MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuNhững năm gần đây, kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Bắt đầu từ năm 2008, hiện tượng một loạt các ngân hàng lớn nhỏ của Mỹ phá sản gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế không chỉ của Mỹ mà của nhiều nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này kéo dài cho đến nay, năm 2013, lạm phát trên thế giới tăng cao, nhiều doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng cao… Một trong những biểu hiện nhìn thấy rõ nhất là sự mất ổn định của tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới. Giá chứng khoán lên xuống thất thường, chủ yếu là giảm, như rơi xuống một vực sâu không đáy khiến các nhà đầu tư hoang mang, không xác định được định hướng đầu tư.Tháng 11 năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tế trong nhiều lĩnh vực. Để hoà nhập được với kinh tế quốc tế, kinh tế của Việt Nam đã từng bước không ngừng phát triển theo hướng kinh tế thị trường. Các thị trường được hình thành rõ nét và ngày càng phát triển, đặc biệt là thị trường vốn. Một trong các công cụ trợ giúp quan trọng cho sự phát triển của thị trường vốn là các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu bằng việc sử dụng các ghi chép kế toán. Các qui định của chế độ kế toán đóng vai trò quyết định tính hữu ích của các thông tin tài chính, nó đòi hỏi các thông tin tài chính của một doanh nghiệp do kế toán đưa ra ngày càng phải tiến dần đến giá thị trường của doanh nghiệp đó.Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được sửa đổi như hiện nay nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhằm tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của kế toán quốc tê, giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đủ điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, giúp các nhà đầu tư nước ngoài có cơ sở để đánh giá tình hình các doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư. Trong quá trình phát triển của mình, dựa vào tình hình thực tế của nền kinh tế Việt Nam và các kinh nghiệm của kế toán quốc tế, Việt Nam đã phát triển Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và các hướng dẫn thực hiện hệ thống chuẩn mực đó. Nhưng hiện nay, các qui định về kế toán doanh nghiệp của Việt Nam chưa đảm bảo tạo ra các thông tin tài chính của doanh nghiệp theo giá trị hợp lý để các tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá. Chính vì vậy, các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp gây cho những người quan tâm đến báo cáo tài chính doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định của mình. Không ít các quyết định đầu tư được coi là sai lầm chỉ vì nhà đầu tư chưa hoặc không nhận biết được tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các thông tin tài chính được doanh nghiệp công bố. Để giúp cho các nhà đầu tư có được các thông tin tài chính hữu ích, là nền tảng để phát triển thị trường vốn, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam cần phải được thay đổi để các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp đưa ra tiến dần tới giá trị của doanh nghiệp đó nếu doanh nghiệp được đưa ra mua bán, trao đổi trên thị trường. Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn hiện nay, tính hữu ích của các thông tin tài chính là một đòi hỏi và không thể thiếu được trong hoạt động của các nhà đầu tư. Chính vì các lý do trên đây, đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” là đề tài mang tính thời sự và thực sự cần thiết để hoàn thiện Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam, giúp các nhà đầu tư có các thông tin tài chính hữu ích.2. Mục đích nghiên cứuMục đích của nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp, nghiên cứu các qui định về giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, của một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện và của một số nước có đặc điểm nền kinh tế tương tự của Việt Nam, đặc biệt đi sâu nghiên cứu các qui định về giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra các ưu, nhược điểm, hạn chế nhằm đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định này tại Việt Nam.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng của đề tài là tập trung nghiên cứu lý luận chung về giá trị hợp lý trong kế toán; tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc
Trang 1DƯƠNG THỊ THẢO
MéT Sè GI¶I PH¸P HOµN THIÖN C¸C QUI §ÞNH
VÒ Sö DôNG GI¸ TRÞ HîP Lý TRONG CHÕ §é
KÕ TO¸N DOANH NGHIÖP VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2DƯƠNG THỊ THẢO
MéT Sè GI¶I PH¸P HOµN THIÖN C¸C QUI §ÞNH
VÒ Sö DôNG GI¸ TRÞ HîP Lý TRONG CHÕ §é
KÕ TO¸N DOANH NGHIÖP VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 62.34.30.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS PHÙNG THỊ ĐOAN
2 TS LƯU ĐỨC TUYÊN
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Dương Thị Thảo
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
M c l cục lục ục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN QUỐC TẾ 9
1.1 Những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý 9
1.1.1 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc kế toán trên thế giới 9
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán trên thế giới 13
1.1.3 Phân loại hệ thống kế toán trên thế giới 14
1.1.4 Nguyên tắc tính giá và các loại giá sử dụng trong kế toán 15
1.2 Kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán Quốc tế 17
1.2.1 Giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá và ghi nhận ban đầu 19
1.2.2 Giá trị hợp lý được sử dụng sau ghi nhận ban đầu 20
1.2.3 Ghi nhận chênh lệch phát sinh đo sự biến động của giá trị hợp lý .30
1.2.4 Đo lường giá trị hợp lý theo Chuẩn mực Lập và Trình bày báo cáo tài chính số 13 (IFRS 13) 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUI ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 39
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển cơ sở kế toán xác định giá trị trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam 39
2.1.1 Sự phát triển của Kế toán Việt Nam 39
2.1.2 Quá trình phát triển cơ sở kế toán xác định giá trị trong kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam 41
2.2.Thực trạng các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay 43
2.2.1 Khái niệm giá trị hợp lý 43
Trang 52.2.4 Ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý 53
2.2.5 Chuẩn mực kế toán - Đo lường giá trị hợp lý 53
2.3 Nhận xét về áp dụng nguyên tắc kế toán xác định giá trị tại Việt Nam 53
2.3.1 Những ưu điểm 53
2.3.2 Những hạn chế 55
2.4 So sánh một số nét chính sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế và kế toán Việt Nam hiện nay 56
2.5 Nhận xét về Kết quả Khảo sát sử dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 61
2.6 Thực trạng định giá tài sản tại Việt Nam hiện nay 63
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 66
3.1 Sự cần thiết 66
3.1.1 Đặc thù nền kinh thế Việt Nam hiện nay 66
3.1.2 Xu hướng chung của các nước trên thế giới 70
3.1.3 Sự cần thiết áp dụng nguyên tắc kế toán giá trị hợp lý tại Việt Nam .74
3.2 Nguyên tắc hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán doanh nghiệp Việt Nam 79
3.3 Một số đề xuất sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp tại Việt Nam 81
3.3.1 Trong ngắn hạn 81
3.3.2.Trong dài hạn 91
3.4 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 97
3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước 97
3.4.2 Kiến nghị với các Hội nghề nghiệp 99
3.4.3 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp 100
KẾT LUẬN 101
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7Phụ lục 1 : Phiếu khảo sát
Phụ lục 2 : Phương pháp khảo sát và kết quả khảo sát Phụ lục 3 : Danh sách các doanh nghiệp khảo sát
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Những năm gần đây, kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng khủng hoảngtrầm trọng Bắt đầu từ năm 2008, hiện tượng một loạt các ngân hàng lớn nhỏ của
Mỹ phá sản gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế không chỉ của Mỹ mà của nhiềunước trên thế giới Cuộc khủng hoảng này kéo dài cho đến nay, năm 2013, lạm pháttrên thế giới tăng cao, nhiều doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng cao… Mộttrong những biểu hiện nhìn thấy rõ nhất là sự mất ổn định của tất cả các thị trườngchứng khoán trên thế giới Giá chứng khoán lên xuống thất thường, chủ yếu làgiảm, như rơi xuống một vực sâu không đáy khiến các nhà đầu tư hoang mang,không xác định được định hướng đầu tư
Tháng 11 năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tếtrong nhiều lĩnh vực Để hoà nhập được với kinh tế quốc tế, kinh tế của Việt Nam
đã từng bước không ngừng phát triển theo hướng kinh tế thị trường Các thị trườngđược hình thành rõ nét và ngày càng phát triển, đặc biệt là thị trường vốn Một trongcác công cụ trợ giúp quan trọng cho sự phát triển của thị trường vốn là các thông tintài chính của doanh nghiệp Các thông tin tài chính của doanh nghiệp được hìnhthành chủ yếu bằng việc sử dụng các ghi chép kế toán Các qui định của chế độ kếtoán đóng vai trò quyết định tính hữu ích của các thông tin tài chính, nó đòi hỏi cácthông tin tài chính của một doanh nghiệp do kế toán đưa ra ngày càng phải tiến dầnđến giá thị trường của doanh nghiệp đó
Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được sửa đổi như hiện nay nhằm đápứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhằm tuân thủ các nguyên tắc, chuẩnmực chung của kế toán quốc tê, giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đủ điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế, giúp các nhà đầu tư nước ngoài có cơ sở để đánh giá tìnhhình các doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư Trong quá trình phát triển củamình, dựa vào tình hình thực tế của nền kinh tế Việt Nam và các kinh nghiệm của
kế toán quốc tế, Việt Nam đã phát triển Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và
Trang 9các hướng dẫn thực hiện hệ thống chuẩn mực đó Nhưng hiện nay, các qui định về
kế toán doanh nghiệp của Việt Nam chưa đảm bảo tạo ra các thông tin tài chính củadoanh nghiệp theo giá trị hợp lý để các tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị mộtkhoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biếttrong sự trao đổi ngang giá Chính vì vậy, các thông tin trên báo cáo tài chính củadoanh nghiệp gây cho những người quan tâm đến báo cáo tài chính doanh nghiệp,đặc biệt là các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định của mình.Không ít các quyết định đầu tư được coi là sai lầm chỉ vì nhà đầu tư chưa hoặckhông nhận biết được tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các thông tin tàichính được doanh nghiệp công bố
Để giúp cho các nhà đầu tư có được các thông tin tài chính hữu ích, là nềntảng để phát triển thị trường vốn, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam cần phảiđược thay đổi để các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp đưa ra tiếndần tới giá trị của doanh nghiệp đó nếu doanh nghiệp được đưa ra mua bán, trao đổitrên thị trường Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn hiện nay, tính hữuích của các thông tin tài chính là một đòi hỏi và không thể thiếu được trong hoạtđộng của các nhà đầu tư
Chính vì các lý do trên đây, đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện các qui định
về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” là
đề tài mang tính thời sự và thực sự cần thiết để hoàn thiện Chế độ Kế toán Doanhnghiệp Việt Nam, giúp các nhà đầu tư có các thông tin tài chính hữu ích
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về giá trị hợp lý trong kếtoán doanh nghiệp, nghiên cứu các qui định về giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, củamột số nước có nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện và của một số nước có đặcđiểm nền kinh tế tương tự của Việt Nam, đặc biệt đi sâu nghiên cứu các qui định về giátrị hợp lý trong kế toán Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra các ưu, nhược điểm, hạn chếnhằm đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định này tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là tập trung nghiên cứu lý luận chung về giá trị hợp lýtrong kế toán; tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc
Trang 10tế; các qui định về việc phản ánh giá trị hợp lý của tài sản, công nợ, công cụ vốntrong doanh nghiệp tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu, các quiđịnh về ghi nhận chênh lệch biến động của giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toánDoanh nghiệp Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cácqui định về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lịch sử hình thành giá trị hợp lý trong kếtoán, kinh nghiệm sử dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý trong kế toán quốc
tế, các qui định về giá trị hợp lý trong chuẩn mực và Chế độ Kế toán Việt Nam,chọn mẫu báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứngkhoán, một số tổ chức tài chính, một số doanh nghiệp chưa niêm yết thuộc các loạihình doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH tại Việt Nam để khảosát việc vận dụng nguyên tắc này ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
NCS đã vận dụng Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử; Phương pháp hệ thống; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích tổnghợp; Phương pháp so sánh, đối chiếu để tiếp cận và nghiên cứu đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
- Luận án đã khái quát những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý trong kếtoán, tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, giúpngười đọc có cái nhìn tổng quan về giá trị hợp lý trong kế toán
- Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực tế các qui định về ghi nhận giá trịcủa tài sản, công nợ và công cụ vốn của Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam,thực tế áp dụng nguyên tắc kế toán này tại các doanh nghiệp Việt Nam, luận án đãkhẳng định rằng để các thông tin trên báo cáo tài chính doanh nghiệp thực sự phục
vụ cho nhu cầu của người sử dụng thông tin và phù hợp với tình hình phát triểncủa nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì Chế độ Kế toán Việt Nam cần thiết phải bổsung các qui định về ghi nhận giá trị của tài sản, công nợ và công cụ vốn theo giátrị hợp lý
- Để tăng cường sự hữu ích của các thông tin trên báo cáo tài chính doanhnghiệp, giúp kế toán Việt Nam hội nhập toàn diện với kế toán của các nước trên thếgiới, thị trường vốn có cơ sở vững chắc để phát triển, luận án đã đưa ra một số giải
Trang 11pháp nhằm hoàn thiện các qui định về giá trị hợp lý của tài sản, công nợ và công cụvốn trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đồng thời cũng phântích rõ các vấn đề về các điều kiện cần thiết, thẩm định giá cần phải sửa đổi để ápdụng các qui định này.
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về giá trị hợp lý và kinh nghiệm sử dụng giá trị
hợp lý trong kế toán quốc tế
Chương 2: Thực trạng qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế
toán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định về sử dụng giá trị
hợp lý trong Chế độ Kế toán doanh nghiệpViệt Nam hiện nay
7 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
7.1 Tổng quan các Đề tài nghiên cứu có liên quan
Xuất phát từ quá trình hoạt động về kế toán và kiểm toán, NCS nhậnthấy rằng:
Thứ nhất, từ khi thị trường chứng khoán trong nước phát triển, người quan
tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã gia tăng rất nhiều, đặc biệt là cácnhà đầu tư Nền kinh tế phát triển, vốn đầu tư yêu cầu ngày càng cao, kênh huyđộng vốn tín dụng quan ngân hàng cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Để quản
lý được nguồn vốn tín dụng của mình, các ngân hàng cũng quan tâm nhiều đến báocáo tài chính của doanh nghiệp Số liệu tài chính này là cơ sở cho việc các bên liênquan đưa ra các quyết định của mình
Thứ hai, một số nguyên tắc kế toán áp dụng tại Việt Nam hiện nay đòi hỏi
người đọc báo cáo tài chính phải có một trình độ kế toán tốt, thông tin trên báo cáotài chính như: Tổng tài sản, nguồn vốn vẫn phải qui đổi Giá trị trên báo cáo tàichính chưa phản ánh đúng giá trị thực của tải sản tại thời điểm lập báo cáo
Thứ ba, việc hơn 300 Ngân hàng Mỹ phá sản đã tạo ra cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 2008 trên thế giới, kéo dài hậu quả đến tận ngày nay (2012) đã làm cácbên liên quan đổ tội lẫn nhau Một trong những lỗi được nhắc đến, các nhà quản lý
Trang 12ngân hàng kêu ca về nguyên tắc khắt khe trong việc phản ánh giá trị tài sản ngânhàng theo giá trị hợp lý đã làm cho ngân hàng phá sản nhanh hơn Việc này đã gâymột tranh luận rất gay gắt về việc áp dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lýtrên thế giới.
Thứ tư, có nhiều hiện tượng cố tình gian lận, đối phó của các doanh nghiệp,
ngân hàng đối với qui định của luật pháp Việt Nam có thể được đẩy lùi nếu áp dụngcông cụ kế toán theo giá trị hợp lý như: Hiện tượng tăng vốn của Ngân hàng năm
2011 (khoảng hơn 46.000 tỷ đồng) theo qui định của Ngân hàng Nhà nước là: Cácngân hàng thương mại phải tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng Nếu áp dụng kế toán theogiá trị hợp lý thì có thể ngăn ngừa các việc làm gian lận dẫn đến tình trạng tăng vốngiả, làm đau đầu các nhà quản lý và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư
Từ các lý do trên, NCS xác định, việc nghiên cứu về kế toán theo nguyên tắcgiá trị hợp lý là cần thiết, có nhiều tác dụng trong hoạt động nghề nghiệp của NCScũng như cho nhiều người quan tâm khác ở Việt Nam hiểu về tác dụng quản lý nềnkinh tế của một nguyên tắc tính giá trong kế toán nói riêng cũng như khoa học kếtoán nói chung
Đi sâu xem xét các đề tài nghiên cứu có liên quan đến giá trị hợp lý, NCSnhận thấy rằng, ở nước ta hiện nay, ngoài Luận văn Thạc sỹ của Lê Vũ Ngọc Thanh(được ghi cụ thể ở phía dưới), chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng thể vềviệc sử dụng giá trị hợp lý trong chế độ kế toán doanh nghiệp Chỉ có một số bàiviết nhỏ đăng trên các tạp chí và báo hoặc các trang website chuyên ngành viết về
kế toán theo giá trị hợp lý của từng khoản mục kế toán Các tài liệu mà NCS thamkhảo và thu thập được như sau:
1 Lê Vũ Ngọc Thanh, Định hướng về việc sử dụng giá trị hợp lý trong hệ
thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế
TP.HCM, 2005
2 Bùi Thị Ngọc, Bàn về giá trị hợp lý trong hợp nhất kinh doanh, Tạp chí
Nghiên cứu tài chính kế toán, số 09 năm 2008
3 Phan Lê Thành Long, Kế toán theo giá trị hợp lý trong cuộc khủng
hoảng tài chính tại Mỹ, http://www.kiemtoan.com.vn, ngày 10 tháng 10 năm 2008.
Trang 134 Nguyễn Thế Lộc, Tính hợp lý của“ Giá trị hợp lý” trong hệ thống chuẩn
mực báo cáo tài chính quốc tế, Tạp chí Kiểm toán, số 11 năm 2010.
5 Công ty Luật Brandco, Mọi con đường đều dẫn tới kế toán theo giá trị
hợp lý, http://www.brandco.vn, 2010.
6 Lê Hoàng Phúc, Thực trạng và định hướng sử dụng giá trị hợp lý trong
kế toán Việt Nam, Trường Cao đẳng Kinh tế Tài chính Vĩnh Long, 2011.
7 Mai Ngọc Anh, Có nên sử dụng giá trị hợp lý là cơ sở tính giá duy nhất
trong kế toán tài chính, Khoa Kế toán, Học viện tài chính, 2012.
Sau khi tham khảo các tài liệu nêu trên, NCS nhận thấy, còn nhiều vấn đề về
áp dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý chưa được nghiên cứu Đây cũng làmột thuận lợi trong việc NCS xác định đề tài nghiên cứu trong quá trình học tập
7.2 Xác định đề tài nghiên cứu
Từ thực tế nghiên cứu Tổng quan các Đề tài nghiên cứu có liên quan đã trình
bày ở phần 6.1, NCS xác định đề tài nghiên cứu là: Một số giải pháp hoàn thiện các
qui định về sử dụng giá trị hợp lý trong Chế độ Kế toán Doanh nghiệp hiện nay”.
Đây là đề tài mang tính thời sự và thực sự cần thiết để hoàn thiện Chế độ Kế toánDoanh nghiệp Việt Nam, giúp các nhà đầu tư có các thông tin tài chính hữu ích
7.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, bất kỳ một ý tưởng nào xuất hiện liên quan đến
sử dụng kế toán theo giá trị hợp lý, NCS cũng đối chiếu nó với các câu hỏi:
1 Khi áp dụng, thông tin trên báo cáo tài chính đã minh bạch chưa, người
sử dụng thông tin có thể hiểu nhầm ở điểm nào không?
2 Các cơ quan quản lý có dễ kiểm tra, kiểm soát khi doanh nghiệp áp dụngcác nguyên tắc này không?
3 Khi áp dụng nguyên tắc này, liệu người sử dụng thông tin tài chính chỉ cótrình độ sơ đẳng về kế toán thì có hiểu được không?
4 Áp dụng nguyên tắc này, có gây khó khăn gì cho doanh nghiệp haykhông? Nó có phù hợp với trình độ nhận thức của kế toán hay không? Có làm chodoanh nghiệp tốn kém thêm khoản chi phí nào không?
5 Liệu các doanh nghiệp có thể lách các nguyên tắc này để làm sai lệch cácthông tin tài chính không?
Trang 146 Trên thế giới đã áp dụng phương pháp này chưa? Có hiệu quả không? Cócác phản ứng gì từ những người sử dụng thông tin tài chính không?
Khi các câu hỏi trên đều đồng thời được trả lời, xét các nguyên tắc có thể ápdụng, các đề xuất mới được NCS đưa ra NCS hoàn toàn dựa trên quan điểm, đềxuất phải có khả năng áp dụng, không đề xuất chung chung, nói chỉ để nói, không
có giá trị thực tiễn
7.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Xuất phát từ tổng quan nghiên cứu, nguồn gốc của đề tài và các câu hỏinghiên cứu, NCS xác định hướng tiếp cận của đề tài là: Tổng hợp rõ các qui địnhhiện hành về sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán Quốc tế hiện nay, xem xét vớiviệc áp dụng qui tắc này ở đại diện 03 châu lục là: Mỹ - đại diện cho Châu Mỹ,Anh - đại diện cho Châu Âu, Malaysia- đại diện cho Châu Á, là nước có nềnkinh tế tương đồng với Việt Nam Đồng thời, đối chiếu các qui định này với kếtoán Việt Nam, chỉ ra sự khác biệt về áp dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp
lý giữa kế toán Việt Nam và Kế toán quốc tế NCS cũng nghiên cứu tình hìnhthực tế của kinh tế Việt Nam, trên cơ sở thực tiễn về đặc điểm từng loại hìnhdoanh nghiệp, cơ sở thực hiện nguyên tắc để đề xuất các giải pháp áp dụng cóhiệu quả
7.5 Các khó khăn mà NCS gặp phải trong quá trình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của người Việt Nam quá ít, các tài liệu bằng Tiếng Việtcũng không có nhiều Do vậy, NCS phải thu thập và tham khảo chủ yếu các tài liệucủa nước ngoài bằng Tiếng Anh thông qua các website chuyên ngành trên internet.Đây cũng là một trong những hạn chế về ngôn ngữ, bởi có những thuật ngữ chuyênngành chưa được Việt hóa lần nào Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2008 đã làm cho có rất nhiều các ý kiến trái chiều về việc có áp dụng nguyên tắc kếtoán theo giá trị hợp lý hay không Nhiều nhà quản lý cho rằng, chính việc áp dụngnguyên tắc này đã làm cho các ngân hàng phá sản nhanh hơn, làm cho cuộc khủnghoảng kinh tế trầm trọng hơn Các ý kiến trên đây đã làm NCS hoang mang, và đây
là nguyên nhân chính dẫn đến việc NCS đã không hoàn thành đúng thời hạn đề tàinghiên cứu đã chọn
Trang 158 Lời cảm ơn
Do nhiều hạn chế, Luận án không tránh khỏi những thiếu sót nhất định NCSmong nhận được nhiều góp ý từ các Giáo sư, Phó Giáo sư, các thầy cô giáo, các bạn
bè đồng nghiệp để Luận án được hoàn thiện tốt hơn
NCS xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo Học viện Tài chính,Khoa Sau Đại học, Khoa Kế toán, các thầy cô giáo trong Hội đồng đánh giá Chuyên
đề, Hội đồng đánh giá cấp bộ môn đã có nhiều ý kiến đóng góp và tạo điều kiện choNCS hoàn thành luận án Đặc biệt, NCS gửi lời cảm ơn đến hai thầy cô giáo hướngdẫn khoa học, những nhà khoa học đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện choNCS hoàn thành Luận án
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG
GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN QUỐC TẾ
1.1 Những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý
Dưới đây trình bày tổng quát lịch sử hình thành và phát triển các nguyên tắc
kế toán trên thế giới từ thời cổ đại cho đến hiện đại Phần này không phải là mộtnghiên cứu về lịch sử phát triển của tất cả các nguyên tắc kế toán mà chỉ đi sâu chủyếu vào sự hình thành và phát triển nguyên tắc xác định giá trị để ghi sổ kế toántrong các thời kỳ để từ đó làm rõ cơ sở hình thành lý luận chung về nguyên tắc kếtoán theo giá trị hợp lý
1.1.1 Sự hình thành và phát triển nguyên tắc kế toán trên thế giới
Không giống như phần lớn các nghề nghiệp hiện đại khác, kế toán có lịch sửphát triển lâu đời Đã có không ít các cuộc hội thảo bàn về lịch sử phát triển của kếtoán mà một trong những nội dung được đề cập thường xuyên nhất là quá trình rađời và phát triển của phương pháp ghi sổ kép gắn liền với đóng góp của vị thầy tukiêm nhà toán học người Ý Luca Pacioli
Lịch sử của kế toán gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt độngthương mại của con người mà cốt lõi là sự ra đời và phát triển của chữ viết cũngnhư việc sử dụng các con số và phép tính Có ý kiến cho rằng kế toán phát triểnnhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại nảy sinh do những sự thay đổi của môi trường
và nhu cầu xã hội Một số khác lại cho rằng chính sự phát triển của kế toán mới tạođiều kiện cho sự phát triển của thương mại vì chỉ thông qua việc sử dụng cácphương pháp kế toán chính xác và đầy đủ, hoạt động sản xuất kinh doanh hiện đạimới có thể phát triển, đáp ứng được yêu cầu của chủ thể kinh doanh và xã hội Tuynhiên, dù khác nhau song hai ý kiến trên đều thống nhất ở một điểm, đó là sự gắn
bó chặt chẽ giữa lịch sử phát triển của kế toán với hoạt động sản xuất kinh doanhcủa con người
Kế toán ra đời từ rất lâu và có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng nhậnđịnh này Tuy nhiên, không một tác giả nghiên cứu nào đưa ra thời gian chính xáckhi nào kế toán ra đời
Trang 17Thời Cổ đại
*
Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại:
Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át - xi - ri, Babylon vàXume phát triển rực rỡ ở Thung lũng Mesopotamia - nhờ điều kiện tự nhiên thuậnlợi mà trở thành vùng nông nghiệp trù phú Đây cũng là nơi xuất hiện những ghichép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán Khi người nông dân đã trở nên giàu có,các hoạt động kinh doanh dịch vụ và các ngành công nghiệp nhỏ phát triển ở khuvực lân cận thung lũng Mesopotamia Thành phố Babylon và Ninevah trở thành cáctrung tâm thương mại của vùng, trong đó Babylon được xem như là tiếng nói củakinh doanh và chính trị của cả vùng Cận Đông Có hơn một ngân hàng ởMesopotamia sử dụng thước đo tiêu chuẩn là vàng và bạc và cho phép một số giaodịch bằng tiền gửi ngân hàng
Trong suốt kỷ nguyên này, các ghi chép kế toán được thực hiện trên gốm sứ,việc ghi chép tuân theo các qui tắc pháp lý về việc ghi chép tài sản và các giao dịchliên quan đến tài sản Mỗi giao dịch được ghi chép lại theo các nội dung: Tên cácbên tham gia buôn bán, loại hàng hoá buôn bán và giá cả cùng những điều cam kếtquan trọng khác
Ở thời kỳ này, giá cả của hàng hóa do các bên trao đổi, mua bán với nhau là
cơ sở để kế toán ghi nhận giá trị của một giao dịch trên sổ kế toán
* Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại :
Kế toán ở Ai Cập cổ đại cũng phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia.Tuy nhiên, người Ai Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó, việc ghi chépchi tiết trở nên dễ dàng hơn Ở Ai Cập, người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thậncác tài liệu ghi chép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi những tài liệu
đó đã được kiểm tra bởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ Chính do hệ thốngkiểm tra này mà những người ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận vì họ
sẽ bị xử phạt nếu vi phạm các điều luật liên quan Các ghi chép này được dựa trêngiá trị các giao dịch trao đổi và được ghi bằng vàng hoặc bạc với tư cách là vậtngang giá chung
Kế toán ở Trung Hoa trước Công Nguyên được sử dụng cho mục đích đánhgiá hiệu quả của chương trình Chính phủ và những người vận hành chương trình đó.Việc ghi nhận giá trị căn cứ vào giá của các giao dịch chi tiêu của Chính phủ
Trang 18Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã áp dụng “kế toáncông khai” để tạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính củaChính phủ Thành viên của Hiệp hội Nhân dân Athens lập ra những quy tắc pháp lýcho vấn đề tài chính và quản lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám của 10nhân viên kế toán Nhà nước Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việcsáng tạo ra ra tiền kim loại vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên Việc sửdụng rộng rãi tiền kim loại trong một thời gian dài đã có tác động đến sự phát triểncủa kế toán Giá trị của các giao dịch trên thị trường là cơ sở cho việc ghi sổ kế toántại thời kỳ này
Thời Trung đại
Thời kỳ kéo dài hàng nghìn năm kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đếntrước thời điểm ra đời của cuốn sách đầu tiên của Luca Pacioli mang tên
“Suma” được coi là thời kỳ đình trệ của kế toán Các hoạt động kế toán diễn rangoài lãnh thổ của Italy thường không được đề cập đến trong các phần tổng kết lịch
sử Tuy nhiên, như nhà lịch sử Michael Chatfield đã quan sát thấy, thông tin kế toánthời trung cổ đã trở thành một trong những nền tảng của việc quản lý và các kỹthuật hạch toán cũng có cơ hội phát triển nhanh chóng Nhiệm vụ trung tâm của kếtoán thời kỳ này nhằm giúp cho Chính phủ và chủ sở hữu tài sản quản lý tài sảntheo trình độ từ thấp lên cao
Qua các giai đoạn phát triển của kế toán ở các quốc gia khác nhau, phươngpháp ghi sổ đơn, mang tính liệt kê mô tả được áp dụng có thể thấy , kế toán sử dụngphương pháp ghi đơn, đơn giản và mang tính liệt kê mô tả nhiều hơn Nguyên nhânchủ yếu là thiếu chữ viết và tiền giao dịch thích hợp Phương pháp ghi sổ kép ra đờivào thế kỷ XIV ở Italy gắn liền với đóng góp của Luca Pacioli đã đánh dấu mộtbước phát triển mới của kế toán hiện đại Nhờ đó, thương mại và trao đổi buôn bán
đã được đẩy lên tầm phát triển mới và loài người đã tìm được phương pháp xácđịnh lợi nhuận chuẩn xác hơn
Phương pháp ghi sổ đã được đổi mới Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đượcghi chép theo thứ tự phát sinh Các nghiêp vụ này phát sinh có thể được ghi sổ theonhiều đơn vị tiền tệ khác nhau được chấp nhận ở thời kỳ đó, sau đó được qui đổi
Trang 19thành đồng tiền hạch toán chung Giá trị của các nghiệp vụ được ghi theo giá cả tạithời điểm phát sinh.
Thời Cận đại và Đương đại
Đây là thời kỳ sau khi xuất bản cuốn sách của Pacioli mà thành tựu nổibậtcủa nó là phương pháp ghi sổ kép
Sau khi đường thương mại di chuyển từ những cảng của Venice sang đườngbiển Atlanta, bắt đầu là Tây Ban Nha, sau đó là Bồ Đào Nha rồi đến các nước Bắc
Âu, Italy mất dần vai trò trung tâm thương mại thế giới; do đó, sự phát triển tronglĩnh vực kế toán cũng dịch chuyển từ Italy đến các trung tâm thương mại mới này.Năm 1673, Pháp áp dụng luật kế toán đầu tiên với yêu cầu rằng bảng cân đối kếtoán phải được lập 2 năm một lần và quy định bên trái tài khoản bên nợ và bên phải
là tài khoản bên có
Cuộc cách mạng Pháp những năm 1700 đã đánh dấu bước khởi đầu của sựthay đổi chính phủ, tài chính, luật và thói quen vốn có Một loạt các nghiên cứu về
kế toán và sự phát cứu về kế toán và sự phát triển những lý luận về kế toán được rađời vào thời kỳ này
Sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã đem lại sức sản xuất ở quy mô lớn, cùng với
sự phát triển mạnh về sản xuất tài sản cố định (TSCĐ) TSCĐ dần dần trở nên chiếm vịtrí quan trọng và nó trở nên cần thiết phải khấu hao Hơn nữa, những hình thức
cơ bản của tổ chức kinh doanh đã di chuyển từ sở hữu tư nhân, hiệp hội kinh doanhsang công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần, do đó, kế toán cũng thay đổi
để đáp ứng sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp này Những qui định của chínhphủ cũng làm xuất hiện những hệ thống kế toán mới, chẳng hạn như kế toán thuế
Bắt đầu từ những năm 1900, sự phát triển các ngành công nghiệp thực sự đãlàm cho kế toán thay đổi rất nhiều Sát nhập, hợp nhất và sự tăng trưởng các công ty
cổ phần đa quốc gia đã khuyến khích sự ra đời của hệ thống báo cáo kiểm soát, báocáo nội bộ và báo cáo cung cấp cho đối tượng sử dụng bên ngoài công ty, sau đó làkiểm toán
Cuối cùng, với tốc độ tăng nhanh về vốn đầu tư nước ngoài và thị trườngquốc tế và những thông tin của nhóm, vùng kinh tế như cộng đồng chung Châu Âu(EU), những vấn đề kế toán ngày càng liên quan đến những hoạt động kinh doanh
Trang 20quốc tế Và nhiều nguyên tắc kế toán chung được đưa ra áp dụng, trong đó cónguyên tắc giá phí rất được chú trọng Nguyên tắc này là tiền đề cho việc các thôngtin tài chính được kế toán cung cấp có minh bạch hay không.
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán trên thế giới
Một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống kế toán mỗi mộtquốc gia trên thế giới, những yếu tố này là là những nguyên nhân dẫn đến hệ thống kếtoán nước này không giống hệ thống kế toán nước khác Những yếu tố cơ bản đó là:
- Quyền sở hữu doanh nghiệp: Các doanh nghiệp do gia đình sở hữu hoặc dothiểu số các ngân hàng sở hữu sẽ cung cấp ít thông tin hơn những doanh nghiệp dođông đảo các cổ đông sở hữu Những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước thì hệthống kế toán sẽ cung cấp những thông tin phục vụ mục tiêu kinh tế vĩ mô
- Hoạt động doanh nghiệp: Hoạt động của doanh nghiệp trong các lĩnh vựckhác nhau cũng ảnh hưởng đến hệ thống kế toán Ví dụ, doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực nông nghiệp có hệ thống kế toán khác với doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp,… Việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanhhay doanh nghiệp đa quốc gia cũng ảnh hưởng đến hệ thống kế toán
- Nguồn tài chính: Những doanh nghiệp có nguồn tài chính chủ yếu là cácngân hàng và các thành viên trong gia đình sẽ có ít sức ép về trách nhiệm kếtoán hơn so với các doanh nghiệp cổ phần mà cổ phiếu của nó được đại chúng
- Hệ thống luật pháp: Hệ thống luật pháp cũng ảnh hưởng đến hệ thống kếtoán Ở những nước, ví dụ như ở Pháp và Đức với luật La Mã (Luật Dân sự
- Civil Codes), hệ thống kế toán quy định một cách chi tiết hơn so với hệ thống kếtoán thống kế toán các nước Anh, Mỹ - những nơi mà chịu ảnh hưởng của luậtthông thường (Common Law)
Trang 211.1.3 Phân loại hệ thống kế toán trên thế giới
Có nhiều cách phân loại kế toán khác nhau căn cứ vào những tiêu thức phânloại khác nhau Một số cách phân loại hệ thống kế toán trên thế giới như sau:
-Phân loại kế toán căn cứ vào thời điểm ghi nhận doanh thu - chi phí;
-Phân loại hệ thống kế toán căn cứ vào quan điểm về sự tồn tại doanh nghiệp;
- Phân loại kế toán căn cứ vào phạm vi kinh tế kế toán phục vụ
Dưới đây, không trình bày cụ thể phân loại hệ thống kế toán theo tất cả cáccăn cứ nêu trên, chỉ đi sâu trình bày cụ thể việc phân loại hệ thống kế toán căn cứvào quan điểm về sự tồn tại doanh nghiệp, vì nó là cơ sở, nguồn gốc của nguyên tắc
kế toán theo giá trị hợp lý
Tiêu chuẩn để phân loại hệ thống kế toán của cách phân loại này là quanđiểm về sự tồn tại doanh nghiệp Theo căn cứ này, hệ thống kế toán được chia làmhai loại là: Kế toán tĩnh và Kế toán động
Kế toán tĩnh ra đời dựa trên nguồn gốc pháp lý thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX,
do các chuyên gia về luật phá sản xây dựng Luật này cho rằng sự tồn tại của cácdoanh nghiệp là không thể liên tục Do vậy, tại một thời điểm nào đó, theo định kỳ,phải tiến hành kiểm tra xem nếu như đem bán các tài sản hiện có thì số tiền thuđược đó có đủ khả năng thanh toán công nợ hay không
Từ nội dung cơ bản trên, nhận thấy các điểm đặc trưng của hệ thống kế toánnày như sau:
+ Tài sản phản ánh trên báo cáo tài chính được đánh giá theo giá thị trường;+ Khấu hao TSCĐ không có hệ thống mà căn cứ vào chênh lệch giá thịtrường và giá ghi sổ TSCĐ tại thời điểm đánh giá;
+ Các dịch vụ phi vật chất mà không cho phép bán một cách riêng rẽ, khôngđược vốn hóa, không ghi nhận như là một khoản tài sản mà được xác định là chi phísản xuất kinh doanh khi nó phát sinh
Kế toán động dựa trên cơ sở cho rằng doanh nghiệp là một thực thể tồn tạiliên tục và các bên sử dụng báo cáo tài chính cần biết được tình hình tài chínhdoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định cũng như kết quả kinh doanh định kỳ
Từ nội dung cơ bản trên, nhận thấy một số nét đặc trưng của hệ thống kếtoán động như sau:
Trang 22+ Tài sản được ghi nhận theo giá gốc (giá phí) cho đến khi nó được bán rangoài hoặc được vốn hóa trong sản phẩm hoặc dịch vụ bán ra ngoài;
+ TSCĐ được khấu hao căn cứ vào nguyên giá TSCĐ;
+ Các dịch vụ phi vất chất tùy theo có đủ điều kiện là tài sản hay không mà
có được vốn hóa, ghi nhận như là một tài sản hoặc được ghi nhận là chi phí định kỳ
1.1.4 Nguyên tắc tính giá và các loại giá sử dụng trong kế toán
1.1.4.1 Nguyên tắc tính giá
Việc tính giá dựa theo nguyên tắc: Việc xác định giá trị tài sản, công nợ phảitheo giá trị thực tế tại thời điểm phát sinh Với nguyên tắc này, tài sản hình thànhđược tính giá căn cứ trên số tiền hoặc tương đương tiền thực tế bỏ ra Trường hợp tàisản được hình thành từ một vật đền bù khác với tiền, thì chi phí được đánh giá theogiá trị tiền tương đương với vật đền bù đó Nguyên tắc này bảo đảm tài sản của đơn
vị phản ánh đúng với thực tế chi phí đã bỏ ra Tuy nhiên, có hạn chế là các báo cáo tàichính không phản ánh giá trị thị trường của tài sản mà chỉ phản ánh theo giá phí
Trên thực tế, có một số cách đo lường khác nhau được sử dụng ở mức độkhác nhau trong các kết hợp khác nhau trên báo cáo tài chính làm cho báo cáo tàichính có độ tin cậy cao hơn Các loại giá sử dụng trong kế toán được trình bày tạimục 1.1.4.2 dưới đây
1.1.4.2 Các loại giá sử dụng trong kế toán
Dưới đây là các loại giá thường được sử dụng trong kế toán
- Giá gốc Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc số qui đổi ra tiền đã trả,
hoặc theo giá trị hợp lý xác định tại thời điểm mua lại tài sản đó Công nợ được ghinhận theo số tiền thu được trong trao đổi nghĩa vụ hoặc một số trường hợp khác (ví
dụ như, thuế thu nhập doanh nghiệp), số tiền này được thể hiện bằng tiền mặt hoặc
số qui đổi ra tiền dự kiến phải trả trong một giao dịch bình thường
- Giá hiện hành Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc số qui đổi ra tiền
phải trả hoặc theo giá trị của tài sản tương tự tại thời điểm mua lại Công nợ đượcghi nhận theo số tiền hoặc số tương đương tiền cần thiết để thanh toán các nghĩa vụtheo yêu cầu tại thời điểm hiện hành
- Giá trị đánh giá lại Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc số qui đổi ra
tiền mà có thể thu được từ việc bán tài sản hoặc thanh lý tài sản cũ Công nợ được
Trang 23ghi nhận theo giá đánh giá lại, là số tiền hoặc tương đương tiền dự kiến phải trảtrong một giao dịch bình thường.
- Giá trị thực tế Tài sản được đánh giá theo giá trị thực tế của dòng tiền thu
được trong tương lại trong một giao dịch bình thường Công nợ được đánh giá theogiá trị dòng tiền phải trả trong tương lại để thanh toán các nghĩa vụ nợ trong mộtgiao dịch bình thường
Với lịch sử phát triển của kế toán và cơ sở giá trị ghi sổ từ thời cổ đại chođến ngày nay, nhận thấy rằng đây là một tiêu thức quan trọng bậc nhất để giúpngười quan tâm đến đối tượng kế toán hiểu được tình hình tài chính của đối tượng
đó Trong hầu hết các trường hợp, giá cả thị trường được căn cứ để làm cơ sở banđầu ghi sổ kế toán Khi đó, người ta có thể gọi giá cả thị trường là giá trị hợp lý củatài sản
Ngày nay, với đặc điểm của nền kinh tế hiện đại, doanh nghiệp có thể phásản hoặc trong quá trình hoạt động liên tục nhưng việc mua bán doanh nghiệp lạidiễn ra thường xuyên, không một quốc gia nào áp dụng chỉ đơn thuần mô hình kếtoán tĩnh hoặc mô hình kế toán động Hầu hết các quốc gia đều áp dụng mô hình kếtoán hỗn hợp, kết hợp giữa kế toán tĩnh và kế toán động Vì vậy, nguyên tắc giá phíđược áp dụng triệt để trong ghi nhận ban đầu Nhưng thị trường biến đổi liên tục,giá tài sản và công nợ của doanh nghiệp cũng biến đổi liên tục, doanh nghiệp cũngthay đổi chủ sở hữu liên tục nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán, nên saukhi ghi nhận ban đầu, nguyên tắc giá phí không còn đáp ứng được đầy đủ nhu cầuhiểu biết về tình hình tài chính tại một thời điểm của những người quan tâm Cũngkhông thể dùng giá thị trường để đánh giá vì giá thị trường biến đổi rất nhanh, từngngày, từng giờ, có khi từng phút Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu của những ngườiquan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp, xuất hiện một loại giá trị dùng để
phản ánh trên báo cáo tài chính, đó chính là giá trị hợp lý Trong nhiều trường hợp,
giá phí được coi là giá trị hợp lý, giá thị trường cũng được coi là giá trị hợp lý Giátrị hợp lý là một loại giá áp dụng trong kế toán để người quan tâm có thể tin tưởngđược tính minh bạch của báo cáo tài chính đó
- Giá trị hợp lý được hiểu là số tiền có thể nhận được từ việc bán một tài sản
hoặc số tiền phải trả để mua một khoản nợ mà hai bên tham gia giao dịch có sựhiểu biết lẫn nhau, trong một thị trường công bằng, không bị ép giá
Trang 241.2 Kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý trong Kế toán Quốc tế
Để phù hợp với tình hình phát triển của các nền kinh tế trên thế giới, từnhững năm 90 của thế kỷ 20, khái niệm giá trị hợp lý đã được vận dụng trong kếtoán quốc tế Từ đó đến nay, nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế đã được soạn thảo ápdụng theo hướng sử dụng nguyên tắc kế toán theo giá trị hợp lý Hệ thống chuẩnmực kế toán tài chính đã có riêng một chuẩn mực, đó là Chuẩn mực số 157 - Đolường giá trị hợp lý để áp dụng trong các trường hợp qui định sử dụng giá trị hợp lý
Từ ngày 01/01/2013, Chuẩn mực Lập và Trình bày Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) - Đo lường giá trị hợp lý đã có hiệu lực, là tiền đề cho các nước áp dụngIFRS và các nước khác tham khảo Kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý trong kếtoán quốc tế được trình bày dưới đây
Theo các Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS), Chuẩn mực Lập và Trình bày
Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), Chuẩn mực kế toán tài chính (FAS) thì: “Giá trị
hợp lý là giá mà có thể nhận được từ việc bán một tài sản hoặc trả tiền để chuyển giao một khoản nợ trong một giao dịch giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá".
Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Ủy ban chuẩn mực kếtoán tài chính (FASB), việc xác định giá trị hợp lý dựa trên 3 phương pháp: Phươngpháp tiếp cận thị trường, phương pháp thu nhập và phương pháp giá phí
Phương pháp tiếp cận thị trường: Giá cả thị trường quan sát được và các
thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để ước tính giá trịhợp lý của một tài sản, một khoản nợ phải trả Phương pháp này được dựa trên tiền
đề rằng một người tham gia thị trường sẽ không trả nhiều hơn chi phí để mua mộttài sản tương tự
Phương pháp thu nhập: Giá trị hợp lý của một tài sản hay một khoản nợ
được xác định bằng cách sử dụng các phương pháp kỹ thuật để quy đổi các khoảntiền trong tương lai về giá trị hiện tại (Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tàisản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ phải trả) Phương pháp này dựa trên tiền đềrằng một người tham gia thị trường sẵn sàng trả giá trị hiện tại của các lợi ích sẽ thuđược của một tài sản trong tương lai
Trang 25Phương pháp giá phí: Giá trị hợp lý của một tài sản được xác định trên cơ sở
xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về nănglực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản) Phương pháp chi phíthường không xem xét điều kiện thị trường nên thường không được sử dụng trongthực tế, ngoại trừ để xác định giá trị hợp lý của một phần máy móc thiết bị hoặc giátrị các công trình xây dựng cơ bản
Chuẩn mực kế toán tài chính đưa ra một hệ thống phân cấp giá trị hợp lýđược sử dụng để phân loại các nguồn thông tin được sử dụng trong các phép đo giátrị hợp lý, có nghĩa là dựa trên thị trường hay phi thị trường Các nguồn thông tinnày có thứ tự ưu tiên theo nguyên tắc: Sử dụng giá bán (mức giá mà tại đó tài sảnđược bán - hay có thể gọi là giá dự thầu) hơn là giá mua (mức giá mà tại đó tài sảnđược mua) không phân biệt tài sản đó dùng để đầu tư lâu dài hay để bán ngay; Sửdụng giá dựa trên thị trường chứ không phải với một đối tượng cụ thể
Hệ thống cấp bậc xếp hạng chất lượng và độ tin cậy của thông tin được sửdụng để xác định giá trị hợp lý với mức độ tin cậy giảm dần Với cấp 1, đầu vào làđáng tin cậy nhất và cấp 3, đầu vào là ít tin cậy nhất Thông tin dựa trên quan sáttrực tiếp các giao dịch liên quan đến tài sản và nợ phải trả cung cấp độ tin cậy cao,trong khi đó, đầu vào dựa trên các dữ liệu không quan sát được hoặc một tổ chứcbáo cáo của các giả định riêng về sự tham gia giả định thị trường sẽ ít nhất đáng tincậy Việc xác định giá trị hợp lý dựa trên nguyên tắc tài sản được sử dụng cao nhất
Trang 26Kế toán tài chính (FASB) đã xem xét và ban hành các hướng dẫn mới cho phép cácngân hàng được xác định giá trị theo mức giá mà chứng khoán sẽ được bán ra trongmột thị trường có trật tự chứ không phải là một thanh lý bắt buộc.
Thực tế, trong thời gian qua giá trị hợp lý được sử dụng trong các chuẩn mực
kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế với nhiều cách thức khác nhau gắnvới từng chuẩn mực cụ thể Dưới đây là các tổng kết khái quát việc sử dụng giá trịhợp lý trong các chuẩn mực kế toán (IAS), chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) hiện hành
Theo quy định của các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực Báo cáo tài chínhquốc tế hiện hành, giá trị hợp lý được vận dụng trong đánh giá và ghi nhận các yếu
tố của Báo cáo tài chính là khá phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng cơ sở giá trị hợp
lý có sự khác nhau trong từng tình huống, từng chuẩn mực cụ thể Có thể khái quátviệc sử dụng giá trị trong các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành theo một số khíacạnh nổi bật như sau:
1.2.1 Giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá và ghi nhận ban đầu
Giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá và ghi nhận ban đầu Đây là cách sửdụng khá phổ biến trong các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chínhquốc tế hiện hành Khi đó giá trị hợp lý của một tài sản hay một khoản nợ được ghinhân theo nguyên tắc sau:
Khi một tài sản được mua lại hoặc một khoản nợ được giả định trong mộtgiao dịch cho rằng tài sản, hay khoản nợ, giá giao dịch đại diện cho giá phải trả để
có được tài sản hoặc nhận được để thừa nhận khoản nợ (với giá mua) Ngược lại,giá trị hợp lý của tài sản hoặc khoản nợ đại diện cho giá mà có thể nhận được đểbán tài sản hoặc trả tiền để chuyển giao các các khoản nợ (giá bán) Khái niệm, giánhập và giá xuất là khác nhau Các đối tượng không nhất thiết phải bán tài sản theogiá trả tiền để có được chúng Tương tự như vậy, các bên không nhất thiết phải làchuyển giao các khoản nợ theo giá đã nhận được để thừa nhận chúng
Trong nhiều trường hợp, giá giao dịch sẽ bằng giá bán, do đó, nó đại diệncho giá trị hợp lý của tài sản hoặc các khoản nợ tại thời điểm ghi nhận ban đầu Khixác định một giá giao dịch đại diện cho giá trị hợp lý của tài sản hoặc khoản nợ theoghi nhận ban đầu, đơn vị báo cáo có trách nhiệm xem xét các yếu tố cụ thể cho các
Trang 27giao dịch, tài sản hay khoản nợ Ví dụ, một giá giao dịch có thể không đại diện chogiá trị hợp lý của tài sản, khoản nợ theo ghi nhận ban đầu nếu:
o Giao dịch là do các bên liên quan có quan hệ với nhau;
o Giao dịch xảy ra vì bị cưỡng ép hoặc người bán buộc phải chấp nhận giátrong giao dịch Ví dụ, có thể là trường hợp nếu người bán đang gặp khókhăn tài chính;
o Giao dịch được xảy ra chỉ với một đơn vị kế toán khác với đơn vị xác địnhgiá trị hợp lý đối với tài sản hay khoản nợ;
o Thị trường, trong đó giao dịch xảy ra được thực hiện tại thị trường chính haycòn gọi là thị trường thuận lợi nhất
Việc sử dụng giá trị hợp lý khi ghi nhận ban đầu cũng có những trường hợpkhác nhau
Trong đa số trường hợp, giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu tàisản được hình thành mà doanh nghiệp phát sinh các chi phí thực tế để mua hoặc sảnxuất (Giá trị hợp lý trong trường hợp này được sử dụng là giá gốc khi nhận banđầu) Các ví dụ điển hình cho trường hợp này là ghi nhận ban đầu: Nhà xưởng, máymóc, thiết bị; Bất động sản đầu tư; Tài sản sinh học; Tài sản thuê tài chính; Hợpnhất kinh doanh theo phương pháp mua
Trong một số trường hợp, giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu tàisản ngay cả khi giá gốc của tài sản tồn tại trong giao dịch Khi đó, chênh lệch giữa giátrị hợp lý và giá gốc được ghi nhận là lãi hoặc lỗ tại thời điểm ghi nhận ban đầu Ví
dụ điển hình cho trường hợp này là ghi nhận tài sản tài chính theo giá trị hợp lý quabáo cáo lãi lỗ theo quy định của IAS 39- Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường
1.2.2 Giá trị hợp lý được sử dụng sau ghi nhận ban đầu
Sau ghi nhận ban đầu, giá trị hợp lý được xác định tại mỗi thời điểm lập báocáo tài chính Việc sử dụng giá trị hợp lý sau ghi nhận ban đầu có các phương án:
1.2.2.1 Tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm lập báo cáo
Tại thời điểm lập báo cáo tài chính, tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lýtại bằng việc đánh giá lại và trình bày lại số dư tài sản và công nợ Việc đánh giá lạinày sẽ ảnh hưởng đễn sự tăng hay giảm của vốn chủ sở hữu nếu các tăng, giảm nàythoả mãn khái niệm về thu nhập và chi phí Theo một số khái niệm cụ thể về duy trì
Trang 28vốn, các thay đổi này sẽ được đưa vào vốn chủ sở hữu như một khoản điều chỉnhduy trì vốn hoặc đánh giá lại
Chuẩn mực IAS 36 - Tổn thất tài sản, với mục đích đảm bảo cho tài sản đượcghi nhận không thấp hơn giá trị có thể thu hồi cũng như qui định cách tính toán giátrị có thể thu hồi Theo chuẩn mực này, nếu có bằng chứng về sự giảm giá trị tàisản, doanh nghiệp phải đánh giá và xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản Sựgiảm giá trị của một tài sản được trình bày trên báo cáo tài chính là chênh lệch giữagiá trị còn lại và giá trị có thể thu hồi của tài sản đó Giá trị thu hồi là giá trị cao hơngiữa giá bán thuần và giá trị của tài sản đó trong sử dụng Tổn thất tài sản được ghinhận như một khoản giảm trừ giá trị còn lại tài sản và một khoản chi phí được trìnhbày trên báo cáo kết quả kinh doanh
Chi tiết đối với từng loại tài sản và công nợ như sau:
Đối với “Các khoản tiền và tương đương tiền”: Sau ghi nhận ban đầu, các
khoản tiền và tương đương tiền có gốc ngoại tệ, vàng bạc đá quí đều được qui đổitheo tỷ giá thị trường của nguyên tệ và đồng tiền hạch toán trên sổ kế toán Nhưvậy, các khoản tiền và tương đương tiền được đánh giá theo giá theo giá trị hợp lýtại thời điểm lập báo cáo
Đối với “tài sản tài chính ngắn hạn” như: Đầu tư chứng khoán được ghi
nhận theo giá trị hợp lý Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghinhận theo giá trị hợp lý (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, chênh lệch được ghi vào lãi lỗchưa thực hiện trên báo cáo lãi lỗ Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũngđược điều chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ
sở hữu trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ Các khoản đầu tưbằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu hao chiết khấu (phụtrội) Tuy nhiên, giá trị hợp lý của các loại chứng khoán này được xác định dựa vàomức độ hoạt động của thị trường sản phẩm đó
Đối với “Các khoản phải thu”: Các khoản phải thu của trên báo cáo tài chính
của doanh nghiệp phản ánh toàn bộ các khoản công nợ phải thu trong hoạt động củadoanh nghiệp Ngoài các khoản phải thu, bằng tiền nội tệ, các khoản phải thu khácbằng tiền ngoại tệ được qui đổi theo tỷ giá thực tế thời điểm lập báo cáo tài chính.Khi xác định được các khoản phải thu là khó đòi thì doanh nghiệp phải trích dự
Trang 29phòng phải thu khó đòi Dự phòng phải thu khó đòi được phản ánh vào báo cáo tàichính của doanh nghiệp Chính vì vậy giá trị các khoản phải thu phản ánh được gầnnhư đầy đủ các khoản lợi ích của doanh nghiệp đối với các khách hàng của mình,điều này cho thấy rằng các khoản phải thu trên báo cáo tài chính doanh nghiệp đượccoi là đã được phản ánh theo giá trị hợp lý.
Đối với “Hàng tồn kho”: Hàng tồn kho của doanh nghiệp như: hàng đang đi
đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thànhphẩm, hàng hóa, hàng gửi bán Để đảm bảo giá trị của hàng tồn kho, chuẩn mực kếtoán quốc tế qui định, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, hàng tồn kho được phản ánhtheo giá trị thuần có thể thực hiện được Trường hợp trên thị trường, hàng tồn khođang có giá bán thấp hơn giá ghi sổ thì doanh nghiệp phản ánh dự phòng giảm giáhàng tồn kho trên báo cáo tài chính, dẫn đến khoản mục này có thể coi là đã đượcphản ánh theo giá trị hợp lý Trường hợp trên thị trường, hàng tồn kho đang có giábán cao hơn giá ghi sổ thì các khoản này được giữ nguyên theo giá gốc ban đầu
Đối với các “Tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp” thu hoạch từ các tài
sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng ước tính trênbáo cáo tài chính doanh nghiệp
Đối với “Tài sản cố định”: Mục này phản ánh giá trị tài sản cố định hữu
hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính và giá trị khấu hao luỹ kếcủa các loại tài sản này Sau ghi nhận ban đầu, chuẩn mực kế toán quốc tế cho phépdoanh nghiệp được lựa chọn một trong hai phương pháp: Phương pháp thứ nhất là
Phương pháp chuẩn (phương pháp giá gốc): Tài sản cố định được theo dõi theo giá
trị còn lại xác định bằng nguyên giá trừ đi giá trị khấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất
luỹ kế Phương pháp thứ hai là: Phương pháp thay thế (phương pháp đánh giá
lại): Tài sản cố định được theo dõi theo giá trị đánh giá lại bằng giá trị thị trường
của tài sản tại thời điểm đánh giá lại trừ đi giá trị khấu hao luỹ kế và giá trị tổn thấtluỹ kế
Trường hợp áp dụng Phương pháp chuẩn (phương pháp giá gốc):
- Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được ghi sổ theo giá gốc và khấu haocủa loại tài sản này được xác định theo ba phương pháp là: Khấu hao theo đườngthẳng, khấu hao theo số dư giảm dần và khấu hao theo số lượng sản phẩm Tại thời
Trang 30điểm lập báo cáo tài chính, giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình xác định bằngnguyên giá trừ đi giá trị khấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế Theo cách xácđịnh này thì giá trị còn lại của tài sản cố định hữu hình tại thời điểm lập báo cáo tàichính phụ thuộc vào giá ghi sổ ban đầu của tài sản và phương pháp khấu hao ápdụng và giá trị tổn thất lũy kế.
- Tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp bao gồm: Quyền sử dụng đất,quyền phát hành, bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vitính, giấy phép và giấy phép nhượng quyền, danh sách khách hàng, hạn ngạch nhậpkhẩu… Nguyên giá tài sản cố định vô hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệpphải bỏ ra để có được tài sản cố định vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào
sử dụng theo dự kiến Cũng giống như tài sản cố định hữu hình, khấu hao tài sản cốđịnh vô hình cũng áp dụng ba phương pháp Tại thời điểm lập báo cáo tài chính,giá trị còn lại của tài sản cố định vô hình xác định bằng nguyên giá trừ đi giá trịkhấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế Theo cách xác định này thì giá trị còn lạicủa tài sản cố định vô hình tại thời điểm lập báo cáo tài chính phụ thuộc vào giá ghi
sổ ban đầu của tài sản và phương pháp khấu hao áp dụng và giá trị tổn lũy kế
- Tài sản cố định thuê tài chính được ghi nhận bằng giá trị hợp lý của tài sảnthuê hoặc giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cộng với cácchi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính Hao mòntài sản cố định thuê tài chính thường được xác định theo thời gian thuê tài sản Tạithời điểm lập báo cáo tài chính, tiến hành xác định giá trị hợp lý của tài sản đi thuê.Khi tài sản đi thuê bị giảm giá, yêu cầu cần áp dụng theo chuẩn mực kế toán quốc tế
về tổn thất tài sản
- Đối với Bất động sản đầu tư: Bất động sản đầu tư gồm quyền sử dụng đất,nhà, hoặc một phần của nhà, hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữuhoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thulợi nhuận từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để (a) sử dụng trongsản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc(b) bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường Nguyên giá của bất động sảnđầu tư được ghi nhận theo giá gốc Trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá hay cho
Trang 31thuê hoạt động, doanh nghiệp phải trích khấu hao bất động sản đầu tư, thời gian vàphương pháp khấu hao tương tự như các bất động sản chủ sở hữu cùng loại
Trường hợp áp dụng Phương pháp thay thế (phương pháp đánh giá lại):
- Tài sản cố định hữu hình: Tại thời điểm lập báo cáo tài chính, giá trị còn lạicủa tài sản cố định hữu hình xác định bằng nguyên giá theo đánh giá lại trừ đi giá trịkhấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế Theo cách xác định này thì giá trị còn lạicủa tài sản cố định hữu hình tại thời điểm lập báo cáo tài chính phụ thuộc vào giá trịđánh giá lại của tài sản và phương pháp khấu hao áp dụng và giá trị tổn lũy kế
- Tài sản cố định vô hình: Tại thời điểm lập báo cáo tài chính, giá trị còn lạicủa tài sản cố định vô hình xác định bằng nguyên giá theo đánh giá lại trừ đi giá trịkhấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế Theo cách xác định này thì giá trị còn lạicủa tài sản cố định vô hình tại thời điểm lập báo cáo tài chính phụ thuộc vào giá trịđánh giá lại của tài sản và phương pháp khấu hao áp dụng và giá trị tổn lũy kế.Chuẩn mực kế toán quốc tế cũng qui định rằng: Doanh nghiệp nên ước tính giá trịthu hồi của những tài sản cố định vô hình ít nhất vào cuối mỗi năm tài chính, ngay
cả khi tài sản không có biểu hiện giảm giá trị trong trường hợp: Tài sản cố định vôhình không trong trạng thái sẵn sàng đưa vào sử dụng và tài sản cố định vô hình đãkhấu hao quá 20 năm tính từ ngày sẵn sàng đưa vào sử dụng
- Tài sản cố định thuê tài chính được ghi nhận bằng giá trị hợp lý của tài sảnthuê hoặc giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cộng với cácchi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính Hao mòntài sản cố định thuê tài chính thường được xác định theo thời gian thuê tài sản Tạithời điểm lập báo cáo tài chính, tiến hành xác định giá trị hợp lý của tài sản đi thuê.Khi tài sản đi thuê bị giảm giá, yêu cầu cần áp dụng theo chuẩn mực kế toán quốc tế
về tổn thất tài sản
- Đối với Bất động sản đầu tư: Tại thời điểm lập báo cáo tài chính, giá trị cònlại của bất động sản đầu tư xác định bằng nguyên giá theo đánh giá lại trừ đi giá trịkhấu hao luỹ kế và giá trị tổn thất luỹ kế Theo cách xác định này thì giá trị còn lạicủa bất động sản đầu tư tại thời điểm lập báo cáo tài chính phụ thuộc vào giá trịđánh giá lại của tài sản và phương pháp khấu hao áp dụng và giá trị tổn lũy kế
Trang 32Đối với “Các khoản đầu tư tài chính dài hạn” như: Đầu tư vào công ty con,
công ty liên kết, liên doanh, chuẩn mực kế toán quốc tế qui định áp dụng theo cácnguyên tắc kế toán sau:
- Các khoản đầu tư vào công ty con:
Trong Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ, các khoản đầu tư vào công tycon có thể trình bày theo:
Phương pháp giá gốc : Công ty mẹ ghi nhận ban đầu khoản đầu tư vào
công ty con theo giá gốc Sau ngày đầu tư, công ty mẹ được ghi nhận cổtức, lợi nhuận được chia vào doanh thu hoạt động tài chính theo nguyêntắc dồn tích Các khoản khác từ công ty con mà công ty mẹ nhận đượcngoài cổ tức và lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồi của cáckhoản đầu tư và được ghi giảm giá gốc khoản đầu tư
Phương pháp vốn chủ sở hữu : Khoản đầu tư vào công ty con được ghi
nhận ban đầu theo giá gốc Sau đó, vào cuối mỗi năm tài chính khi lập vàtrình bày báo cáo tài chính, giá trị ghi sổ của khoản đầu tư được điềuchỉnh tăng hoặc giảm tương ứng với phần sở hữu của công ty mẹ trong lãihoặc lỗ của công ty mẹ sau ngày đầu tư Cổ tức, lợi nhuận được chia từcông ty con được ghi giảm giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công tycon trên báo cáo tài chính Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công tycon cũng phải được điều chỉnh khi lợi ích của công ty mẹ thay đổi do có
sự thay đổi trong vốn chủ sở hữu của công ty con nhưng không đượcphản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty con Ví
dụ thay đổi trong vốn chủ sở hữu của công ty con có thể bao gồm nhữngkhoản phát sinh từ việc đánh giá lại TSCĐ và các khoản đầu tư, chênhlệch tỷ giá quy đổi ngoại tệ và những điều chỉnh các chênh lệch phát sinhkhi hợp nhất kinh doanh (khi mua khoản đầu tư)
“Tài sản tài chính sẵn sàng để bán” theo IAS 39: Áp dụng giá trị hợp lý để kếtoán các khoản đầu tư vào công ty con
Trong Báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ, các khoản đầu tư vào công
ty con có thể trình bày theo:
Trang 33 Phương pháp giá gốc : Công ty mẹ ghi nhận ban đầu khoản đầu tư vào
công ty con theo giá gốc Sau ngày đầu tư, công ty mẹ được ghi nhận cổtức, lợi nhuận được chia vào doanh thu hoạt động tài chính theo nguyêntắc dồn tích Các khoản khác từ công ty con mà công ty mẹ nhận đượcngoài cổ tức và lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồi của cáckhoản đầu tư và được ghi giảm giá gốc khoản đầu tư
“Tài sản tài chính sẵn sàng để bán” theo IAS 39: Áp dụng giá trị hợp lý
để kế toán các khoản đầu tư vào công ty con
- Các khoản đầu tư vào công ty liên kết:
Trường hợp nhà đầu tư có trình bày báo cáo tài chính hợp nhất thì trong báocáo tài chính riêng của nhà đầu tư, một khoản đầu tư vào công ty liên kết với bảnchất không phải là đầu cơ ngắn hạn thì có thể được trình bày theo:
Phương pháp giá gốc : Nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản đầu tư vào
công ty liên kết theo giá gốc Sau ngày đầu tư, nhà đầu tư được ghi nhận
cổ tức, lợi nhuận được chia vào doanh thu hoạt động tài chính theonguyên tắc dồn tích Các khoản khác từ công ty liên kết mà nhà đầu tưnhận được ngoài cổ tức và lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồicủa các khoản đầu tư và được ghi giảm giá gốc khoản đầu tư
Phương pháp vốn chủ sở hữu : Khoản đầu tư vào công ty liên kết được ghi
nhận ban đầu theo giá gốc Sau đó, vào cuối mỗi năm tài chính khi lập vàtrình bày báo cáo tài chính, giá trị ghi sổ của khoản đầu tư được điều chỉnhtăng hoặc giảm tương ứng với phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi hoặc lỗcủa công ty liên kết sau ngày đầu tư Cổ tức, lợi nhuận được chia từ công
ty liên kết được ghi giảm giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công ty liênkết trên báo cáo tài chính Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công ty liênkết cũng phải được điều chỉnh khi lợi ích của nhà đầu tư thay đổi do có sựthay đổi trong vốn chủ sở hữu của công ty liên kết nhưng không được phảnánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty liên kết Ví dụthay đổi trong vốn chủ sở hữu của công ty liên kết có thể bao gồm nhữngkhoản phát sinh từ việc đánh giá lại TSCĐ và các khoản đầu tư, chênh lệch
tỷ giá quy đổi ngoại tệ và những điều chỉnh các chênh lệch phát sinh khihợp nhất kinh doanh (khi mua khoản đầu tư)
Trang 34 “Tài sản tài chính sẵn có để bán” theo IAS 39 : Áp dụng giá trị hợp lý để kế
toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Trong Báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư, các khoản đầu tư vào công
ty liên kết có thể trình bày theo:
Phương pháp giá gốc : Nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản đầu tư vào
công ty liên kết theo giá gốc Sau ngày đầu tư, nhà đầu tư được ghi nhận
cổ tức, lợi nhuận được chia vào doanh thu hoạt động tài chính theonguyên tắc dồn tích Các khoản khác từ công ty liên kết mà nhà đầutưnhận được ngoài cổ tức và lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồicủa các khoản đầu tư và được ghi giảm giá gốc khoản đầu tư
“Tài sản tài chính sẵn sàng để bán” theo IAS 39: Áp dụng giá trị hợp lý
để kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
- Các khoản đầu tư vào công ty liên doanh:
Trong Báo cáo tài chính riêng của nhà đầu tư, các khoản đầu tư vào công tyliên doanh có thể trình bày như sau:
Phương pháp giá gốc : Nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản đầu tư vào
công ty liên doanh theo giá gốc Sau ngày đầu tư, nhà đầu tư được ghinhận cổ tức, lợi nhuận được chia vào doanh thu hoạt động tài chính theonguyên tắc dồn tích Các khoản khác từ công ty liên doanh mà nhà đầu tưnhận được ngoài cổ tức và lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồicủa các khoản đầu tư và được ghi giảm giá gốc khoản đầu tư
“Tài sản tài chính sẵn có để bán” theo IAS 39 : Áp dụng giá trị hợp lý để
kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên doanh
Trong Báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư, các khoản đầu tư vào công
ty liên kết có thể trình bày theo:
- Nhà đầu tư trong liên doanh mà không có quyền đồng kiểm soát, phải phảnánh phần vốn góp vào liên doanh lên báo cáo tài chính hợp nhất tuân thủ theo quiđịnh của IAS 39
- Trường hợp nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể trong liên doanh thì đượchạch toán theo IAS 28 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết”
Trường hợp trong cơ sở liên doanh đồng kiểm soát:
Trang 35 Phương pháp chuẩn (Phương pháp tỷ lệ) : Trong báo cáo tài chính hợp
nhất của mình nhà đầu tư cần hạch toán khoản vốn góp trong cơ sở kinhdoanh đồng kiểm soát theo tỷ lệ
Phương pháp thay thế (Phương pháp vốn chủ sở hữu): Nhà đầu tư cần
hạch toán khoản vốn góp trong cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát sử dụngphương pháp vốn chủ sở hữu
Đối với “các khoản phải trả”: Các khoản phải trả của doanh nghiệp phản ánh
toàn bộ các khoản công nợ phải trả trong hoạt động của doanh nghiệp Ngoài cáckhoản phải trả bằng tiền nội tệ, các khoản phải trả khác bằng tiền ngoại tệ được quiđổi theo tỷ giá thực tế tại thời điểm lập báo cáo tài chính Khi phát sinh sự giảm sút
về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ
nợ và đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó, doanhnghiệp tiến hành ghi nhận dự phòng phải trả cho phần nghĩa vụ đó trên báo cáo tàichính Dự phòng phải trả được phản ánh vào báo cáo tài chính cuối niên độ hay báocáo tài chính giữa niên độ Có thể coi các khoản phải trả được kế toán theo giá trịhợp lý
1.2.2.2 Tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí ước tính tại thời điểm bán
Tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí ước tính tại thời điểm bán
Ví dụ: Đánh giá và ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm thu được từtài sản sinh học theo IAS 41 - Nông nghiệp Chuẩn mực này đưa ra những tiêuchuẩn cho công tác kế toán các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp - hoạt độngquản lý sự biến đổi của những tài sản có tính chất sinh học (cây trồng, vật nuôi) thànhnhững sản phẩm nông nghiệp (sản phẩm thu hoạch từ những tài sản có tính chất sinhhọc của doanh nghiệp)
Doanh nghiệp chỉ được ghi nhận tài sản có tính chất sinh học hoặc sảnphẩm nông nghiệp khi doanh nghiệp kiểm soát được tài sản và chắc chắn thu đượcnhững lợi ích kinh tế trong tương lai đồng thời có thể xác định được giá trị hợp lýhoặc giá gốc của những tài sản này một cách đáng tin cậy Giá trị của những tàisản có tính chất sinh học được xác định khi ghi vào ngày lập báo cáo tài chínhtheo giá trị hợp lý trừ đi chi phí hoa hồng trả cho người môi giới hoặc người phân
Trang 36phối trên thị trường, trừ trường hợp giá trị hợp lý của tài sản không thể xác địnhđược một cách đáng tin cậy.
Giá trị các sản phẩm nông nghiệp được xác định theo giá trị hợp lý trừ đi chiphí hoa hồng tại thời điểm thu hoạch sản phẩm Khoản lãi từ việc ghi nhận ban đầutài sản sinh học theo giá trị hợp lý và những thay đổi trong giá trị hợp lý của tài sảnnày trong kỳ được phản ánh trên báo cáo lãi lỗ Tất cả những chi phí liên quan đếnnhững tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý được ghi nhận là chi phíkinh doanh khi nó phát sinh chứ không được coi là chi phí mua tài sản sinh học này
Sự thay đổi trong giá trị hợp lý của tài sản sinh học một phần là do sự thayđổi về mặt vật lý (ví dụ như sự tăng trưởng của vật nuôi ) và một phần do sự thayđổi trong giá bán đơn vị Chuẩn mực số 41 khuyến khích doanh nghiệp trình bàytách biệt đối với những thay đổi của các yếu tố này Việc xác định giá trị của sảnphẩm nông nghiệp theo giá trị hợp lý sẽ kết thúc tại thời điểm thu hoạch Từ sauthời điểm thu hoạch, doanh nghiệp sẽ áp dụng chuẩn mực hàng tồn kho đối vớinhững tài sản này
Những khoản trợ cấp vô điều kiện của chính phủ dành cho tài sản sinh họcđược xác định theo giá trị hợp lý được ghi nhận như khoản thu nhập khi doanh nghiêpchắc chắn sẽ nhận được khoản trợ cấp này
1.2.2.3 Giá trị hợp lý được sử dụng làm cơ sở để xác định giá trị đánh giá lại của
tài sản sau ghi nhận ban đầu
Giá trị hợp lý được sử dụng làm cơ sở để xác định giá trị đánh giá lại của tàisản sau ghi nhận ban đầu (Ví dụ: Xác định giá trị đánh giá lại của nhà xưởng, máymóc thiết bị theo mô hình đánh giá lại của IAS 16, tài sản vô hình theo IAS 38)
Để thực hiện công việc này, IAS 36 - Giảm giá tài sản ra đời với mục đíchnhằm đảm bảo tài sản của doanh nghiệp được ghi nhận không vượt quá giá trị
có thể thu hồi của chúng và cách xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản Chuẩnmực này áp dụng đối với những tài sản sau: Đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị, bấtđộng sản đầu tư được ghi nhận theo giá gốc, tài sản vô hình, lợi thế thương mại, cáckhoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh, những tài sảnđược ghi dổ theo giá trị đánh giá lại theo IAS 16 và IAS 38
Trang 37Theo chuẩn mực này, tại ngày lập bảng cân đối kế toán, doanh nghiệp phảixác định xem có dấu hiệu cho thấy tài sản bị giảm giá hay không Nếu phát hiện cónhững dấui hêụ này, doanh nghiệp phải tính toán giá trị có thể thu hồi của tài sản.Giá trị có thể thu hồi của tài sản được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bánước tính Phần chênh lệch giảm do đánh giá tài sản được ghi nhận như một khoảnchi phí trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3 Ghi nhận chênh lệch phát sinh đo sự biến động của giá trị hợp lý
Ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động của giá trị hợp lý Các khoảnchênh lệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thểđược xử lý theo các phương án:
- Ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi, lỗ (Ví dụ: Tài sản tàichính ghi nhận theo giá trị hợp lý qua báo cáo lãi lỗ, bất động sản đầu tư,tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp)
- Ghi nhận điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cânđối kế toán (Tài sản tài chính nắm giữ để bán)
- Ngoài ra, các khoản chênh lệch giá đánh giá lại được tính trên cơ sở giátrị hợp lý (áp dụng với nhà xưởng máy móc thiết bị, tài sản vô hình) được
xử lý theo nguyên tắc:
o Chênh lệch giá trị đánh giá lại của tài sản giảm (Do giá trị hợp lý giảm)được ghi nhận là chi phí trên báo cáo lãi, lỗ hoặc ghi giảm vốn chủ sởhữu nếu trước đó có phát sinh chênh lệch giá lại tăng đã được ghi nhậnvào vốn chủ sở hữu
o Chênh lệch giá đánh giá lại của tài sản tăng (Do giá trị hợp lý tăng) đượcghi nhận tăng vốn chủ sở hữu hoặc ghi nhận vào thu nhập nếu trước đó cóphát sinh chênh lệch giá đánh giá lại giảm đã được ghi nhận vào chi phítrên báo cáo lãi, lỗ
Trong hầu hết các trường hợp, việc sử dụng giá trị hợp lý trong đánh giá và ghinhận tài sản, nợ phải trả được quy định trong các chuẩn mực kế toán quốc tế đều kèmtheo điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về sự tồn tại của thị trường hoạt động củatài sản, nợ phải trả và doanh nghiệp có thể thu thập được thông tin từ thị trường mộtcách đáng tin cậy để áp dụng các phương pháp kỹ thuật xác định giá trị hợp lý Vì vậy,
Trang 38việc sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường và ghi nhận tài sản và nợ phải trả thườngđược xác định là một mô hình mà đơn vị báo cáo có thể lựa chọn Bên cạnh đó cácchuẩn mực còn quy định các mô hình định giá và ghi nhận thay thế như mô hình ghinhận theo giá gốc hoặc mô hình ghi nhận theo giá gốc được phân bổ.
Trên đây là tóm tắt các qui định về kế toán giá trị hợp lý theo các Chuẩn mực
kế toán quốc tế, chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế Các chuẩnmực riêng biệt đòi hỏi nhiều thước đo giá trị hợp lý Sự khác nhau trong các hướngdẫn tạo nên sự mâu thuẫn và thêm vào sự phức tạp trong việc áp dụng các nguyêntắc kế toán chung được chấp nhận Để tăng tính thống nhất và khả năng so sánhtrong các qui định về thước đo giá trị hợp lý và mở rộng các qui định về thước đogiá trị hợp lý, tháng 9 năm 2006, Ủy ban Chuẩn mực kế toán tài chính đã ban hànhChuẩn mực kế toán tài chính số 157 - Đo lường giá trị hợp lý và các sửa đổi bổ sungsau đó Ngày 01/01/2013, Chuẩn mực Lập và Trình bày báo cáo tài chính số 13 -
Đo lường giá trị hợp lý có hiệu lực thi hành Nội dung cơ bản của chuẩn mực này
được trình bày dưới đây
1.2.4 Đo lường giá trị hợp lý theo Chuẩn mực Lập và Trình bày báo cáo tài chính số 13 (IFRS 13)
1.2.4.1 Phạm vi áp dụng
- Chuẩn mực này áp dụng trong trường hợp chuẩn mực khác yêu cầu hoặccho phép việc xác định giá trị hợp lý hoặc thuyết minh về việc xác định giá trị hợp lýtrên báo cáo tài chính
- Khung hướng dẫn cách xác định giá trị hợp lý được mô tả trong Chuẩn mựcnày áp dụng trong cả hai trường hợp đánh giá ban đầu hay đánh giá lại nếu cácchuẩn mực khác yêu cầu hay cho phép sử dụng giá trị hợp lý
1.2.4.2 Định nghĩa giá trị hợp lý
Giá trị hợp lý là giá có thể nhận được khi bán tài sản hoặc phải trả khichuyển giao một khoản công nợ trong một giao dịch bình thường giữa các bên thamgia thị trường tại ngày xác định giá trị giao dịch
Tài sản hay công nợ:
- Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho tài sản hoặc công nợ cụ thể.Nghĩa là, khi xác định giá trị hợp lý, doanh nghiệp nên xét đến các đặc tính của tài
Trang 39sản hoặc công nợ nếu các bên tham gia thị trường có cân nhắc đến những đặcđiểm này khi định giá tài sản hay công nợ tại thời điểm định giá Những đặc tínhnày bao gồm:
a Điều kiện hiện tại và vị trí của tài sản; và
b Hạn chế, nếu có, đối với việc mua bán hay sử dụng tài sản đó
- Ảnh hưởng của những đặc tính của tài sản đến việc xác định giá trị hợp lý sẽkhác nhau tùy thuộc vào cách thức mà các bên tham gia thị trường xem xét các đặctính đó khi xác địnhgiá tài sản
- Tài sản hay công nợ được xác định giá trị hợp lý có thể thuộc một trongnhững dạng sau:
(a) Tài sản hay công nợ độc lập (ví dụ: Công cụ tài chính hoặc tài sản phi tàichính); hoặc
(b) một nhóm tài sản hoặc một nhóm công nợ hoặc một nhóm tài sản và công nợ
- Cho mục đích ghi nhận và thuyết minh trên báo cáo tài chính, việc tài sảnhay công nợ là một tài sản hay công nợ độc lập, một nhóm tài sản hay công nợ hoặcmột nhóm tài sản và công nợ đều phụ thuộc vào đơn vị khoản mục của chúng
(a) Thị trường chính cho loại tài sản hay công nợ đó; hoặc
(b) Thị trường tối ưu nhất nếu không tồn tại thị trường chính
1.2.4.3 Các bên tham gia thị trường
Doanh nghiệp phải xác định giá trị hợp lý của một tài sản hoặc công nợ vớigiả định rằng các bên tham gia thị trường cũng sẽ sử dụng giá trị hợp lý khi định giátài sản hoặc công nợ, với điều kiện rằng các bên tham gia thị trường sẽ hành độngvới lợi ích kinh tế cao nhất có thể đạt được
Trang 40Mức giá giao dịch
Giá trị hợp lý là mức giá thu được khi bán hay thanh lý tài sản hay số tiềnphải trả khi chuyển nhượng một khoản nợ trong giao dịch tự nguyện trên thị trườngchính (thị trường tối ưu nhất) tại thời điểm xác định giá trị trong điều kiện thịtrường hiện tại (giá bán) bất kể mức giá đó là có thể quan sát được hoặc được ướctính sử dụng phương pháp định giá khác
Áp dụng cho tài sản phi tài chính
Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản phi tài chính cần xem xét đến khảnăng một bên tham gia thị trường có thể tạo ra được các lợi ích kinh tế bằng cách sửdụng tài sản đó với tần suất cao nhất và tốt nhất hoặc bán tài sản đó cho một bêntham gia thị trường có khả năng sử dụng tài sản với tần suất cao nhất và tốt nhất.Cách thức sử dụng tài sản phi tài chính với tần suất cao nhất và tốt nhất giúp đưa racác tiền đề về định giá phục vụ cho việc xác định giá trị hợp lý của tài sản đó
Áp dụng cho nợ phải trả và công cụ vốn của một doanh nghiệp
- Việc xác định giá trị hợp lý giả định rằng một khoản nợ tài chính hoặc phitài chính hay công cụ vốn của một doanh nghiệp (ví dụ tỷ lệ phần sở hữu phát hànhkhi hợp nhất kinh doanh) được chuyển giao cho một bên tham gia thị trường tại thờiđiểm xác định giá trị Việc chuyển giao nợ phải trả hoặc công cụ vốn của một doanhnghiệp giả định những yếu tố sau:
(a) Khoản công nợ đó vẫn chưa được thanh toán và bên tham gia thị trườngnhận chuyển nhượng khoản công nợ sẽ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả
nợ Khoản công nợ này sẽ không được thanh toán cho chủ nợ hoặc hủy
bỏ tại thời điểm xác định giá trị
(b) Công cụ vốn của một doanh nghiệp vẫn còn hiệu lực và bên tham gia thịtrường nhận chuyển nhượng sẽ có quyền và nghĩa vụ gắn với công cụ đó.Công cụ vốn này sẽ không bị hủy bỏ hoặc chấm dứt tại thời điểm xácđịnh giá trị
- Trong trường hợp không có giá chuyển nhượng một công nợ hoặc công cụvốn cùng loại hoặc tương tự trong khi một công nợ hoặc công cụ vốn cùng loạiđang được nắm giữ bởi một bên khác dưới dạng tài sản, doanh nghiệp cần xác địnhgiá trị hợp lý của công nợ hoặc công cụ vốn từ góc độ của bên tham gia thị trường