T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 55, 2009 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH Nguy ễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả Tr ường Đại học Nông Lâm, Đại họ
Trang 1T ẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 55, 2009
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH
Nguy ễn Hữu Văn, Nguyễn Tiến Vởn, Nguyễn Xuân Bả
Tr ường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
T ạ Nhân Ái
S ở Khoa học và Công nghệ, tỉnh Quảng Trị
TÓM T ẮT
Kh ảo sát trên 240 bò vàng và 546 bò lai Sind nuôi tại 4 huyện thuộc tỉnh Quảng Trị đã được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2008 để đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển theo h ướng thịt của đàn bò hiện được nuôi tại địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy khối
l ượng bình quân của bò nội lúc sơ sinh là 13,3 kg cho con đực và 10,7 kg cho con cái; lúc 12 tháng tu ổi là 112,1 và 88,9 kg, và lúc 24 tháng tuổi tương tự là 182,2 và 164,4 kg Với bò lai Sind, kh ối lượng tại các thời điểm đều cao hơn hẳn so với bò nội, cụ thể lúc sơ sinh là 18,8 kg cho con đực và 17,7 kg cho con cái; lúc 12 tháng tuổi là 143,1 và 136,1 kg, và lúc 24 tháng tuổi
là 244,0 và 210,6 kg So v ới các nghiên cứu trước đây, bò địa phương Quảng Trị đã được cải thi ện chút ít về tầm vóc, nhưng so với các nhóm bò nội và bò lai Sind trên toàn quốc, cả bò nội
l ẫn bò lai ở đây đều nhỏ con hơn và tăng trọng chậm hơn Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để phát tri ển chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, tỉnh Quảng Trị cần phải đầu tư cao độ để cải thi ện cả về con giống lẫn điều kiện nuôi dưỡng
T ừ khóa: Bò vàng, bò lai Sind, sinh trưởng, tăng trọng, Quảng Trị
1 Đặt vấn đề
Theo số liệu của Cục Chăn nuôi (2008), giai đoạn 2001-2005 đàn bò Quảng Trị
tăng với tốc độ bình quân 3,5 %/năm (bình quân toàn quốc tăng 10,5 %/năm) Năm
2007, tổng đàn bò của tỉnh là 77.457 con, trong đó có 6241 bò lai Sind, chiếm tỉ lệ 8,1% (bình quân toàn quốc là 26,3%) Nhìn chung tốc độ tăng đàn bò và tỉ lệ bò lai ở Quảng
Trị còn thấp so với bình quân của cả nước Giống bò nuôi ở Quảng Trị vẫn chủ yếu là
bò vàng địa phương (bò cóc) và kế đến là con lai của chúng với bò Red Sindhi, các con lai Zê-bu và bò lai hướng thịt khác hầu như không đáng kể (Nguyễn Tiến Vởn và cộng
sự, 2009)
Bò vàng Việt nam có một số ưu điểm như thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi
của nước ta, khả năng sử dụng thức ăn thô cao, chống chịu tốt với bệnh tật đặc biệt là
bệnh ký sinh trùng… Tuy nhiên, chúng có một số nhược điểm như tầm vóc nhỏ, tăng
Trang 2trọng thấp, năng suất thịt không cao Theo kết quả điều tra của Trường Đại học Nông Lâm Huế (Nguyễn Tiến Văn và cộng sự, 1992) trên đàn bò vàng tỉnh Quảng Trị thì bình quân khối lượng trưởng thành của bò đực là 243 kg, bò cái là 182 kg Vì thế trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ tập trung đánh giá sức sinh trưởng bò vàng địa
phương và bò lai Sind đang được nuôi trong nông hộ của tỉnh
Mục đích của đề tài nhằm: (1) Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của bò vàng địa phương và bò lai Sind trong cùng điều kiện chăn nuôi hiện tại; (2) Thiết lập cơ
sở dữ liệu tương đối sát thực để phục vụ cho chiến lược phát triển chăn nuôi bò thịt theo
hướng thâm canh, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
2 N ội dung và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại một số xã của huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh và Cam Lộ từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2008 Tổng cộng có 240 bò vàng địa
phương và 546 bò lai Sind ở các độ tuổi: sơ sinh, 3, 6, 9, 12, 15, 18, 24, 30, 36, và trên
42 tháng tuổi đã được cân đo các chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo và khối lượng
cơ thể
Chiều cao vây được tính từ mặt đất lên đến u vai, dùng thước gậy Vòng ngực đo ngay phía sau nách chân trước, dùng thước dây Dài thân chéo được tính từ mỏm trước
xương bả vai cánh tay đến u xương ngồi, đo bằng thước gậy Khối lượng bò được xác định bằng cân địên tử chuyên dùng cho đại gia súc của hãng RudWeight (Newzealand)
có độ chính xác đến 0,5kg
Các kết quả thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần
mềm Microsoft Excel 2003
3 K ết quả và thảo luận
Tầm vóc của giống bò thường được đánh giá thông qua các chiều đo cao vây, vòng ngực và dài thân chéo Kết quả khảo sát của chúng tôi trên đàn bò Vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở bảng 1, 2 và 3 (đưa bảng 1, 2 và 3 vào sau đây)
B ảng 1 Trung bình cao vây (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau
Tháng
tu ổi
Trang 312 10 99,8 ± 4,42 10 97,7 ± 5,77 27 105,4 ± 3,95 25 103,5 ± 2,84
≥42 16 123,1 ± 4,64 10 113,9 ± 1,79 17 133,9 ± 6,02 23 117,7 ± 4,25
Bảng 2 Trung bình vòng ngực (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau
Tháng
tu ổi
Bảng 3 Trung bình dài thân chéo (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau
Tháng
tu ổi
Trang 46 10 75,2 ± 4,02 10 72,8 ± 3,46 29 85,5 ± 3,81 27 82,5 ± 2,87
Sự phát triển các chiều đo của cả hai giống bò đều tuân theo qui luật chung là
tăng nhanh ở thời kỳ còn non, sau đó tăng chậm lại và ổn định ở tuổi trưởng thành
tháng tuổi trở đi kích thước các chiều đo hầu như thay đổi không đáng kể
Nguyễn Tiến Văn và cộng sự (1992) điều tra trên đàn bò vàng Quảng Trị cho
biết trung bình cao vây, vòng ngực và dài thân chéo ở lứa tuổi trưởng thành của con đực
tương ứng là 111, 150 và 120 cm, của con cái tương ứng là 102, 133 và 111 cm Kết
quả khảo sát của chúng tôi cho thấy có sự cải thiện chút ít về tầm vóc của đàn bò vàng
Quảng Trị trong thời gian qua Nguyên nhân có thể là do đã có sự chọn lọc đàn bò giống theo hướng thịt một cách tự phát, vì nhu cầu sức kéo từ trâu bò có xu hướng giảm
Số liệu điều tra cũng cho thấy ở cùng độ tuổi thì bò lai Sind luôn vượt trội về
tầm vóc so với bò vàng Lúc 24 tháng tuổi, kích thước các chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo của bò lai Sind đã lớn hơn chút ít so với bò vàng lúc 36 tháng tuổi
Khối lượng của đàn bò nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Trung bình khối lượng (kg) của bò ở các độ tuổi khác nhau
Tháng
tu ổi
Trang 512 10 112,1 ± 11,99 10 88,9 ± 13,16 27 143,1 ± 13,04 25 136,1 ± 9,51
≥42 16 251,1 ± 20,70 10 198,4 ± 7,29 17 318,3 ± 45,24 23 247,5 ± 22,91
Vũ Văn Nội (1994) cho biết bò vàng Thanh Hoá và bò vàng Nghệ An lúc sơ sinh
nặng 14-15 kg Lúc 12 tháng tuổi bò Thanh Hoá nặng 90-100 kg, bò Nghệ An nặng
110-120 kg Lúc 24 tháng tuổi con đực và con cái bò Thanh Hoá cân nặng bình quân là 180
13,3 kg và của con cái là 10,7 kg, thấp hơn so với bò vàng Thanh Hoá và bò vàng Nghệ
An Tại thời điểm 12 và 24 tháng tuổi thì bò vàng Quảng Trị có khối lượng xấp xỉ bò vàng Thanh Hoá, tuy vậy vẫn thấp hơn nhiều so với bò vàng Nghệ An
Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự (2006) cũng cho biết bò vàng Việt nam có khối
lượng sơ sinh là 14-15 kg, trưởng thành của con đực là 250-280 kg, con cái là 160-200
kg Kết quả điều tra trên đàn bò vàng Quảng Trị cho thấy khối lượng lúc trưởng thành bình quân của con đực nằm ở cận dưới (251 kg), trong khi con cái nằm ở cận trên (198 kg) của khoảng biến động đó So với kết quả điều tra của Nguyễn Tiến Văn và cộng sự (1992) thì khối lượng trưởng thành của con đực (251 kg so với 243 kg) và con cái (198
kg so với 182 kg) đều có sự cải thiện đáng kể Nguyên nhân của sự cải thiện này có thể
là do bên cạnh công tác chọn lọc được quan tâm như đã nói trên thì công tác chăm sóc
Vởn và cộng sự, 2009) Số liệu điều tra lần này cũng chỉ ra rằng với đàn bò cái nền có
tầm vóc được cải thiện, công tác lai tạo nâng cao tầm vóc đàn bò Quảng Trị trong thời gian tới sẽ được thuận lợi hơn
So với bò giống địa phương cùng độ tuổi, bò lai Sind ở Quảng Trị có khối lượng cao hơn hẳn Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của cả nước thì khối lượng trưởng thành
của cả con đực và con cái đều thấp hơn Khối lượng trưởng thành bò lai Sind trong nước dao động trong khoảng 320-450 kg ở con đực và 250-350 kg ở con cái (Viện Chăn nuôi, 2004; Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự, 2006)
Kết quả tính toán tăng trọng hàng tháng của đàn bò nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở bảng 5
Trang 6Bảng 5 Diễn biến tăng trọng (kg/tháng) của bò theo lứa tuổi
Tháng
tu ổi
Tăng trọng bình quân của bò vàng Quảng Trị giai đoạn sơ sinh đến 18 tháng tuổi
chỉ đạt 8,2 kg/tháng (dao động trong khoảng 5,6-11,1 kg) ở con đực và 7,1 kg/tháng (dao động trong khoảng 4,3-8,2 kg) ở con cái Bò lai Sind tăng trọng cao hơn bò vàng nuôi trong cùng điều kiện: từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, bình quân đạt 10,0 kg/tháng (dao động trong khoảng 7,8-11,5 kg) ở con đực và 8,7kg/tháng (dao động trong khoảng 5,3-11,1 kg) ở con cái Tuy nhiên so với các kết quả nghiên cứu trong nước của các tác
giả khác công bố thì tăng trọng của bò vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng Trị đều thấp
hơn Điều đó có thể là do chế độ nuôi dưỡng ở đây chưa đáp ứng đủ nhu cầu của bò sinh
trưởng Một số nghiên cứu khác cho biết bò vàng được nuôi bình thường cho tăng trọng 4,4-9,4 kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng 12,9-24,2 kg/tháng Nguyễn Xuân Bả và
cộng sự (2008) Bò lai Sind được nuôi bình thường cho tăng trọng 6,0-9,5 kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng 14,1-25,2 kg/tháng (Nguyễn Xuân Bả và cộng sự, 2007;
Vũ Chí Cương và cộng sự, 2007; Vũ Văn Nội và cộng sự, 1999; Lê Viết Ly và cộng sự, 1995)
4 K ết luận và đề nghị
Kết quả điều tra cho thấy mặc dù tầm vóc, khối lượng và tăng trọng của đàn bò địa phương Quảng Trị đã có sự cải thiện so với trước đây, nhưng so với mặt bằng chung
của cả nước thì vẫn còn thấp hơn Trong cùng điều kiện chăn nuôi, bò lai Sind thể hiện
sự vượt trội về các chỉ số nói trên nhưng vẫn còn thấp hơn giá trị trung bình của cả nước
Trang 7Vì vậy, để phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cần phải có một loạt các giải pháp đồng bộ, trong đó phải chú trọng
hơn nữa công tác chọn lọc, lai tạo đồng thời giải quyết tốt vấn đề thức ăn và dinh dưỡng
nhằm phát huy được hết tiềm năng di truyền của các giống bò cũng như con lai của chúng
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
1 C ục Chăn nuôi, Số liệu thống kê http://www.cucchannuoi.gov.vn/Statistical.aspx, 2008
2 Lê Vi ết Ly, Nguyễn Thiện, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn
Văn Niêm, Tổng hợp kết quả nghiên cứu bò lai hướng thịt, Tuyển tập công trình nghiên
c ứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi (1969-1995), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995
3 Nguyễn Tiến Văn và cộng sự, Nhận xét bước đầu một số đặc điểm về giống của đàn bò
ba t ỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu khoa học: Tuyển tập các
công trình nghiên c ứu khoa học kỹ thuật trên địa bàn miền Trung, Trường Đại học Nông Lâm Hu ế, (1992), 92-95
4 Nguy ễn Tiến Vởn, Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Xuân Bả, Tạ Nhân Ái, Dương Thị
Hương, Kết quả khảo sát hiện trạng chăn nuôi bò ở tỉnh Quảng Trị, Tạp chí Nông
nghi ệp và Phát triển Nông thôn, Số 3, (2009), 72-75
5 Nguyen Xuan Ba, Nguyen Huu Van, Le Duc Ngoan, Clare M Leddin, Peter T Doyle, Effects of Amount of Concentrate Supplement on Forage Intake, Diet Digestibility and Live Weight Gain in Yellow Cattle in Vietnam, Asian-Aust J Anim Sci., Vol 21, No
12, (2008), 1736-1744
6 Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn, Lê Đức Ngoan, CM Leddin, PT Doyle, Kết quả nghiên c ứu sử dụng thức ăn trong chăn nuôi bò thịt ở miền Trung Việt Nam, Tạp chí
Nông nghi ệp và Phát triển Nông thôn, Số 4, (2007), 15-18
7 Nguyễn Xuân Trạch, Giáo trình Chăn nuôi trâu bò, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 2006
8 Viện Chăn nuôi-Vụ Khoa học Công nghệ, Át lát các giống vật nuôi ở Việt Nam, NXB
Nông nghi ệp, Hà Nội, 2004
9 Vũ Chí Cương, Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng các
gi ải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt và xác định một số
b ệnh nguy hiểm đối với bò để xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây Nguyên",
Vi ện Chăn nuôi, Hà Nội, 2007
10 Vũ Văn Nội, Nghiên cứu khả năng sản xuất của đàn bò lai Sind, bò lai kinh tế hướng
th ịt trên nền bò lai Sind ở một số tỉnh miền Trung, Luận án Phó tiến sĩ Nông nghiệp,
Vi ện Chăn nuôi, Hà Nội, 1994
Trang 811 Vũ Văn Nội, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Kim Cương và Đinh Văn Tuyền, Sử dụng nguồn
th ức ăn sẵn có để vỗ béo bò nâng cao khả năng cho thịt và hiệu quả kinh tế, Kết quả
nghiên c ứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1998-1999, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1999
AN ASSESSMENT OF THE GROWTH OF LOCAL AND CROSSBRED CATTLE POPULATION PRESENTLY RAISED IN QUANG TRI PROVINCE
Nguyen Huu Van, Nguyen Tien Von, Nguyen Xuan Ba College of Agriculture and Forestry, Hue University
Ta Nhan Ai Department of Science and Technology, Quang Tri province
SUMMARY
A survey on 240 local and 546 (Red Sindhi and Vietnamese Yellow) crossbred cattle raised in 4 districts, Quang Tri province was conducted to evaluate the development of the animals at ages from newborn to maturity Results from the survey have revealed that live weight at birth, at 12 and at 24 months of age of local cattle are 13,3 (male) and 10,7 kg (female); 112,1 and 88,9 kg; and 182,.2 and 164,4 kg; respectively Similar values for the crossbreds are: 18.8 and 17.7kg; 143.1 and 136.1kg; and 244.0 and 210.6kg Compared to figures from a survey conducted in 1992, the local cattle today appear to have better development features However, the results indicated that the growth of both local and crossbred cattle being raised in Quang Tri are poorer than that of the national average The study suggests that both genetic and nutrition situations need to be intensively improved in order to shift the cattle husbandry to intensive beef production system.
Key words: Yellow cattle, Red Sindhi crossbred cattle, growth, weight gain, Quang Tri