CTV Khoa Du l ịch, Đại học Huế
TÓM T ẮT
Đa dạng hoá sinh kế được coi là chiến lược khá phổ biến của các nông hộ để ứng phó
v ới những điều kiện bất ổn của sản xuất và thị trường Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu đa dạng hoá sinh k ế có giúp cho các nông hộ sử dụng tốt hơn nguồn lực và nâng cao hiệu quả sản xuất
c ủa hộ Vận dụng hàm sản xuất xác suất cận biên Bayes và số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam gần đây nhất (VHLSS 2006), nghiên cứu này đã tiến hành kiểm định và chấp
nh ận giả thuyết “đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp ở Miền Trung có dạng ‘bắt buộc’ và làm
gi ảm hiệu quả sản xuất của nông hộ Do vậy, các khuyến nghị chính sách hỗ trợ nhằm giảm thi ểu tính dễ bị tổn thương, giúp hộ nông dân trong khu vực chủ động hơn trong lựa chọn chiến
l ược đa dạng hoá có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của hộ, góp ph ần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
1 Gi ới thiệu chung
Đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp không phải là chủ đề mới, tuy nhiên, vẫn đang
là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững Trong khi vận hành khách quan
của nền kinh tế cho thấy chuyên môn hoá sản xuất là phương cách quan trọng để mở
rộng qui mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất và hiệu quả sản
xuất, thì đa dạng hoá sinh kế lại được xem là chiến lược khá phổ biến giúp cho các nông
hộ ứng phó với những điều kiện bất ổn của sản xuất và thị trường
Nhiều nghiên cứu gần đầy về tự do thương mại hoá, tăng trưởng và đói nghèo ở
nước ta cho thấy trong khi thành công của Việt Nam trong giảm nghèo là rất ấn tượng thì liên hệ tương quan giữa các yếu tố nguồn lực và tỉ lệ giảm nghèo là không chặt chẽ
Một trong những bằng chứng là ở các tỉnh thuộc nhóm thành tích cao nhất trong giảm nghèo lại không phải là các tỉnh có tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao ví dụ các tỉnh phía Đông
Bắc Bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng Sông Mê Kông1
Tương tự, “tại sao ở một
số vùng cách xa các thị trường lớn trong nước lại đạt được kết quả giảm nghèo khá
tương đồng so với các địa phương khác?"1
1
The Vietnam's Poverty Update Report 2006
Trang 2Câu hỏi lớn đặt ra là liệu đa dạng hoá sinh kế có giúp cho việc khai thác tốt hơn các nguồn lực của hộ, tranh thủ các cơ hội thị trường, tăng thu nhập và nâng cao hiệu
quả sản xuất của nông hộ, góp phần xoá đói giảm nghèo Đây thực sự là vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo để có thể đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện
hiệu quả sản xuất của hộ, góp phần xóa đói giảm nghèo và thực hiện được các mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững Với việc sử dụng số liệu điều tra mức sống
hộ gia đình Việt Nam (VHLSS 2006), nghiên cứu này vận dụng hàm xác suất cận biên Bayes để đánh giá mối liên hệ giữa đa dạng hoá sinh kế và hiệu quả sản xuất của nông
hộ, nhằm góp phần tìm lời giải cho câu hỏi nêu trên2
2 Đa dạng hoá sinh kế và lựa chọn mô hình phân tích
2.1 Gi ả thiết nghiên cứu
Đa dạng hoá sinh kế được xem là một trong những hành vi ứng phó của nông hộ trong điều kiện sản xuất và thị trường bấp bênh Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù thu
nhập nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng chủ yếu trong cơ cấu thu nhập của nông hộ, nhưng vai trò của thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng Xu hướng
phổ biến là các nông hộ càng giàu thì càng tham gia nhiều vào các hoạt động phi nông nghiệp và các hoạt động có thu nhập cao hơn Trong khi đó, các hộ nghèo khó có điều
kiện tham gia vào các hoạt động này, và do vậy vẫn phải gắn bó với các hoạt động nông nghiệp, thu nhập thấp (Tam et al 2005, Asley et al, 2003, Ellis, 2000)
Khả năng đa dạng hoá sinh kế của nông hộ phụ thuộc vào nguồn lực của hộ được xác định bởi khả năng tài chính, lao động, tài nguyên, vốn xã hội và tài sản khác (Ellis, 2000) Hành vi đa dạng hoá do vậy phản ánh điều kiện kinh tế cụ thể của nông hộ trong điều kiện thị trường nhất định Một số hộ có thể tham gia nhiều hoạt động kinh tế
nhằm khai thác cơ hội thị trường và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của hộ Trường
hợp này hành vi đa dạng hoá sinh kế được coi là ‘sự lựa chọn’ của hộ (‘demand-pull’ hay ‘choice’ livelihood diversification) Ngược lại, khi hành vi đa dạng hoá sinh kế của các hộ là sự ứng phó với các rủi ro và bất ổn của sản xuất và thị trường thì được coi là
đa dạng hoá để ‘ứng phó’ hay ‘bắt buộc’ (destress-push’ hay ‘necessity’ diversification), điều mà có thể không nhất thiết góp phần cải thiện sinh kế của hộ
Nhận biết và phân biệt hai dạng đa dạng hóa sinh kế nói trên có ý nghĩa trong
việc hoạch định các chính sách can thiệp và tìm giải pháp hữu hiệu thúc đẩy đa dạng
2
Báo cáo này là tóm l ược một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Tăng trưởng nông nghiệp,
đa dạng hoá sinh kế và đói nghèo ở nông thôn Miền Trung Việt Nam” do TS Bùi Thị Tám chủ trì, thu ộc Mạng lưới nghiên cứu kinh tế Việt Nam (VERN) giai đoạn 2, tài trợ bởi Tổ chức nghiên c ứu phát triển quốc tế Canada - IDRC, 2006-2008 Nội dung chi tiết có thể liên hệ trực
ti ếp với tác giả
Trang 3hoá sinh kế theo hướng tích cực, góp phần xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, việc phân định sự khác biệt giữa hai dạng đa dạng hoá sinh kế này không phải là dễ dàng Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nếu hoạt động đa dạng hoá mang lại thu
nhập cao hơn hoạt động sản xuất hiện tại của hộ thì hoạt động đó được coi là ‘lựa chọn’
hoặc đa dạng hoá tích cực ('positive diversification') Ngược lại, nếu hoạt động đa dạng hoá mang lại thu nhập thấp hơn các hoạt động bình thường của hộ thì được xem là sự ứng phó hay đa dạng hoá tiêu cực ('negative diversification' ) Dạng này có thể rất cần thiết cho
hộ để đáp ứng các nhu cầu bức thiết trước mắt nhưng có thể làm trầm trọng thêm trạng thái đói nghèo của hộ về lâu dài do nguồn lực sử dụng kém hiệu quả (Ellis, 2000; Asley,
2003, Bezemer et al 2005) Mối quan hệ này có thể được mô hình hoá như sau:
Sơ đồ 1 Quan hệ giữa đa dạng hoá sinh kế và giảm nghèo
Với những lập luận này, trong điều kiện cụ thể của các nông hộ ở khu vực Miền Trung – Tây nguyên, giả thiết được kiểm định trong nghiên cứu này là đa dạng hoá sinh
k ế nông nghiệp có dạng ‘bắt buộc’ và làm giảm hiệu quả sản xuất của nông hộ
2.2 L ựa chọn mô hình
Một trong những phương pháp khá phổ biến để nghiên cứu hiệu quả sản xuất hộ
là sử dụng hàm sản xuất cận biên ngẫu nhiên Bayes (Bayesian stochastic production
sản xuất (như lao động, đất đai, vốn) và các biến phi truyền thống (như đặc điểm hộ: độ
tuổi, giới tính, vị trí địa lý, điều kiện thị trường )
Hàm sản xuất cận biên ngẫu nhiên lần đầu tiên được đề xuất bởi một số học giả
như Aigner, Lowell and Schmidt (1977), Battese and Corra (1977) Ngay sau đó, nhiều tác giả đã chỉnh sửa, khái quát hoá và vận dụng khá phổ biến trong nông nghiệp (Bauer, 1990; Battese, 1992; Thiam et al., 2001) Ưu điểm của mô hình là khá rõ ràng Đó là sự
kết hợp phân tích hai sai số quan trọng – tính phi hiệu quả và tác động ngẫu nhiên (inefficiency and random effects) Quá trình phát triển và vận dụng mô hình xoay quanh
việc lựa chọn dạng mô hình và các biến số đưa vào mô hình theo hướng xem xét cả
Môi trường bên ngoài (Chính sách, thị trường…
market )
Các gi ải pháp đa
d ạng hoá sinh kế
Tính dễ bị tổn
thương (rủi ro, thời
vụ, thiên tai…)
Nguồn lực của
nông hộ
Gi ảm nghèo
Trang 4những biến số không truyền thống của hàm sản xuất như các yếu tố đầu vào phi vật chất (trình độ văn hoá, kiến thức và các đặc tính của nông hộ và nông dân) để có được những khuyến cáo chính sách phù hợp hơn (Battese, 1992; Wilson et al 2001)
Tổng lược các tài liệu liên quan cho thấy, so với các mô hình khác (ví dụ phân tích bao số liệu DEA) thì việc lựa chọn mô hình xác suất Bayes là phù hợp bởi nhiều lý
do (Koop et al., 1997; O’ Donnell and Coelli, 2002) Broeck et al (1994: 299) chỉ ra
rằng “Việc phân tích hàm cận biên ngẫu nhiên cho thấy có tính khả thi cả về lý thuyết
và thực tiễn Với việc tính toán mật độ xác suất hiệu quả, bao gồm cả nội bộ mẫu (firm-specific) và bình quân chung (average hay out-of-sample) để xem xét cả các thông số không chắc chắn, thì khó khăn của việc lựa chọn mô hình cụ thể để ước lượng sai số phi
hiệu quả (inefficiency error term) là có thể giảm thiểu bằng việc kết hợp các mô hình khác nhau" Nói cách khác, ưu điểm cơ bản của mô hình xác suất cận biên ngẫu nhiên Bayes so với các mô hình phi xác suất khác là cho phép kiểm định các thông số không
chắc chắn bằng việc lựa chọn phân phối xác suất và đặt các điều kiện kinh tế trong mô hình, tạo ra đường cận biên đều đặn hơn Hơn nữa, phương pháp này cho phép ước
lượng với qui mô mẫu nhỏ, xác định phân phối của bất cứ quan sát hiệu quả cụ thể nào,
từ đó tính toán được độ lệch quân phương và kiểm định khác biệt thống kê về tính hiệu
quả giữa các hộ Hàm sản xuất cận biên có dạng sau:
Y i = α0 + βX i + v i - u i
Trong đó: Y là logarit của kết quả sản xuất hộ; Xi là véc tơ của logarit các yếu tố đầu vào, bao gồm các biến tương tác giữa các yếu tố này.; β là véc tơ xác định đường
cận biên; vi và ui là các sai số độc lập nhau (vi tuân thủ phân phối độc lập xác định – i.i.d
đo lường sai số thống kê; ui đo lường tính phi hiệu quả kỹ thuật và ui ≥ 0) Vì yi là logarit của kết quả sản xuất hộ, nên hiệu quả kỹ thuật r của hộ thứ i sẽ là ri = exp(-ui), và
ui giả định có phân phối mũ (Broeck, et al 1994; Koop et al., 1997)
Vận dụng phương pháp của Koop et al (1997), mô hình được ước lượng theo hai dạng: Phân phối hiệu quả biến đổi (Varing Efficiency Distribution model (VED) và phân phối hiệu quả chung (Common Efficiency Distribution model (CED)) Với việc
lựa chọn mô hình này thì cho phép đồng thời ước lượng ảnh hưởng của các biến phi truyền thống trong hàm hiệu quả sản xuất (CED) và các biến giải thích tính phi hiệu quả (VED) Tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình phụ thuộc vào giả định các biến đầu vào phi truyền thống hoặc phải có tác động đến cơ cấu sản xuất của hộ hoặc tác động đến tính
hiệu quả của sản xuất (Coelli et al 2002; Kumbhakar and Tsionas, 2005) Ký hiệu, tên
gọi/định nghĩa các biến trình bày ở Phụ lục 1
Hàm sản xuất translog CED có dạng sau:
i i i j
j K
k
M
m
m m ki
ji jk ji
J
i
α
Trang 5Trong đó:
Y là logarit của thu nhập ròng bình quân lao động nông hộ
X (j=1 J) là các biến truyền thống và Z (m=1 M) là các biến phi truyền thống
D là biến giả do lường các yếu tố khác tác động đến hiệu quả sản xuất của hộ Hàm sản xuất VED có dạng sau:
3 K ết quả ước lượng
Nguồn số liệu sử dụng để ước lượng mô hình được tính toán từ số liệu điều điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS 2006) với tổng số 1.568 hộ ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên được lọc ra từ tổng số mẫu 4.008 hộ Phương pháp Markov Chain Monte Carlo (MCMC) với lặp mẫu Gibbs với việc chọn lựa số trung vị của phân phối
hiệu quả sản xuất dựa theo các nghiên cứu tương tự với mô hình xác suất cận biên Bayes: khoảng 0,75 – 0,85 (Koop et al 1997; Kumbhakar and Tsionas, 2005) Giả định
rằng y ~N(µ, τ); β ~ i.i.d, và trong mô hình CED sai số u ~ dexp[λ ], λ =eλo, trong mô hình VED thì u ~ dexp[λ ], λ =eG(Z; γ)
Sử dụng phần mềm WinBUGS để ước lượng mô hình hàm xác suất cận biên
ngẫu nhiên Bayes, lần lặp đầu tiên được lựa chọn là 10.000 và các lần tiếp theo tăng thêm 30.000 lần lặp mẫu Gibbs để ước lượng mô hình CED và VED nhằm tăng tính
nhất quán của mô hình Kết quả mô hình được tóm lược trong Bảng 1
Kết quả cho thấy, hầu hết các biến đều có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích
hiệu quả sản xuất của nông hộ, trong đó các biến truyền thống gồm đất đai, lao động và
vốn đều có tác động thuận với mức ý nghĩa thống kê cao (P ≤ 0,01) Kiểm định Chi – bình phương cũng cho thấy cả hai mô hình CED and VED đều có hệ số co giản hằng số
Đối với các biến phi truyền thống, kết quả ước lượng cũng cho thấy các biến dân
tộc, trình độ văn hoá và kinh nghiệm của chủ hộ, tỉ lệ lao động người lớn trong hộ và có
chợ có tác động thuận đối với hiệu quả sản xuất hộ (CED: efficiency) Các biến còn lại
đa số có tác động ngược Đặc biệt, càng tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp thì
hiệu quả sản xuất nông hộ càng có xu hướng giảm (P ≤ 0,01) So với các nông hộ ở vùng đồng bằng thì các nông hộ ở vùng sinh thái khác cũng có hiệu quả sản xuất thấp
hơn (P ≤ 0,01) Tuy nhiên, biến mức độ đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong mô hình CED (P ≥ 0,1)
Các tham số ước lượng trong mô hình phi hiệu quả (VED: inefficiency) cho thấy
kết quả khá nhất quán với các kết luận ở trên Cụ thể: hộ có hệ số đa dạng hoá sinh kế
i i i J
j K
k
ki ji jk ji
J
i
= =
= 1β 12 1 1β
α
Trang 6nông nghiệp (hindex) càng cao tức là mức độ đa dạng hoá càng thấp sẽ làm tăng tính phi hiệu quả sản xuất của nông hộ (P ≤ 0,05) Sự biến động tăng của các biến số như qui
mô hộ, trình độ văn hoá chủ hộ, điều kiện thị trường có tác động cải thiện (giảm) tính phi hiệu quả sản xuất, trong khi các biến phản ánh vùng sinh thái cho tác động ngược lại
Mức độ tham gia các hoạt động phi nông nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong VED Điều lý thú là các yếu tố thời tiết bất lợi lại có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất
của nông hộ Điều này cũng có thể dễ hiểu do hệ số co giản cầu sản phẩm nông nghiệp
thấp và tác động của yếu tố giá cả tăng trong điều kiện thời tiết bất lợi Như vậy, kết quả
ước lượng của các mô hình cho phép chấp nhận giả thiết ‘đa dạng hoá sinh kế nông
nghi ệp có dạng ‘bắt buộc’ làm giảm hiệu quả sản xuất của nông hộ ở miền Trung Tây
Nguyên’
4 K ết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp của các nông hộ ở khu vực Miền Trung – Tây Nguyên có dạng “đa dạng hoá tiêu cực” làm giảm hiệu quả
sản xuất của hộ Điều này cũng có nghĩa là các điều kiện nguồn lực của hộ chưa được
sử dụng theo phương án tốt hơn, hiệu quả hơn Trong điều kiện bị hạn chế về nguồn lực
và do vậy là khả năng tiếp cận của hộ nghèo đối với các hoạt động có thu nhập cao (như
hoạt động phi nông nghiệp, lao động ăn lương), thì đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp càng có vai trò quan trọng trong chiến lược giảm nghèo Do vậy, bên cạnh các giải pháp
nhằm hướng dẫn giúp đỡ cho các nông hộ có chiến lược đa dạng hoá sinh kế nông nghiệp phù hợp và bền vững hơn, thì việc thực hiện các chính sách hỗ trợ kịp thời và có
hiệu quả để giảm thiểu các yếu tố rủi ro và tính dễ bị tổn thương của các nông hộ sẽ có
ý nghĩa quan trọng giúp cho hộ giảm thế bị động trong chiến lược đa dạng hoá sinh kế
và có lựa chọn hiệu quả hơn
Về phương diện phương pháp nghiên cứu, cần có thêm các bằng chứng thực nghiệm để kiểm định sự khác biệt hành vi ứng xử của hộ trong các điều kiện thị trường
cụ thể là cần thiết để củng cố thêm các giả thuyết về mô hình sản xuất nông hộ cũng
như ứng dụng của các kỹ thuật phân tích kinh tế lượng phù hợp cho dạng mô hình này
Bảng 1 Kết quả ước lượng hàm sản xuất cận biên CED và VED
Bi ến phụ thuộc y = lgnfi = log (thu nhập ròng trên lao động của nông hộ)
Bi ến số
Coefficients Standard
error Coefficients Standard error Effficiency
lgflabor 0,7719*** 0,232 0,5632** 0,244
lgfkavg 0,0369*** 0,005 0,384*** 0,005
lgland 0,4214*** 0,024 0,4373*** 0,024
lgflabor_sq -0,0416*** 0,016 -0,0272 0,017
Trang 7male_rate -0,2010* 0,111 -0,2877*** 0,102 female_rate -0,2820** 0,114 -0,3363*** 0,096 wkadult_rate 0,3451*** 0,072 0,2934*** 0,070 Infant_rate -0,2273 0,157 -0,2268 0,153 kinh 0,3554*** 0,056 0,4146*** 0,054 headfexper 0,0014 0,001 0,0016* 0,001 hindex -0,0009 0,083
nonfarm -0,1262*** 0,030
lnhhsize 0,2722*** 0,046
headsex -0,0413 0,028
headage -0,0000 0,001
headed 0,0411** 0,019
bad_weather 0,0609* 0,034
terrain1 -0,2260*** 0,052
terrain3 -0,1512*** 0,051
terrain4 -0,2258*** 0,038
_cons 2,0400** 0,879 2,9786*** 0,915 lnsig2v
_cons -2,1648*** 0,111 -2,1830*** 0,106
Inefficiency
_cons -0,7322*** 0,116 -0,6416 0,467 Log pseudoLL -2,68e+06 -2,65e+06
Trang 8TÀI LI ỆU THAM KHẢO
1. Aigner, D J., Lovell and P Schmidt, Formulation and Estimation of Stochastic Frontier Production Function Models Journal of Econometrics, 6 (1977), 21-37
2. Asley, et al., Understanding Livelihoods in Rural India: Diversity, Change and Exclusion Oversea Development Institute UK, 2003
3. Battese, G.E., Frontier Production Functions and Technical Efficiency: A Survey of Empirical Applications in Agricultural Economics Agricultural Economics, 7 (1992), 185-208
4. Bauer, P W Recent Development in The Econometric Estimation of Frontiers Journal
of Econometrics, 46 (1990), 39-56
5. Bezemer, D, Balcombe K., Davis Jr and I Fraser, Livelihoods and Farm Efficiency in Rural Georgia Applied Economics 37 (2005), 1737-1745
6. Broeck, J V D, Koop, G., Osiewalski, J and M F J Steel, Stochastic Frontier Models – A Bayesian Perspective Journal of Econometrics, 61(1994), 173-303
7. Bui Thi Tam, Mai Van Xuan and Nguyen Dang Hao, Trade Liberalization and Poverty dynamics in the Central Region, Vietnam Working Paper VERN-1, Hanoi, 2005
8. Coelli, T., Rahman, S and C Thirtle, Technical, Allocative, Cost and Scale Efficiencies
in Bangladesh Rice Cultivation: A Non-Parametric Approach Journal of Agricultural
Economics, 53 (3) (2002), 607-626
9. Ellis, F The Determinants of Rural Livelihood Diversification in Developing Countries,
Journal of Agricultural Economics, 51(2) (2000), 289-302
10. Koop, G, J Osiewalski and M.F.J Steel, Bayesian Efficiency Analysis Through Individual Effects: Hospital Cost Frontiers, Journal of Econometrics, 76 (1997),
77-105
11. Kumbhakar, S C and E G Tsionas, Measuring Technical and Allocative Inefficiency
in the Translog Cost System: A Bayesian Aproach Journal of Econometrics, 126 (2005),
355-384
12. O’Donnell, C and T Coelli, A Bayesian Approach to Imposing Curvature on Distance Functions, School of Economics, University of Queensland, 2002
13. Thiam, A., Bravo-Ureta, B E and T E Rivas, Technical Efficiency in Developing Country Agriculture: A Meta-Analysis Agricultural Economics, 25(2001), 235-243
Trang 9RURAL LIVELIHOOD DIVERSIFICATION AND FARM EFFICIENCY:
AN APPLICATION OF BAYESIAN STOCHASTIC PRODUCTION FRONTIER APPROACH
Bui Thi Tam et al Faculty of Hospitality and Tourism, Hue University
SUMMARY
Rural livelihood diversification is regarded as a common strategy of farm households to cope with risks and uncertainty However, the growing concern is whether the livelihood diversification helps to improve farm efficiency leading to sustainable growth and poverty reduction Using Bayesian stochastic production frontier approach and the data from the most recent Vietnam Household Living Standard Survey (VHLSS 2006), the estimation results support that “the livelihood diversification in the Central region is of a “destress-push’ type associated with low farm efficiency” This implies that policy interventions are needed to support farm households, reduce their risks and vulnerability, involve more in ‘positive diversification’ for
their better-off and ensure more sustainable achievements of poverty reduction
Trang 10Phụ lục 1: Giải thích các biến
flabor Lao động bình quân hộ 2,536 1,791 fkavg Vồn bình quân hộ/năm 20.300,340 49.680,550 land Diện tích đất nông nghiệp của hộ 8.568,680 18.563,960 nonfarm Hoạt động phi nông nghiệp 0,582 0,493 hhsize Qui mô khẩu trong hộ 4,984 2,879 hindex
Chỉ số đa dạng hoá nông nghiệp (Herfindahl index)
0 ≤ H ≤ 1, H càng nhỏ thì mức độ đa
dạng hoá càng cao
0,713 0,193
bad_weather Thời tiết xấu (trong 3 năm qua) 0,800 0,399
headfexper Kinh nghiệm của chủ hộ 15,605 15,275 headsex Giới tính của chủ hộ 0,489 0,500
headedu Trình độ văn hoá của chủ hộ 1,728 0,822 wkadult rate Tỉ lệ lao động người lớn trong hộ 2,088 1,009 male_rate Tỉ lệ người lớn nam trong hộ 0,2828758 0,1597237 female_rate Tỉ lệ người lớn nữ trong hộ 0,3172149 0,1658228 infant_rate Tỉ lệ trẻ em trong hộ 0,2436224 0,5083453 nfilabor Thu nhập ròng nông nghiệp bình quân lao